bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
viện khoa học thủy lợi
báo cáo tổng kết chuyên đề
Năng lợng gió
thuộc đề tài kc 07.04:
nghiên cứu, lựa chọn công nghệ và thiết bị để khai thác và
sử dụng các loại năng lợng tái tạo trong chế biến nông,
lâm, thủy sản, sinh hoạt nông thôn và bảo vệ môi trờng
Chủ nhiệm đề tài: kS dơng thị thanh lơng
5817-13
16/5/2006
Tp.HCM 12/2003
http://www.ebook.edu.vn
LỜI MỞ ĐẦU
- 1 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số đang sống và
làm việc tại nông thôn. Trong đó khoảng 47% sống ở các đồng bằng sông
Hồng và sông Cửu Long với tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản, rừng
biển to lớn. Do đó nông thôn luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Để thúc đẩy sự phát triển của các
ngành kinh tế, nâng cao dân trí, giảm tỷ lệ gia tăng dân số…Nhà nước đã có
để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn năng lượng gió phục vụ sản xuất
và sinh hoạt cho các vùng nông thôn Việt Nam.
Với mục tiêu này, đề tài nhánh phần “Năng lượng Gió” đã tiến hành
việc phân tích một cách có hệ thống các yếu tố về tiềm năng gió, về nhu cầu
năng lượng phục vụ sản xuất và đời sống của các vùng nông thôn Việt Nam
cũng như trình độ công nghệ để tìm ra các vấn đề tồn tại trong thiết kế và công
nghệ chế tạo nhằm đưa ra những mẫu thiết bò thích hợp có khả năng ứng dụng
trong thực tế sản xuất và đời sống.
Để nâng cao chất lượng công việc trong nghiên cứu, thiết kế đề tài đã
tập hợp được một đội ngũ chuyên gia liên ngành như: điện – điện tử, công
nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá, công nghệ chế tạo máy và vật liệu
mới…
Trong quá trình nghiên cứu đề tài cũng tập trung nghiên cứu kỹ các tài
liệu trong và ngoài nước, tiến hành lựa chọn một cách có chọn lọc những mẫu
nghiên cứu phù hợp với điều kiện công nghệ và chế độ gió Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu và các công việc chính của đề tài :
1. Nghiên cứu các tài liệu kỹ thuật, phân tích mẫu mã của nước ngoài về
động cơ gió phát điện và bơm nước để thực hiện việc nghiên cứu mẫu.
2. Nghiên cứu lý thuyết, tính toán thiết kế các cấu thành cơ bản của động
cơ gió phát điện vận tốc chậm, động cơ gió phát điện quay nhanh, động
http://www.ebook.edu.vn
LỜI MỞ ĐẦU
- 3 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
•
Số cánh: B = 12
•
Lưu lượng nước: Q ≤ 40m
3
/h ở 8m/s
•
Cột áp: H ≤ 2m
3. Động cơ gió phát điện vận tốc chậm PD 280 – 3
•
Đường kính bánh xe gió: D = 2,8m
•
Vận tốc gió đònh mức: V = 8m/s
•
Số cánh: B = 3 ÷ 6
•
Công suất đònh mức: N = 300W ÷ 500W
4. Động cơ gió phát điện vận tốc nhanh PD 220 - 4
•
Đường kính bánh xe gió: D = 2,2m
•
Vận tốc gió đònh mức: V = 10m/s
•
Số cánh: B = 2 ÷ 4
•
Công suất đònh mức: N = 500W ÷ 1000W
đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ.
Hiệp hội Năng lượng Gió Hoa Kỳ (AWEA) dự đònh tới năm 2007
sẽ lắp đặt trên 4.000 MW. Còn mục tiêu của Hiệp Hội Năng lượng Gió
Châu Âu đến năm 2030, tổng công suất lắp đặt các tuabin gió lên đến
15.000MW.
Hiện nay, các hãng chế tạo động cơ gió hàng đầu trên thế giới
phần lớn thuộc về Châu Âu với hơn 80% thò phần.
