Quy trình nuôi Ngao hoa (Paphya textile Gmelin,1791) và thu hoạch Tu hài (Lutraria philippinarum Deshayes, 1984) thương phẩm ” tại Công ty TNHH Đỗ Tờ - huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh. - Pdf 26

Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Nghiệp Hà
Nội, cùng các thầy cô giáo trong Bộ môn Nuôi Trồng Thủy Sản, Khoa Chăn
Nuôi-NTTS đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành tốt đợt thực tập giáo trình này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc Công ty TNHH Đỗ Tờ cùng
toàn thể cán bộ, công nhân viên trong công ty đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn
cho tôi trong suốt thời gian tôi thực tập tại công ty.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Trần Ánh Tuyết-Giáo viên phụ trách
thực tập đã quan tâm, hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực tập.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới tập thể lớp K54-NTTS đã luôn bên cạnh , động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Thời gian thực tập có giới hạn nên bài báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
cùng các bạn để em có được sự vững vàng hơn trong thực tiễn đồng thời bổ sung
thêm vốn kiến thức còn thiếu ở bản thân.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Lưu Thị Mây
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Nuôi trồng thủy sản của nước ta phát triển khá mạnh
mẽ. Trong đó: Hoạt động nuôi và khai thác động vật thân mền đang ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các địa phương ven biển và
được khẳng định là một nghề sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao và
từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, giải quyết
việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất nuôi động vật thân
mềm là rất quan trọng. Mặc dù chúng ta đã có công nghệ sản xuất giống đa số
đối tượng nhuyễn thể có giá trị kinh tế như: Sò, Hàu, Vẹm, Tu hài, Bào ngư,

Loài: Paphya textile Gmelin, 1791
2.Phân bố
- Ngao phân bố trên các bãi biển, trong các eo vịnh có đáy là cát pha bùn (cát
chiểm 60-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào. Ở nơi
đáy nhiều bùn ngao dễ bị chết ngạt ( Chú ý: đáy cát thuần ngao không sống
được vì khô và nóng).
- Ngao sống ở trung, hạ triều cho đến độ sâu tới 10m ở đáy biển.
3. Đặc điểm sinh học.
3.1 Hình thái cấu tạo của ngao
Vỏ dày chắc, hai vỏ bằng nhau, mặt vỏ có hoa vân, vòng đồng tâm hay tia phóng
xạ biến đổi rất lớn.
Khớp bản lề có 3 răng giữa và 2 răng bên. Vịnh màng áo nông, vết mép màng áo
rõ ràng.
Cơ khép vỏ có một đôi, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết cơ khép
vỏ sau lớn hình bầu dục.
Ngao có 2 vòi: Vòi nằm phía bụng là vòi nước vào, vòi nằm phía lưng là vòi
nước ra. Đầu các vòi thường có nhiều xúc tu.
Ngao thường vùi thân trong cát, thò vòi nước lên cát để tiến hành hô hấp, bắt
mồi và bài tiết.
Chân Ngao nằm phía bụng thường rất lớn dùng để đào cát. Cấu tạo chân gồm 3
lớp, trong đó thì 2 lớp ngoài có cấu tạo đơn giản, lớp thứ 3 có cấu tạo rất phức
tạp, ngoài là cơ vòng, trong là cơ ngang pha lẫn các cơ dọc và cơ vòng. Trong
các lớp cơ chân có tuyến chân phát triển
3.2 Điều kiện sinh thái
- Ngao là động vật nhuyễn thể rộng nhiệt. Thích nghi được với nhiệt độ từ 5-
35ºC, ở nhiệt độ 28-30ºC sinh trưởng tốt.
- Độ mặn từ 19 - 32‰. Ngao có sức chịu đựng tốt ở tỷ trọng cao, ở trọng 1,029
chỉ có một số ít bị chết. Trong môi trường tự nhiên nếu độ mặn biến đổi đột ngột
sẽ gây chết hàng loạt. Những vùng bị ảnh hưởng nước lũ kéo dài gây ảnh hưởng
lớn đến sinh trưởng của ngao, có thể gây chết hàng loạt. Những vùng này

