GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
Nghiên cứu về thâm hụt tài chính ,, tiết kiệm quốc gia và tăng
trưởng kinh tế bền vững đối với các nền kinh tế mới nổi:
Cách tiếp cận bảng dữ liệu năng động GMM (GMM dynamic)
Antonino Buscemi
Đại học Rome Tor Vergata - ,, Khoa Kinh tế và Luật ,,
Rome, Italy. Email: antonino.buscemi @ uniroma2.it
Alem Hagos Yallwe
Đại học Rome Tor Vergata - ,, Khoa Kinh tế và Luật ,,
Rome, Italy. Email:
MỤC LỤC
TÓM TẮT
Các mô hình tăng trưởng tân cổ điển lập luận về tăng trưởng quốc gia bền vững cho
rằng công nghệ, tỷ lệ tiết kiệm ngoại sinh, tăng trưởng dân số và tiến bộ kỹ thuật
kích thích một mức tăng trưởng kinh tế cao hơn (Solow ,, 1956) Trái với lập luận
1
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
tân cổ điển, mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng ,, trong các lý thuyết tăng trưởng
nội sinh, khi chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tích lũy kiến
thức, nghiên cứu và phát triển, đầu tư công, phát triển nguồn nhân lực, pháp luật và
trật tự ,, điều này có thể tạo ra sự tăng trưởng cả trong ngắn hạn và dài hạn. Hơn
nữa, họ cho rằng tiến bộ kỹ thuật cũng là biến nội sinh đối với sự tăng trưởng kinh tế
cho sự phát triển (Barro ,, 1995).
Nghiên cứu này phân tích những tác động của thâm hụt ngân sách đối với tăng
trưởng kinh tế bền vững và cung cấp những bằng chứng thực nghiệm mới về tác
động của thâm hụt ngân sách đối với tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế bền vững dựa
trên giả định của mô hình tăng trưởng nội sinh . Chúng tôi ước lượngtính bằng cách
sử dụng hình thức rút gọn của phương pháp GMM đối với các bảng dữ liệu được thu
thập từ bảng dữ liệu năng động năm 1990-2009 cho ba quốc gia mới nổi bao gồm
Trung Quốc , Ấn Độ và Nam Phi trong thời kỳ 1990-2009
2
Phần thứ hai thảo luận về mối tương quan của các biến số tài chính đối với tăng
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
trưởng kinh tế và các kiểu mô hình tăng trưởng khác nhau. Ngoài ra, phần thứ hai
còn phân tích các mô hình khác nhau về tác động của thâm hụt ngân sách đối với
tăng trưởng kinh tế
Phần thứ ba bao gồm các cuộc thảo luận về mối liên hệ giữa mô hình lý thuyết và
các phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong bàinghiên cứu. Các dữ liệu được
sử dụng trong nghiên cứubài được mô tả trong phần bốnn . Phương pháp luận của
bài nghiên cứu được giải thích trong phần năm . Các kết quả thực nghiệm và kết
luận của nghiên cứu được trình bày lần lượt trong phần sáu và bảy.
3. Tổng quan nghiên cứu:
3.1. Chính sách tài chính, tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế
Nói chung các mô hình tăng trưởng có thể được phân thành hai dạng chính ,, tân cổ
điển ( Solow ,, 1956; Swan ,, 1956) và nội sinh ( Romer ,, 1986; Lucas ,, 1988). Hai
mô hình này có lập luận khá tương tự về tác động của chính sách tài khóachính đối
với mức tăng trưởng GDP những , lại khác nhau cơ bản về các lập luận liên quan
đến khác nhau cơ bản của hai mô hình là kết luận về tác động của chính sách tài
khóachính đối với tăng trưởng kinh tế.
Theo lý thuyết của mô hình tăng trưởng nội sinh, chính phủ đóng một vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tích lũy kiến thức, nghiên cứu, phát triển, đầu tư công hiệu
quả, phát triển nguồn nhân lực, pháp luật và trật tự có thể tạo ra sự tăng trưởng cả
trong ngắn và dài hạn Về cơ bản, lý thuyết của mô hình tăng trưởng nội sinh có
hai cách tiếp cận khác nhau. Đầu tiên là những mô hình tăng trưởng nội sinh mà
chính phủ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bằng cách thúc đẩy các hoạt
động tư nhân với thông qua các tác động ngoại vi tích cực.
Theo Barro (1990), Ttrong những mô hình tăng trưởng nội sinh này, cách thức chi
tiêu của chính phủ xác định tỷ lệ tăng trưởng dài hạn theo như lập luận của Barro
( 1990). Mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990 ) đã nghiên cứu rằng hiệu
quả của sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ tài trợ bởi thuế không gây bóp méo
(non-distortionary taxation) sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng trong khi hiệu quả khá
tại. Hơn nữa bằng cách giả định rằng các nguồn nhân lực là đầy đủ, sự gia tăng
trong tiêu dùng làm giảm tiết kiệm và lãi suất tăng lên để mang lại sự cân bằng trong
thị trường vốn. Lãi suất cao hơn dẫn đến một sự suy giảm trong đầu tư tư nhân.