Năm 1997, Các Hiệp hội Năng lượng Gió dự tính tổng công suất
lắp đặt trên toàn thế giới vào cuối năm 2001 sẽ là 11.400 MW nhưng
đến ngày 18/07/2001 tổng công suất lắp đặt trên toàn thế giới là 18.6100
MW. Riêng Châu Âu là 13.664 MW. Dưới đây là bảng thống kê công
suất lắp đặt động cơ gió của các nước trên thế giới tính đến ngày
18/07/2001
http://www.ebook.edu.vn
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 5 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
No Tên nước Tổng công suất lắp đặt (MW)
1 Germany 6.900
2 USA 2.568
3 Spain 2.567
RECTERRE Như đã thấy trên hình (1) sự tăng trưởng của việc lắp đặt các
tuabin gió từ 1998 là dấâu hiệu cho thấy ngày càng nhiều hơn các nước
quan tâm và đang phát triển việc sử dụng năng lượng gió.
Kết luận này hoàn toàn được củng cố bằng dự đoán về sự phát
triển năng lượng gió cho đến năm 2007. Theo dự đoán này , năng lượng
được sản xuất từ các tuabin gió có triển vọng tăng từ 32.037MW đến
hơn 83.000MW trên toàn thế giới đến năm 2007 [2].
Riêng ở Châu Âu, tới năm 2007, công suất được lắp đặt có triển
vọng tăng đến 58.000MW. Điều này có nghóa là sự phát triển năng
lượng gió hàng năm trên thế giới sẽ là 6.960MW/năm. Theo dự tính
trên, Châu Âu sẽ chiếm 68% tổng công suất lắp đặt trên toàn cầu.
Cũng trên hình 1 ta có thể thấy: công suất lắp đặt tích lũy từ WTs
(tuabin gió) ở Châu u là 23.832MW vào cuối năm 2002 và trên toàn
thế giới là 32.037MW. Như vậy cho thấy hiện nay Châu Âu nắm giữ 1
vai trò chủ chốt trong ngành công nghiệp năng lượng gió.
http://www.ebook.edu.vn
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 7 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
http://www.ebook.edu.vn
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 9 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
• Sự phát triển về công nghệ sản xuất tuabin gió [2]:
Bắt đầu từ những năm 1970, những cơ quan hàng không lớn trên thế giới
ngay từ đầu đã thử thiết kế những tuabin gió vài MW mà không đi theo con
đường mòn là nâng đường kính bánh xe gió lên từ từ và họ đã phạm phải sai
lầm khi nghó với trình độ công nghệ cao của họ sẽ thích hợp cho việc thiết kế
các động cơ gió.
Trong khi đó những người “tiên phong” trong lónh vực năng lượng gió
của thế giới đã đi bằng con đường khác :
Do thiếu trình độ công nghệ cao và đội ngũ kỹ sư quan trọng họ đã bắt
đầu bằng việc nghiên cứu những động cơ gió công suất nhỏ mà cũng đã đầy
khó khăn. Công nghệ bắt đầu là công nghệ mượn : dạng khí động từ sổ tay cũ
của NASA, cánh được thiết kế như cánh máy bay, thông số vật liệu từ cơ sở
của hàng không, hộp số, máy phát, hệ thống đònh hướng từ những động cơ gió
bơm nước cũ…
triển vọng lớn cho các quốc gia có tiềm năng gió ngoài khơi nhưng diện tích
đất liền bò hạn chế như Hà Lan, Đan Mạch…
Nếu trên đất liền nhà máy điện gió công suất vài chục MW được cho là
lớn thì đối với ngoài khơi nó là mức tối thiểu để đạt được hiệu quả. Với công
trình trên đất liền : thiết bò chiếm 75% kinh phí, còn ở ngoài khơi thiết bò chỉ
chiếm 40% vốn đầu tư; chi phí lớn nhất dành cho nền móng và nối với lưới
điện – Hơn nữa, khai thác và bảo trì cũng tốn kém hơn. Tuy nhiên, với cùng
công suất lắp đặt, sản lượng điện phát ra trên biển khơi sẽ lớn hơn nhiều so với
việc lắp đặt trên đất liền.
Trong 40 năm tới, nếu chương trình được thực hiện, người Đan Mạch có
thể tự hào là những người đầu tiên trên thế giới đã sản xuất ½ sản lượng điện
từ biển cả.