Sức sinh trưởng của ngao có liên quan chặt chẽ với vùng phân bố có nhiều hay ít
mồi ăn, vùng cửa sông có nhiều thức ăn, hàm lượng oxy dồi dào, quá trình trao
đổi chất triễn ra mạnh, ngao thu nhận được nhiều thức ăn do đó ngao sinh
trưởng nhanh.
Ngao hoa khi lớn hết cỡ có thể đạt trọng lượng 60 – 70gram/con.
4. Tình hình nghiên cứu Ngao hoa (Paphya textile)
Tại Quảng Ninh, ngao hoa là đối tượng được khai thác tự nhiên. Ồ ạt săn tìm,
khai thác tự do không theo quy hoạch đã dẫn đến nguồn loài nhuyễn thể này
trong tự nhiên gần như cạn kiệt. Thuần hóa và nuôi thương phẩm ngao hoa
chính là cách làm giảm sức ép khai thác tự nhiên và từng bước khôi phục nguồn
đặc sản hiếm có.
Công nghệ sản xuất giống nhân tạo ngao hoa hiện đang trong quá trình nghiên
cứu, thử nghiệm tại Việt Nam.
Một số quốc gia khác: Đài Loan, Trung Quốc đã bắt đầu cho sinh sản nhân tạo
ngao hoa với số lượng lớn đã đáp ứng được nhu cầu con giống của đất nước họ.
Tuy nhiên, việc nhập khẩu ngao hoa giống với số lượng lớn về Việt Nam rất khó
khăn do chi phí nhập khẩu con giống cao, sự khác nhau về môi trường nuôi và
thời gian vận chuyển có ảnh hưởng lớn đến khả năng thích nghi, sinh trưởng,
vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, dịch bệnh khi nhập nội khó kiểm soát…
Ngao hoa chịu được thời tiết khắc nghiệt, kể cả khi nhiệt độ xuống thấp đến 7 -
8ºC.
Thời gian nuôi ngao hoa ngắn, chỉ bằng hơn một nửa so với nuôi tu hài, khoảng
10 tháng đến một năm đã cho thu hoạch, (nuôi tu hài từ 18 đến 24 tháng) bởi
vậy trên cùng diện tích, cùng một thời gian, nuôi ngao hoa mang lại nguồn lợi
gần gấp đôi nuôi tu hài. Con ngao không kén đất nuôi, có thể những bãi cát chất
lượng kém nuôi tu hài không còn hiệu quả cao, song nuôi ngao hoa vẫn tốt,
thậm chí ngao có thể sống được ở các bãi có lẫn bùn đất mà tu hài không tồn tại
được. Ngao hoa tận dụng được thức ăn thải ra của tu hài. Có thể nuôi ngao trên
bãi hoặc trong lồng, cách nuôi cũng tương tự như nuôi tu hài, năng suất nuôi
ngao hoa khá cao, trên một ha nuôi lồng mỗi con đạt trọng lượng từ 30 đến 50

Tham khảo các tài liệu có liên quan.
Từ những kiển thức được trang bị trong nhà trường.
III. Nội dung tìm hiểu
1. Vị trỉ địa lý - Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Công ty nằm trên hòn đảo Bánh Sữa (thuộc vịnh Bái Tử Long), huyện Vân Đồn
– tỉnh Quảng Ninh.
Tọa độ địa lý: 20º54’45” vĩ độ Bắc
107º21’45” kinh độ Đông
1.2. Điều kiện tự nhiên
1.2.1 Khí hậu
Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô từ tháng 11
– 4 năm sau.
1.2.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hàng năm: 22,6ºC.
Nhiệt độ nước trung bình: 19 - 27ºC.
1.2.3 Lượng mưa
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2200 – 2400mm
Mưa tập trung vào các tháng mùa hè, nhiều nhất từ tháng 7 – 8, tháng có mưa ít
nhất thường từ tháng 12 – 1 năm sau.
1.2.4 Thủy triều
Thuộc vùng có chế độ nhật triều. Trong một ngày đêm có một lần nước lên và
một lần nước xuống
Biên độ thủy triều dao động và có xu hướng giảm dần từ Bắc xuống Nam.
1.2.5 Sóng biển
Xung quanh có nhiều núi đảo che chắn xen kẽ nên ít khi có sóng to. Nhưng từ
tháng 6 – 9 do ảnh hưởng của bão và áp suất nhiệt đới có sóng to, độ cao lớn
nhất trung bình 0,8m.
1.2.6 Môi trường nước
Độ muối: Thay đổi theo mùa, cao nhất vào mùa khô từ tháng 11- 4 năm sau ( độ

