BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG
BÀI GIẢNG MÔN HỌC
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
(Phần 2)
Dùng cho hệ: Cao đẳng chuyên nghiệp
Chuyên ngành:
(Lưu hành nội bộ)
Người biên soạn: Hoàng Thị Nguyên
Bùi Thị Mai Anh
Người phản biện: Nguyễn Thị Minh Ngọc
Uông Bí, năm 2010
1
Chơng 6: kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
6.1. CHI PHí sản xuất, GIá THàNH SảN PHẩM Và NHIệM Vụ Kế
TOáN CHI PHí sản xuất Và TíNH GIá THàNH SảN PHẩM
6.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể khái quát với 3
giai đoạn cơ bản, có mới quan hệ mật thiết với nhau:
- Quá trình mua sắm,chuẩn bị các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh
doanh.
- Quá trình tiêu dùng, biến đổi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh
doanh một cách có mục đích thành kết quả cuối cùng.
- Quá trình tiêu thụ kết quả cuối cùng của qui trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự vận động, kết hợp, tiêu dùng, chuyển
đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo thành các sản phẩm, công việc, lao
vụ nhất định.
Trên phơng diện này, chi phí của doanh nghiệp có thể đợc hiểu là: Toàn bộ các
hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh
Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận trong
từng loại kế toán khác nhau:
+ Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí đợc nhìn nhận nh những khoản phí
tổn
phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt đợc một sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ nhất định. Chi phí đợc xác định bằng tiền của những hao phí về lao động
sống, lao động vật hóa trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn. Ví dụ khi
xuất kho vật t dùng vào sản xuất kinh doanh, tạo ra chi phí: gây ra sự giảm đi của giá
trị hàng tồn kho, gắn liền với sản xuất kinh doanh và đợc chứng minh bằng chứng từ
chắc chắn.
+ Trên góc độ của kế toán quản trị: Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung
cấp thông tin chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà
quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, đối với kế toán quản trị chi phí không chi đơn thuần
nhận thức chi phí nh kế toán tài chính, chi phí còn đợc nhận thức theo phơng thức
nhận diện thông tin ra quyết định: Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chi
phí cũng có thể là phí tổn ớc tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi khi lựa
chọn phơng án, bỏ qua cơ hội kinh doanh. Khi đó trong kế toán quản trị lại cần chú ý
đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, môi trờng kinh doanh hơn là chú
trọng vào chứng minh bằng các chứng cứ, chứng từ.
Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh
nghiệp vào đối tợng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình
sản xuất kinh doanh. Vì vậy để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi
ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi
phí đã chi ra đó cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành là bao
nhiêu ? Giá thành sản phẩm, lao vụ dịch vụ sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
trả lời đợc câu hỏi này.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống và
lao động vật hóa đợc tính trên một khối lợng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn
vào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm tính toán
xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng nh quy định của chế độ quản lý kinh tế
- tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Những quan điểm và quy định đó đôi khi không
hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm, đòi hỏi các nhà
quản trị doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ ràng đầy đủ dể sử dụng thông tin cho
thích hợp.
Trong công thức tính giá thành sản phẩm nêu trên, giá thành sản phẩm đợc hiểu là
giá thành sản xuất, chi phí bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chế
tạo sản phẩm; không bao gồm chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm và các
khoản chi phí liên quan đến hoạt động quản lý chung toàn doanh nghiệp.
Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp sẽ đợc tính trừ vào thu nhập của
số sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ để xác định kết quả.
6.1.2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh nghiệp trong việc tổ chức kế
toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
Chi phí và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu
kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với
doanh thu, kết quả ( lãi lỗ ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy đợc chủ doanh
nghiệp rất quan tâm.
Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học , hợp lý và
đúng đắn. Có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm. Việc
tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộ
phận, từng đối tợng , góp phần tăng cờng quản lý tài sản , vật t lao động, tiền vốn
một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ
thấp giá thành sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanh
nghiệp một u thế trong cạnh tranh.