Với một nguồn than quá ô nhiễm, với một ý thức mạnh mẽ đối với vấn
đề môi trường, một tiềm năng về phong điện trên bờ bò hạn chế nhưng cực lớn
trên biển và một nền công nghệ về quạt gió có kỹ năng tốt nhất trên thế giới,
những điều kiện này đã hội tụ cho Đan Mạch là quốc gia đứng đầu trong lónh
vực phong điện ngoài biển khơi.
Năm 1991, Đan Mạch đã lắp 11 động cơ gió của hãng BONUS (Đan
Mạch) với công suất 450 kW/ cái tại bờ biển phía nam Zeeland (chi phí cao hơn
lắp đặt trên đất liền 85%).
http://www.ebook.edu.vn
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 11 -
– 1995) Trung Quốc đã đầu tư kinh phí lớn cho việc nghiên cứu và phát triển
hàng loạt các các động cơ gió công suất nhỏ. Các chính quyền đòa phương đã
có những biện pháp khuyến khích sản xuất chế tạo và hỗ trợ giá. Phần lớn
những tuabin gió mini đang hoạt động ở Nội Mông được trợ cấp 20% kinh phí.
Đến cuối năm 2000 đã có khoảng 180.000 động cơ gió phát điện được
lắp đặt ở Trung Quốc. Trong số đó khoảng 80% ở Nội Mông. Khả năng hàng
năm Trung Quốc có thể sản xuất 20.000 cái. Nếu tính về khả năng sản xuất và
số lượng những động cơ gió phát điện công suất nhỏ đã được lắp đặt thì Trung
Quốc hiện đang giữ vò trí hàng đầu trên thế giới.
Hiện Trung Quốc có khoảng 10 nhà máy sản xuất động cơ gió. Trong
đó, điển hình là nhà máy SLMW. Khả năng sản xuất của nhà máy này là
10.000 động cơ gió trong 1 năm. Các động cơ gió nhỏ này được bán cho không
chỉ 24 đòa phương mà còn xuất khẩu sang 22 nước khác nhau như : Indonesia,
Thụy Điển, Mông Cổ, Đức và Thái Lan… [3]
http://www.ebook.edu.vn
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 12 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
Năm 1988 nhà máy SAHMF đã hợp tác với Công ty SVIAB (Thụy Điển)
để nhập công nghệ chế tạo các động cơ gió 100W, 300W, 500W và 750W đáp
ứng được thò trường trong nước và xuất khẩu.
công nghệ chưa được hoàn chỉnh, bò hạn chế đối với những
giếng có chiều sâu lớn.
c./ Loại giá thành thấp :
Thiết kế đơn giản, có thể chế tạo tại đòa phương với các phương
tiện đơn giản từ các vật liệu rẻ tiền của đòa phương
• Ưu điểm : vốn ban đầu thấp, có khả năng sử dụng vật
liệu đòa phương.
• Khuyết điểm : yêu cầu bảo dưỡng cao, tuổi thọ thấp,
giá thành nước cao.
http://www.ebook.edu.vn
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 13 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
Hiện nay có khoảng 100 hãng sản xuất động cơ gió bơm nước trên
thế giới. Các hãng sản xuất ở các nước có truyền thống như Mỹ, c,
Nam Phi, Tây Ban Nha vẫn còn sản xuất các loại bơm gió thế hệ đầu
tiên ( trước 1850). Trên thế giới có khoảng 20% động cơ gió bơm nước
được sản xuất tại các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc,
Kênia, Nam Phi, Bắc Phi, Indonesia, Philippines, Srilanka, Achentina…
Cho tới nay Ấn Độ được đánh giá là một trong những quốc gia
điển hình trong việc nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất kinh doanh
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
- 14 -
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
khẩu các thiết bò nước ngoài, cải tiến cho phù hợp và sản xuất trong
nước hoặc cộng tác với công ty nước ngoài để sản xuất trong nước.