Số liệu năm 2012:
- 1 Giám Đốc (Ông Đỗ Hữu Tờ)
- 2 Quản lý
- 1 Kế toán
- 4 Cán bộ kỹ thuật lầm việc trong phòng sản xuất giống Tu hài và nuôi tảo.
- 20 Công nhân đang làm việc trực tiếp tại công ty.
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tại Công ty TNHH Đỗ Tờ: Ngao hoa được nuôi theo hai hình thức đó là nuôi
thả bãi và nuôi lồng treo ngoài biển.
I.Nuôi theo hình thức thả bãi
Lựa chọn vị trí nuôi phù hợp là yếu tố quan trọng để nuôi ngao ngoài bãi thành
công.
1 Lựa chọn bãi nuôi
1.1. Vị trí địa lý
Các vùng triều có thể phân ra thành vùng cao triều, trung triều và hạ triều. Hầu
hết ngao được tìm thấy ở vùng trung triều trở xuống, nơi thường xuyên có thời
gian ngập nước kéo dài. Các vùng ít bị ảnh hưởng hoặc không có ảnh hưởng của
thủy triều sẽ không nuôi ngao được.
Vị trí nuôi phù hợp có nền đáy cát 80%,bùn 20%.
Chọn các bãi nuôi kín gió, nước sạch, xa khu vực dân cư, không có nước ngọt
đổ vào, nơi có độ sâu từ 2 – 3m, thấp nhất khi triều xuống 0,7 – 1m.
Vùng nuôi thuận lợi cho việc quản lý, chăm sóc, bảo vệ và đi lại.
Nguồn nước lưu thong, không bị ảnh hưởng của nước ngọt khi mưa bão.
1.2. Nguồn nước
Chọn nơi nguồn nước có độ mặn từ 29 - 32‰, nơi có hàm lượng oxy hòa tan
cao, thành phần thực vật phù du phong phú.
1.3. Chất đáy
Chọn bãi có đáy bằng phẳng ở vùng giữa triều, đáy là cát sỏi pha những mảnh
vụn của nhuyễn thể hoặc san hô.
2. Chuẩn bị bãi nuôi

ngao chết trong bãi để tránh làm ô nhiễm bãi nuôi.
5. Thu hoạch
Sau khoảng 15 tháng nuôi có thể tiến hành thu hoạch ngao. Thời gian thích hợp
nhất là cuối mùa xuân hoặc đầu mùa thu.
Để thu hoạch, dùng cọc gỗ đường kính 4 - 5cm, dài 50 - 70cm đóng trên mặt
bãi, mỗi cọc cách nhau khoảng 1,5m, sau một thời gian ngao sẽ tập trung xung
quanh cọc gỗ nên rất dễ thu hoạch. Cũng có thể dùng con lăn đá lăn qua lại trên
bề mặt bãi, ngao ở phía dưới do bị ép sẽ phun nước lên, từ chỗ có phun nước có
thể bắt ngao. Tuy nhiên, nếu nuôi mật độ cao thì phương pháp này thường
không hiệu quả. Khi nước triều rút gần cạn, cũng có thể dùng chân đạp nước, do
sức ép của dòng nước ngao sẽ trồi lên mặt bãi.
II. Nuôi thả lồng
1. Chuẩn bị lồng
Hinh4: Lồng nuôi ngao
Lồng có kích thước 30 x60 x15 cm, đáy lồng lót lưới, có đổ một lớp cát (cát là
mảnh vụn của nhuyển thể hoặc vỏ san hô ) với độ dày khoảng 3/4 so với chiều
cao của lồng.
Trên lồng có phủ một lớp lưới cố định gọi là lưới mặt, có tác dụng bảo vệ ngao
khỏi địch hại.
2. Thả giống
Hình 4: Sàng ngao giống
Hình 5: Thả giống Ngao hoa
Sau khi đã sàng lọc chọn những con ngao hoa chết địch hại ra khỏi lồng ương.
Giống được chứa trong thùng xốp có sục khí, vận chuyển giống lên bè để thả
lồng nuôi lên thương phẩm.
Giống cấp 2 thả với mật độ 250 – 300con/lồng.
Đối với giống cấp 3,thả với mật độ 145 – 150 con/lồng.
3. Cách thả giống
Dựa vào chế độ thủy triều để lên kế hoạch thả giống (thả giống vào những ngày
triều kém trong tháng).