Mặt khác giá thành sản phẩm còn là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để
đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ để xác
định kết quả kinh doanh kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm với nội dung chủ
yếu thuộc về kế toán quản trị, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý doanh
nghiệp. Song nó lại là khâu trung tâm của toàn bộ công tác kế toán ở doanh nghiệp, chi
những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh
nghiệp ra đợc các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất -
tiêu thụ sản phẩm.
6.2. PHÂN LOạI CHI PHí SảN XUấT KINH DOANH
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứ
khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng nh
phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải
đợc phân loại theo những tiêu thức phù hợp.
6.2.l. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hoạt động và công dụng kinh tế
Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp, căn cứ vào
công dụng kinh tế của chi phí thì chi phí sản xuất kinh doanh đợc chia thành:
6.2.1.1. Chi phí hoạt động chính và phụ
Bao gồm chi phí tạo ra doanh thu bán hàng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào chức năng - công dụng của chi phí, các khoản chi phí này đợc chia thành
chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
6.2.1.1. l. Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi
phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, lao
vụ dịch vụ trong một thời kỳ nhất định đợc biểu hiện bằng tiền.
5
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm:
a. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu đợc sử dụng trực
tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.
b. Chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lơng và các khoản phải trả trực tiếp cho
công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lơng của công nhân sản xuất nh kinh
phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. .
c. Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và
động về vốn nh: chi phí liên doanh, chi phí đầu t tài chính, chi phí liên quan cho vay
vốn, lỗ liên doanh l
b. Chi phí bất thờng:
Chi phí bất thờng là các chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ
bất thờng mà doanh nghiệp không thể dự kiến trớc đợc, nh: chi phí thanh lý,
nhợng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt, truy thu thuế
6
- Chi phí dịch vụ mua ngoài:
Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ yếu tố chi phí này giúp các nhà
quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ có liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị cung cấp tốt hơn.
- Chi phí khác bằng tiền:
Là các chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
ngoài các yếu tố chi phí nói trên. Việc nhận biết tốt yếu tố này góp phần giúp
các nhà quản trị hoạch định đợc lợng tiền mặt chi tiêu, hạn chế tồn đọng tiễn
mặt
6.2.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
6.2.2.1 Chi phí ban đầu
Chi phí ban đầu là các chi phí mà doanh nghiệp phải lo liệu, mua sắm ,
chuẩn bị từ trớc để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào tính chất kinh tế và hình thái nguyên thuỷ của chi phí, chi phí
ban đầu đợc xếp thành các yếu tố chi phí khác nhau, không kể chi phí đó phát
sinh ở địa điểm nào, dùng vào việc gì?
- Chi phí nguyên vật liệu:
Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên
vật liệu
dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí
nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ
đọng tiền mặt
6.2.2.2. Chi phí luân chuyển nội bộ
Chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí phát sinh trong quá trình phân công
và hợp tác lao động trong doanh nghiệp. Ví dụ: giá trị lao vụ sản xuất phụ cung
cấp lẫn nhau trong các phân xởng; giá trị bán thành phẩm tự chế đợc sử dụng
làm nguyên vật liệu trong quá trình chế biến khác trong doanh nghiệp
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý vĩ mô cũng nh đối
với quản trị doanh nghiệp. Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố chi phí đầu
vào là cơ sở để lập và kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh
theo yếu tố, là cơ sở để lập kế hoạch cân đối trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, cũng nh ở từng doanh nghiệp; là cơ sở xác định mức tiêu hao vật
chất, tính thu nhập quốc dân cho ngành, toàn bộ nền kinh tế.
6.2.3. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí
với các khoản mục trên báo cáo tài chính. (Theo mối quan hệ giữa chi phí
với thời kỳ tính kết quả kinh doanh).
6.2.3.1. Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm
hay quá trình mua hàng hóa để bán. Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản phẩm
bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản
xuất chung.
Khi sản phẩm hàng hóa cha đợc bán ra thì chi phí sản phầm nằm ở chi tiêu
giá vốn hàng tồn kho trong
đợc bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phí ''Giá vốn hàng bán'' trong báo cáo
kết quả kinh doanh và đợc bù đắp bằng doanh thu (thu nhập) của số sản phẩm hàng
hóa đã bán. Nh vậy sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải qua
nhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau.