§ 1 – 2 Trong nước Có thể nói Việt Nam khởi đầu việc nghiên cứu năng lượng gió không
muộn hơn nhiều quốc gia Châu Á khác. Việc nghiên cứu năng lượng gió được
đề xuất 1972 tại Bộ Đại Học và đến năm 1974 đã thành lập nhóm nghiên cứu
đầu tiên về phong điện. Việc nghiên cứu năng lượng gió ở nước ta có thể chia
thành những thời kì sau:
•
Năm 1975-1978:
Nhóm đề tài liên bộ (Bộ Đại Học – Bộ Giao Thông Vận Tải) động
cơ gió sạc bình accu công suất 1,5kW với đường kính 5m và đã lắp đặt thử
nghiệm tại ty Bảo Đảm Hàng Hải – Hải Phòng, sau một vài năm thì ngừng
hoạt động.
Năm 1976: Chi cục muối Nam Hà cũng lắp đặt 20 động cơ gió bơm
nùc với đường kính 3,6 m và số cánh là 6 để phục vụ việc sản xuất muối .
và do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chủ trì.
Trong thời gian này đã có thêm nhiều cơ quan tham gia nghiên cứu
về năng lượng gió như : Viện Kỹ Thuật Quân Sự (Bộ Quốc Phòng), Viện
Kỹ Thuật Giao Thông (Bộ Giao Thông Vận Tải), Trường Đại Học Cơ Điện,
Trường Đại Học Bách Khoa Tp. HCM, Trung tâm Phát Thanh và Truyền
Hình Tp. HCM, Xí nghiệp Cơ Khí 2-9 Tp. HCM.
Nhữõng cơ quan này đã nghiên cứu, thiết kế chế tạo và lắp đặt thử
nghiệm một số mẫu động cơ gió phát điện công suất nhỏ và động cơ gió
bơm nước. Tất cả những mẫu này chỉ mang tính chất thử nghiệm chứ chưa
triển khai được vào thực tế ứng dụng .
•
Từ năm 1990 đến nay:
Trung tâm Nghiên Cứu Thiết Bò Nhiệt và Năng Lượng Mới là cơ
quan duy nhất chủ trì thực hiện các dự án, đề tài cấp nhà nước về năng
lượng gió đã được đánh giá xuất sắc.
Đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu thiết kế chế tạo động cơ gió
bơm nước cột áp cao” – 1991.
Đề tài cấp nhà nước: “Động cơ gió phát điện vận tốc chậm” –
1992. Được Hội Đồng Bộ Trưởng khen thưởng.
Dự án P cấp nhà nước: “Dây chuyền chế tạo động cơ gió phát
điện công suất nhỏ sạc bình accu” – 1994.
Đề tài cấp Bộ: “ Động cơ gió trục đứng kiểu Darrieus” – 1994.
Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu khả năng ứng dụng Tổ Hợp Gió –
Diesel công suất 100kW”.
Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu khả năng điện khí hoá các vùng quần
đảo hải đảo Việt Nam bằng Tổ Hợp Gió – Diesel”.
Tham gia đề tài cấp nhà nước: “Giải pháp cung cấp điện cho vùng
sâu, vùng xa của ĐBSCL”.
Ngoài ra còn nhiều công trình dự án về năng lượng gió mà
RECTERE đã làm cho các tỉnh .
Nhìn lại khoảng thời gian qua ở Việt Nam, việc nghiên cứu năng
lượng gió được tiến hành theo 3 xu hướng sau:
1. Xu hướng tiến ngay vào thiết kế chế tạo động cơ gió có kích
thước và công suất lớn (10kW). Xu hướng này đã bò thất bại ngay
khi đang lắp đặt dở dang (động cơ gió 10kW ở Cần Giờ), hay
động cơ gió tại Cà Ná, Minh Hải, Đà Nẵng chỉ hoạt động trong
thời gian rất ngắn đã bò hỏng.
2. Xu hướng sao chép nguyên mẫu mã nước ngoài hoặc nhập thẳng
thiết bò và chỉ cần ứng dụng. Xu hướng này cũng đã được chứng
minh trong thực tế là không đạt kết quả tốt.
3. Xu hướng nghiên cứu phân tích các mẫu của nước ngoài, lắp đặt
thử nghiệm để cải tiến hay để xuất mẫu mã cho phù hợp với công
nghệ Việt Nam, chế độ gió và nhu cầu sử dụng.