- Vốn đầu tư cao.
- Yêu cầu kỹ thật cao hơn.
Nhận xét: Mỗi hình thức nuôi đều có những ưu nhược điểm riêng, do đó tùy
điều kiện sản xuất của từng vùng mà áp dụng hình thức nuôi cho phù hợp. Tuy
nhiên phương pháp nuôi lồng treo thả bãi được đánh giá cho hiệu quả kinh tế
cao hơn.
B. Tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854)
I. Vị trí phân loại và đặc điểm sinh học của Tu hài
1. Vị trí phân loại
Ngành: Molusca
Lớp: Bivalvia
Bộ: Veneroida.
Họ: Mactridae.
Giống: Lutraria
Loài: Lutraria philippinarum Reeve,1854
2. Đặc điểm phân bố
Trên thế giới: Tu hài phân bố ở các vùng biển ấm như Philippine, Australia và
vùng Bắc Mỹ
Việt Nam: Tu hài phân bố chủ yếu ở vùng Hạ Long, Bái Tử Long và xung
quanh các hòn đảo nhỏ tương đối xa bờ như phía Bắc đảo Cát Bà (Việt Hải,
Trân Châu), bãi Vạn Hà, Vạn Bội, Lão Vọng
3. Đặc điểm sinh học của Tu hài
3.1. Đặc điểm cấu tạo
- Vỏ khá đều nhau, chiều dài thân thường gấp đôi chiều cao. Tùy từng điều kiện
môi trường sống mà vỏ tu hài có màu sắc khác nhau: Vỏ bằng đá vôi màu trắng
hoặc có màu xám, vàng. Vỏ không có khả năng khép chặt như Ngao, Vẹm,
Trai…các gờ sinh trưởng khá rõ nét.
- Màng áo ngoài: Gồm hai tấm giáp liền với vỏ và bao phủ toàn bộ nội tạng, mở
ra ở phần bụng. Phần cuối phát triển tạo thành hai ống xả và hút. Mép màng áo
dày có khả năng vận chuyển cát khi đào hang.

vào ban ngày vào những ngày nước dòng là tốt nhất, ở những nơi bãi nuôi sâu
có thể dùng biện pháp lặn để thu hoạch.
Sau khi thu xong Tu Hài được rửa sạch, bảo quản tươi sống vận chuyển đến nơi
tiêu thụ.
Khi Tu hài đạt kích thước thương phẩm thì tùy từng hình thức nuôi mà có những
phương pháp thu hoạch hợp lý.
Đối với nuôi lồng treo: Dùng tay lật ngửa rổ, lắc nhẹ để cát lọt qua lưới, Tu hài
còn lại trên rổ hoặc tháo lưới mặt sau đó đổ toàn bộ lượng cát trong lồng ra
ngoài, sau đó dùng tay nhặt Tu hài và phân loại.
Đối với hình thức nuôi lồng ghép sát đáy: Khi thủy triều rút xuống dùng cào cào
thành từng đống nhỏ, sau đó nhặt và phân loại.
Phân loại Tu hài, những con chưa đạt kích thước thương phẩm thì giữ lại để
nuôi tiếp.
Những con đạt kích thước thương phẩm tiếp tục phân loại (I, II, III) cho vào
thùng xốp đưa lên xe lạnh ở nhiệt độ 18ºC, vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Thời
gian vận chuyển không quá 20 giờ.
- Chú ý: Nên thu theo nhu cầu của thị trường để tránh phải bảo quản với thời
gian lâu Tu hài sẽ gầy và hao hụt.
Hinh 7: Thu hoạch Tu hài
Hình 8: Tu hài thương phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status