8
Sơ đồ luân chuyển chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ
trong doanh nghiệp
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
Lợi nhuận thuần
trớc thuế thu nhập
DN
9
ở kỳ sau mà sản phẩm đợc tiêu thụ, không phải tính ở kỳ mà chúng phát sinh.
Chi phí sản phẩm phát sinh trong lĩnh vực sản xuất dới hình thức chi phí sản
xuất, sau đó chúng chuyển hóa thành giá trị sản phẩm dở dang, giá trị thành
phẩm tồn kho. Khi tiêu thụ chúng chuyển hóa thành giá vốn hàng bán đợc ghi
nhận trên báo cáo kết quả kinh doanh.
6.2.4. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khả năng quy nạp chi phí
vào các đối tợng kế toán chi phí. (theo phơng pháp quy nạp)
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh đợc chia thành 2 loại: Chi
phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tợng
kế toán tập hợp chi phí (nh từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt
hàng ); chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tợng chịu chi phí. Đối
với loại chi phí này thờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, chúng dễ nhận
biết và hạch toán chính xác, ví dụ nh Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp.
- Chi phí gián tiếp: Là các loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tợng kế
toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp đợc, mà phải
tập hợp, quy nạp cho từng đối tợng theo phơng pháp phân bổ gián tiếp.
Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tợng, doanh nghiệp cần phải
lựa chọn tiêu chuẩn phân bố phù hợp. Mức độ chính xác của chi phí phân bổ cho
từng đối tợng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ lựa
chọn. Vì vậy các nhà quản trị doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến việc lựa
chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí nếu muốn có những thông tin đúng đắn chân
thể là tỷ lệ thuận trong một phạm vi hoạt động nhất định. Chúng ta lu ý nếu xét
về tổng số, biến phí thay đổi tỷ lệ; Ngợc lại , nếu xét trên một đơn vị mức độ
hoạt động, biến phí là một đơn vị có thể hằng số. Trong một doanh nghiệp sản
xuất biến phí tồn tại khá phổ biến nh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí năng lợng Những chi phí này, khi mức độ của
hoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì chúng cũng gia tăng tỷ lệ thuận theo và
ngợc lại.
Tuy vậy nếu khảo sát tỷ mỷ hơn về biến phí, chúng ta nhận thấy chúng
không thuần nhất một hình thức tồn tại mà tồn tại dới nhiều hình thức khác
nhau:
- Biến phí tỷ lệ: là loại biến phí mà tổng chi phí quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp
với mức độ hoạt động, còn chi phí của một đơn vị hoạt động thì không thay đổi.
Thuộc loại chi phí khả biến này thờng có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, chi phí hoa hồng trả cho đại lý vv.
- Biến phí thay đổi không tỷ lệ thuận.
Đó là các loại biến phí mà xét về tổng số thì có tốc độ tăng nhanh hơn
tốc độ tăng của khối lợng hoạt động, vì vậy chi phí cho một đơn vị hoạt động
cũng tăng lên. Ngợc lại có một số loại chi phí khả biến về tổng số lại có tốc đọ
tăng chậm hơn tốc độ tăng của khối lợng hoạt động, khi đó chi phí cho một đơn
vị hoạt động lại giảm đi.
6.2.6.2. Chi phí bất biến (Định phí - chi phí cố định)
Định phí là những chi phí mà về tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về
mức độ hoạt động của đơn vị. Nếu xét tổng chi phí thì Định phí không thay đổi,
ngợc lại nết xét chi phí này trên một dợn vị khối lợng hoạt động thì nó tỷ lệ
nghịch với mức độ hoạt động. Nh vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động hay
không thì vẫn tồn tại định phí; Ngợc lại khi doanh nghiệp gia gia tăng mức độ
hoạt động thì định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần.
Mức độ hoạt động
y = ax
Tổng
phí
tuyệt
đối
Mức độ hoạt động
Mức độ hoạt động
y = B/x
Mức độ hoạt động
B
i
B
Định phí
cấp bậc
Định
phí
đơn vị
12
nào đó.