Xu hướng thứ 3 đã được RECTERE kiên trì theo đuổi từ năm 1990
đến nay và thu được một số kết quả đáng khích lệ như PD 170-6 chính là
Nói chung cho đến nay, chúng ta mới đạt được một số kết quả nhất
đònh trong việc nghiên cứu triển khai các động cơ gió công suất nhỏ và
động cơ gió bơm nước. Trong vấn đề khai thác sử dụng năng lượng gió ở
quy mô công nghiệp điều quan trọng là phải tiến hành các nghiên cứu tiền
khả thi, tức là phải đo đạc tốc độ gió, hước gió, áp suất v.v… trong vòng ít
nhất là 1 năm bằng máy đo gió tự ghi.
http://www.ebook.edu.vn
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
- 18 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
phụ lục 1).
Trên quan điểm khai thác năng lượng gió thì các số liệu của khí tượng
thủy văn mới chỉ giúp chúng ta có một nhận đònh khái quát chung về trữ năng
và những hướng gió chính của từng khu vực. Còn việc lựa chọn những đòa điểm
cụ thể để việc lắp đặt động cơ gió một cách có hiệu quả và đặc biệt đối với
những động cơ gió công suất lớn (vài trăm kW trở lên) thì phải tiến hành đo
đạc với những thiết bò đo gió tự ghi. Các thiết bò này cho phép thu thập số liệu
gió 10 phút 1 lần.
Các số liệu của các trạm khí tượng thủy văn được lấy theo các obf. Mỗi
obf cách nhau từ 4-6 giờ. Theo kết quả nghiên cứu của W.A.M. Jasen {5} cho
thấy khoảng thời gian lấy trung bình tốc độ gió càng lớn thì giá trò của tổng
http://www.ebook.edu.vn
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
- 19 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERREnăng lượng gió tính toán giảm đi. Cũng theo kết quả nghiên cứu trong tài liệu
[4] thì tổng năng lượng tính toán với tập hợp tốc độ trung bình một giờ một và
ba giờ một so với tốc độ trung bình 10 phút 1 lần nhỏ hơn lần lượt là 5,3% và
10,6%. Còn nếu tập hợp tốc độ gió 6 giờ 1 lần thì sẽ nhỏ hơn tới 14,8%.
Sự chênh lệch này phụ thuộc vào mức độ dao động gió ở từng vùng, tốc
độ gió dao động càng nhiều thì độ chênh lệch càng lớn và ngược lại.
Như vậy với cùng tốc độ gió trung bình thì năng lượng sinh ra ở đồng
bằng Nam Bộ lớn gấp 1,3-1,5 lần so với đồng bằng Bắc Bộ.
Khu vực Tây Bắc và phần phía Bắc Trung Bộ có hệ số ảnh hưởng tương
đối lớn K = 3-3,5. Đặc biệt ở vùng Tây Nguyên phần lớn đều có K = 4-4,5, đây
cũng là khu vực có hệ số K lớn nhất lãnh thổ nước ta. Đòa hình càng phức tạp
http://www.ebook.edu.vn
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
- 20 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERREthì hệ số K càng lớn. Đối với Bắc Bộ, ở nửa miền đồng bằng nằm sâu trong đất
liền có mật độ năng lượng khoảng 300 – 500 kWh/m
2
, nửa miền về phía biển
có mật độ năng lượng khoảng 300 – 500 kWh/m
2
và tăng nhanh 500 – 900
kWh/m
2
từ miền duyên hải ra ven bờ.
Ở vùng đồng bằng Nam Bộ do đòa hình bằng phẳng, sông nước kênh
rạch thoáng đãng và biển bao bọc 2 phía nên mật độ năng lượng gió khá lớn, từ
300 – 500 kWh/m
Theo dự kiến về cơ bản chương trình điện khí hóa nông thôn ở nước ta
sẽ hoàn thành vào năm 2010 với khoảng 70% số hộ nông dân được sử dụng
điện lưới quốc gia. Như vậy, trên toàn quốc vẫn còn khoảng 30% số hộ dân ở
nông thôn vùng sâu, vùng cao, biên giới, hải đảo không thể có lưới điện quốc
gia. Do đặc điểm về đòa hình, nhu cầu năng lượng bò phân tán ( người dân sống
rải rác) và phụ tải điện bé với thu nhập thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, nhu
cầu năng lượng của người dân chỉ hạn chế ở việc thắp sáng, nghe đài, xem tivi
và thông tin liên lạc. Trong khi đó ở những vùng này lại có tiềm năng về gió
rất lớn vì vậy nhu cầu sử dụng các loại động cơ gió phát điện công suất nhỏ là
rất lớn.
http://www.ebook.edu.vn
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
- 21 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
• Nhu cầu về động cơ gió bơm nước:
Nước ta là nước nông nghiệp với khoảng 4,72 triệu ha đất trồng lúa; 1,24
triệu ha trồng cây lâu niên; 6,5 trồng cây ngắn hạn và nhu cầu tưới tiêu rất lớn.