- Định phí không bắt buộc là các định phí có thể có thể đợc thay đổi nhanh
chóng bằng các quyết đinh của các nhà quản trị doanh nghiệp. Định phí không
bắt buộc thờng liên quan tới kế hoạch ngắn hạn và ảnh hởng đến chi phí của
doanh nghiệp hàng năm, có thể cắt bỏ khi cần thiết.
Việc phân chia định phí bắt buộc và không bắt buộc chỉ có tính chất tơng
đối, tuỳ thuộc vào nhận thức chủ quan của các nhsf quản trị doanh nghiệp. Có
những nhà quản trị nhìn nhận một khoản định phí nào đó là bắt buộc nên rất
ngần ngại khi ra quyết định điều chỉnh. Ngợc lại , có nhà quản trị lại cho rằng
định phí đó là không bắt buộc và có thể thờng xuyên xem xét và điều chỉnh khi
có điều kiện.
6.2.6.3. Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của định
phí và biến phí. Ví dụ ở một công ty thuê một xe ô tô để hoạt động với giá thuê
phơng pháp đơn giản và đợc áp dụng phổ biến. .
Phơng pháp cực đại, cực tiểu còn đợc gọi là phơng pháp chênh lệch,
phơng pháp này phân tích chi phí hỗn hợp dựa trên cơ sở đặc tính của chi phí
hỗn hợp, thông quạ khảo sát chi phí hỗn hợp ở mức cao nhất và ở mức thấp nhất.
Chênh lệch chi phí của hai cực đợc chia cho mức độ gia tăng của khối lợng
hoạt động để xác định mức biến phí. Sau đó loại trừ biến phí còn lại là định phí
trong chi phí hỗn hợp.
Ví dụ: Chúng ta quan sát chi phí điện năng của một đơn vị trong 6 tháng đầu năm N.
Tháng
Số giờ máy hoạt động(giờ)
Tổng chi phí điện
năng(đồng)
Tháng 1
500
2.250.000
Tháng 2
750
2.330.000
Tháng 3
1.000
2.500.000
Tháng 4
1.100
2.550.000
Tháng 5
950
2.470.000
Tháng 6
700
2.300.000
=
500 đ/h
14
về chi phí hỗn hợp có độ chính xác thấp, độ thích hợp kém hơn. .
Việc phân biệt định phí, biến phí, chi phí hỗn hợp, có ý nghĩa .quan trọng
trong việc thiết kế, xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí,
khối lợng và lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn cũng nh ra các quyết định kinh
doanh quan trọng. Mặt khác còn giúp các nhà quản trì doanh nghiệp xác định
đúng đến phơng hớng để nâng cao hiệu quả của chi phí.
6.2.7. Các nhận diện khác về chi phí
6.2.7.1. Chi phí hiểm soát đợc và chi phí không kiểm soát đợc
* Chi phí kiểm soát đợc là những chi phí mà các nhà quản trị xác định đợc
chính xác sự phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh chi phí
đó. Ngợc lại chi phí không kiểm soát đợc là những chi phí mà nhà quản trị
không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó, và không có thẩm quyền quyết
định đối với khoản chi phí đó:
Sự nhận diện đâu là chi phí kiểm soát đợc, đâu là chi phí không kiểm soát
đợc tùy thuộc vào hai nhân tố cơ bản.
- Đặc điểm phát sinh của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Sự phân cấp quản lý trong cơ cáu tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Việc xác định đâu là chi phí kiểm soát đợc, đâu là chi phí không kiểm
soát đợc là một vấn. đề quan trọng đối với các nhà quản trị, giúp các nhà quản
trị hoạch định đợc dự toán chi phí chính xác hơn, tránh bị động về vốn và tài
sản để đảm bảo cho các khoản chi phí. Mặt khác còn giúp các nhà quản trị đa
ra phơng hớng để tăng cờng chi phí kiểm soát dợc nh mở rộng, phát triển
các quy trình sản xuất kinh doanh có tỷ lệ định phí cao hơn, phân cấp quản lý chi
tiết rõ ràng hơn về những chi phí gián tiếp, phục vụ, quản lý sản xuất kinh doanh.