Ngoài ra, nước ta còn rất nhiều khu vực nông thôn, miền núi và đặc biệt là
đồng bằng sông Cửu Long đang sử dụng nguồn nước mặt làm nguồn nước sinh
hoạt chính vì vậy rất ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân và cộng đồng. Đây
chất lượng của các sản phẩm nghiên cứu, đề tài cần tập hợp đội ngũ
chuyên gia trong các lónh vực trên.
http://www.ebook.edu.vn
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
- 22 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ
RECTERRE
• Tiếp cận trên cơ sở kế thừa có chọn lọc :
Việc nghiên cứu phát
triển các động cơ gió phát điện công suất nhỏ và các động cơ gió
bơm nước đã được các nước công nghiệp tiên tiến rất quan tâm, đặc
biệt nhằm mục đích giúp đỡ các nước đang phát triển. – Rất nhiều dự
án với nhiều mẫu mã thiết kế đã được lắp đặt tại các nước như :
Trung Quốc, Ấn Độ, Kenia, Nam Phi, Bắc Phi, Indonesia, Argentina,
Srilanka, Philippines v.v… Do vậy việc nghiên cứu, phân tích kỹ các
tài liệu của nước ngoài và nghiên cứu theo mẫu là rất quan trọng.
Việc chọn mẫu nghiên cứu phải dựa trên sự phù hợp về chế độ gió ,
nhu cầu sử dụng và điều kiện công nghệ – Bên cạnh đó cần phải
phối hợp với những kết quả nghiên cứu trong nước trước đây để tìm
ra các giải pháp tối ưu.
• Tiếp cận trên cơ sở phân tích xu hướng toàn cầu hóa :
Cho đến
nay chỉ có một số rất ít động cơ gió được nhập vào Việt Nam bằng
RECTERREtích các tài liệu kỹ thuật ngoài nước và trong nước là phương pháp rất quan
trọng. Nó sẽ giúp cho đề tài tiếp thu được những thành tựu mới và khắc phục
được những vấn đề còn tồn tại.
Thông qua mạng Internet, thông qua các đề tài các cấp, thông qua các
nghiên cứu thường xuyên, các quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức Quốc tế,
RECTERE đã thu thập được nhiều những tài liệu kỹ thuật, các tạp chí, các thiết
kế giúp cho việc triển khai nghiên cứu của đề tài.
2./ Phương pháp thu thập thông tin qua nghiên cứu mẫu :
Phương pháp này cho phép thu thập được nhiều thông tin tổng hợp bằng
trực quan. Song vấn đề quan trọng là lựa chọn mẫu nào để nghiên cứu và sử
dụng kỹ thuật nào để khảo sát mẫu. Cần nghiên cứu qua các thông tin và các
tài liệu kỹ thuật đã được thu thập để lựa chọn những mẫu phù hợp.
Để đánh giá lựa chọn mẫu mã của các thiết bò động cơ gió phát điện và
bơm nước cần tập trung vào những điểm chính sau đây :
• Số lượng và thời gian đã lắp đặt loại mẫu đó. Nó đánh giá
mức độ đón nhận của thò trường và đồng thời cũng nói lên chất
lượng của sản phẩm.
• Vận tốc gió khởi động - vận tốc gió đònh mức. Nó đánh giá
sự phù hợp với chế độ gió ở Việt Nam.
• Công suất đònh mức và lưu lượng nước nói lên sự phù hợp
với nhu cầu năng lượng của vùng nông thôn Việt Nam.
• Dạng profil cánh và vật liệu cánh. Phải lựa chọn xem nên
sử dụng loại profil cánh nào và loại vât liệu cánh nào để phù hợp