6.2.7.2. Các loại chi phí đợc sử dụng trong lựa chọn các phơng án
- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phơng án sản xuất kinh doanh này
mang lại lợi nhuận 15% hàng năm, nếu gửi vào Ngân hàng thì mỗi năm cũng thu
lãi 12%. Mức lợi nhuận này là chi phí cơ hội mà chúng ta phải tính đến khi
quyết định phơng án sử dụng vốn đó.
Nh vậy, ta thấy rằng khi đã lựa chọn một phơng án thì cũng có nghĩa là bỏ
cơ hội để thực hiện phơng án khác, mà phơng án bị loại bỏ cũng mang lại một
khoản lợi nhuận nhất định. Có bao nhiêu phơng án khác để lựa chọn thì cũng có
bấy nhiêu phơng án có khả năng thu đợc lợi nhuận ở mức độ khác nhau. Khi
đã lựa chọn một phơng án thì đành phải bỏ cơ hội thực hiện các phơng án
khác.
Vì vậy doanh nghiệp phải coi mức lợi nhuận cao nhất trong số các phơng
án có thể lựa chọn là chi phí cơ hội cho phơng án đợc chọn.
6.3. Tổ CHứC Kế TOáN CHI PHí SảN XUất
6.3.l. Đối tợng kế toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều
địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao
vụ khác nhau. Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết đợc các chi phí phát sinh
đó ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào Chính vì vậy chi phí sản xuất
kinh doanh phát sinh trong kỳ phải đợc kế toán tập hợp theo một phạm vi, giới
hạn nhất định. Đó chính là đối tợng kế toán chi phí sản xuất.
Đối tợng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi
phí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó. Xác định đối tợng kế toán chi phí
sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất. Thực chất
của việc xác định đối tợng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi
phí (phân xờng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ ) hoặc đối tợng chịu
chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng ).
Khi xác định đối tợng kế toán chi phí sản xuất trớc hết các nhà quản trị
phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ
chức sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản
xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp.
khác nhau nhất định.
- Xác định đối tợng kế toán chi phí sản xuất là xác định phạm vi, giới hạn tổ
chức kế toán chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
- Xác định đối tợng tính giá thành là xác định phạm vi, giới hạn của chi phí liên
quan đến kết quả sản xuất đã hoàn thành của quy trình sản xuất.
- Trong thực tế có những trờng hợp một đối tợng kế toán chi phí sản xuất lại
bao gồm nhiều đối tợng tính giá thành và ngợc lại.
Để thực hiện đợc đầy đủ chức năng kiểm tra và cung cấp thông tin về chi phí,
giá thành một cách đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời phù hợp với yêu cầu của các nhà
quản trị doanh nghiệp. Kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm phải thờng
xuyên xem xét tính hợp lý, khoa học của đối tợng kế toán chi phí sản xuất và đối
tợng tính giá thành đã xác định. Khi có sự thay đổi cơ cấu tổ chức sản xuất, quy trình
công nghệ, yêu cầu quản lý, trình độ hạnh toán Kế toán chi phí sản xuất cần phải xác
định lại phạm vi và giới hạn mà các chi phí cần tập hợp cho phù hợp.
6.3.2. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất đợc sử dụng trong kế toán chi phí
sản xuất để tập hợp và phân bổ chi phí cho từng đối tợng kế toán chi phí đã xác
định .
Tuỳ theo từng loại chi phí và điều kiện cụ thể, kế toán có thể vận dụng phơng
pháp tập hợp chi phí sản xuất cho thích hợp.
6.3.2.1. Phơng pháp tập hợp trực tiếp
Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên
quan trực tiếp đến từng đối tợng kế toán chỉ phí sản xuất riêng biệt. Do đó có
17
thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tợng riêng
biệt. Theo phơng pháp này chi phí sản xuất phát sinh đợc tính trực tiếp cho
từng đối tợng chịu chi phí nên đảm bảo mức độ chính xác cao. Vì vậy, cần sử
dụng tối đa phơng pháp này trong điều kiện có thể cho phép.
6.3.2.2. Phơng pháp phân bố gián tiếp
Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp 'chi phí sản xuất phát sinh liên
- Định mức chi phí vật liệu phụ cho sản phẩm A là 30.000 đ; sản phân B.là
40.000đ.
Quá trình phân bổ chi phí vật liệu phụ cho từng sản phẩm nh sau:
Hệ số phân bổ = = l, 05
- Chi phí vật liệu phân bổ cho:
+ Sản phẩm A = 200 x 30.000 x l,05 = 6.300.000
+ Sản phẩm B = 300 x 40.000 x 1,05 = 12.600.000
6.3.3. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa
thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế
tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ.
Khi phát sinh các khoản chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ vào
các phiếu xuất kho, các chứng từ khác có liên quan để xác định giá vốn của số nguyên
vật liệu dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm ( Theo phơng pháp tính giá vốn nguyên
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
18.900.000
200x30.000+ 300x40.000
18
vật liệu mà doanh nghiệp đã lựa chọn ). Trên cơ sở đó kế toán tập hợp chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp cho từng đối tợng kế toán chi phí sản xuất cũng nh từng đối tợng
sử dụng trong doanh nghiệp, công việc này thờng đợc thực hiện trong Bảng phân
bổ nguyên vật liệu
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK621: Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp.
Kết cấu TK621:
Bên nợ: Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản
phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ trong kỳ.
Bên có:- Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho
- Trị giá của phế liệu thu hồi ( nếu có )
NợTK611: Mua hàng ( phơng pháp kiểm kê định kỳ )
CóTK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
(5) Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm
, kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK154: Chi phí sản xuất dở dang.
19
NợTK 631: Giá thành sản xuất ( phơng pháp kiểm kê định kỳ )
CóTK621: : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
6.3.4. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm:
tiền lơng chính, tiền lơng phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lơng của công nhân sản xuất.
Chi phí về tiền lơng( tiền công ) đợc xác định cụ thể tuỳ thuộc hình thức
tiền lơng sản phẩm hay lơng thời gian mà doanh nghiệp áp dụng. Số tiền lơng
phải trả cho công nhân sản xuất cũng nh các đối tợng lao động khác thể hiện
trên bảng tính và thanh toán lơng, đợc tổng hợp, phân bổ cho các đối tợng kế
toán chi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lơng. Trên cơ sở đó các khoản trích
theo lơng ( Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) tính vào chi
phí nhân công trực tiếp đợc tính toán căn cứ vào số tiền lơng công nhân sản
xuất của từng đối tợng và tỷ lệ trích quy định theo quy chế tài chính hiện hành
của từng thời kỳ.
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
TK622:Chi phí nhân công trực tiếp.
Kết cấu TK622:
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ.
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sản
phẩm.
TK 331
(4) Cuối kỳ tính toán kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí nhân công trực tiếp
cho các đối tợng chịu chi phí để tính giá thành sản phẩm, kế toán ghi:
NợTK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
NợTK631:Giá thành sản xuất( Phơng pháp kiểm kê định kỳ )
Có TK 622 Chi phí nhân công trực tiếp
sơ đồ Kế Toán chi phí nhân công trực tiếp
6.3.5. Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho
quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xởng, bộ phận sản xuất. Chi
(1)
(2)
(3)
TK 338
TK 335
TK 334
TK 622
TK 154 (TK631)
(4)
21
phí sản xuất chung bao gồm:
- Chi phí nhân viên phân xởng: Phản ảnh chi phí liên quan phải trả cho
nhân viên phân xởng, bao gồm: Chi phí tiền lơng, tiền công, các khoản phụ
cấp lơng, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
tính cho nhân viên phân xởng, nh: Quản đốc phân xởng,nhân viên kinh tế,
thống kê, thủ kho phân xởng, nhân viên tiếp liệu, vận chuyển nội bộ
- Chi phí vật liệu: Phản ảnh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xởng,
nh vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dỡng TSCĐ thuộc phân xởng quản lý, sử
dụng, vật liệu dùng cho nhu cầu văn phòng phân xởng
- Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ảnh chi phí về công cụ, dụng cụ sản xuất
dùng cho phân xởng sản xuất nh khuân mẫu đúc, gá lắp, dụng cụ cầm tay
biến cho các đối tợng chịu chi phí.
- Chi phí sản xuất chung không đợc phân bổ, kết chuyển vào chi phí
sản xuất kinh doanh trong kỳ
Tài khoản 627 không có số d cuối kỳ và đợc mở 06 tài khoản cấp 2 để tập hợp
theo yếu tố chi phí:
22
- TK6271: Chi phí nhân viên
- TK6272: Chi phí vật liệu
- TK6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
- TK6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
- TK6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK6278: Chi phí khác bằng tiền.
Trình tự kế toán:
(1) Tập hợp chi phí nhân viên. Căn cứ Bảng phân bổ tiền lơng và các khoản
trích theo lơng kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK627: Chi phí sản xuất chung (6271)
CóTK334: Phải trả công nhân viên
CóTK338: Các khoản phải trả, phải nộp khác
(2) Tập hợp chi phí vật liệu. Căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ và các chứng
từ có liên quan khác (nếu có), kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK627: Chi phí sản xuất chung (6272)
CóTK152: Nguyên vật liệu
(3) Tập hợp chi phí dụng cụ sản xuất. Căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ
dụng cụ và các chứng từ có liên quan khác (nếu có), kế toán ghi sổ theo
định khoản:
NợTK627: Chi phí sản xuất chung (6273)
CóTK153: Công cụ, dụng cụ
CóTK142, 242: Chi phí trả trớc
(4) Tập hợp chi phí khấu hao TSCĐ. Căn cứ bảng tính và phân ảô khấu hao
TSCĐ, kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK631: Giá thành sản xuất ( Phơng pháp kiểm kê định kỳ)
CóTK627: Chi phí sản xuất chung
Phần chi phí sản xuất chung không phân bổ vào chi phí chế biến sản
phẩm, đợc ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Kế toán ghi
sổ theo định khoản:
NợTK632: giá vốn hàng bán
CóTK627: Chi phí sản xuất chung
sơ đồ Kế Toán chi phí sản xuất chung
6.3.6. Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất kinh doanh phụ
Bộ phận sản xuất kinh doanh phụ là các phân xởng, bộ phận sản xuất
cung cấp sản phẩm, lao vụ dịch vụ cho các phân xởng, bộ phận sản xuất chính
của doanh nghiệp hoặc một phần cung cấp phục vụ lẫn nhau và bán ra ngoài.
Đây là một bộ phận sản xuất phụ trợ của doanh nghiệp, đòi hỏi kế toán cần phải
TK 153 (142, 242)
TK 152
TK 334, 338
TK 627
TK 154 (631)
(7) CPSXC phân bổ
TK 214
TK 111,112,141,331
Chi phí nhân viên
(1)
Chi phí vật liệu
(2)
(3) Chi phí CCDC
Chi phí khấu hao TSCĐ
(4)
(5) và (6) chi phí dich vụ
mua ngoài, chi khác bằng tiền
theo từng PX nh bảng sau:
(Đơn vị tính: 1.000đ)
Khoản mục
PX sửa chữa
PX Vận tải
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
24.000
120.000
Chi phí nhân công trực tiếp
30.000
45.000
Chi phí sản xuất chung
6.000
25.800
Cộng
60.000
190.800
SPLD của phân xởng sửa chữa: đầu kỳ: 16.200 ; cuối kỳ: 6.000
Kết quả sản xuất:
- Phân xởng sửa chữa hoàn thành 5.000 giờ công sửa chữa trong đó phục
vụ cho
phân xởng vận tải 3.500 gìơ công, phục vụ sửa chữa TSCĐ của PX sản xuất
Giá thành
thực tế SP, lao
vụ từng PX,
bộ phận
Giá trị SPLD
đầu kỳ
Chi phí ban
đầu