Trong khi trường phái Keynes đưa ra lập luận dựa vào sự ưa thích của đám đông, có
hiệu lực bằng cách tham chiếuxem xét đến các hiệu ứng mở rộng của thâm hụt ngân
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
sách Trường phái Keynes tin rằng kết quả thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự gia
tăng sản xuất trong nước khiến cho các nhà đầu tư tư nhân lạc quan hơn về tương lai
của nền kinh tế dẫn đến mức đầu tư gia tăng nhiều hơn (hiệu ứng “đám đông”).
Lập luận của trường phái Keynes truyền thống có thể khác với các quan điểm tân cổ
điển vì hai lý do chính. Thứ nhất Nguồn lực nhân sự có thể bị thất nghiệp tức là
không đầy đ,ủnguồn nhân lực luôn tồn tại thất nghiệp tự nhiên. Thứ hai, các cá nhân
ưa thích tính thanh khoản , nó giả định sự tồn tại của một số lượng lớn thanh khoản
cá nhân bị hạn chế Giả định thứ hai đảm bảo rằng tổng tiêu dùng rất nhạy cảm với
những thay đổi trong thu nhập khả dụng. Vì vậy, nhiều lý thuyết trường phái Keynes
truyền thống cho rằng thâm hụt ngân sách phải không được lấn át đầu tư tư nhân
Theo mô hình tân cổ điển, ngay cả khi thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng bất lợi trên
tiết kiệm quốc gia , nó cũng không làm giảm tốc độ tăng trưởng sản lượng một cách
lâu dài, bởi vì trong các mô hình, tăng trưởng kinh tế dài hạn sẽ được quyết định do
tiến bộ kỹ thuật, được giả định là ngoại sinh Tuy nhiên, tiết kiệm thấp hơn sẽ dẫn
đến tỷ lệ vốn/ lao động thấp hơn, và do năng suất cận biên giảm sẽ dẫn đến một mức
lãi suất thực tế cao hơn. Một tTỷ lệ vốn/ để lao động thấp hơn cũng sẽ dẫn đến giảm
năng suất lao động thấp hơn và do đó cuối cùng dẫn đến đến một tỷ lệ lương thực tế
thấp hơn.
Trái ngược với lập luận của mô hình tân cổ điển về những ảnh hưởng của thâm hụt
tài khóachính, mô hình tăng trưởng nội sinh giả định tiến bộ kỹ thuật như biến nội
sinh cho sự phát triển ( Barro và Sala -i-Martin ,, 1995). Những mô hình này dựa
trên định nghĩa mở rộng hơn về vốn, kết hợp ngoại tác tích cực của tích lũy vốn (ví
dụ , học thông quan làm việc vừa học vừa làm hoặc tiến bộ kỹ thuật do công nghệ
trong vốn mới ) Kết quả , trong nhiều mô hình tăng trưởng nội sinh ,, giả định về
giảm tài sản quốc gia ,, lo ngại lạm phát ,, giảm tính linh hoạt trong chính sách tài
chính khóa để đối phó với những cú sốc kinh tế vĩ mô ,, và sự suy giảm tin
tưởnglòng tin của các nhà đầu tư.
Ghosh và Hendrik (2009) lại tìm thấy kết quả ngược lại bằng cách sử dụng dữ liệu
chuỗi thời gian từ 1973-2004 của nền kinh tế Mỹ. Kết quả của họ chỉ ra rằng ,, giả
định các yếu tố khác không đổi, một sự gia tăng thâm hụt ngân sách làm chậm tăng
trưởng Tuy nhiên, thâm hụt tài khoản vãng lai "sinh đôigiống hệt" , trong đó cho
thấymà mô hình của chúng tôi cho thấy chúng ta có xu hướng thâm hụt ngân sách
và tăng trưởng kinh tế đi cùng với nhau Do đó, Nhìn chung, mối quan hệ tổng thể
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng
3.4. Xem lại các nghiên cứu thực nghiệm trước đây:
Tác động của thâm hụt ngân sách đến sự tăng trưởng kinh tế là vấn đề được bàn bạc
và tranh cãi rất nhiều trong lý thuyết kinh tế, trong nghiên cứu thực nghiệm và trong
việc hoạch định chính sách kinh tế. Lý thuyết truyền thống cho rằng, với giả định
các yếu tố khác không đổi, sự suy giảm trong ngân sách chính phủ sẽ đẩy lãi suất
tăng lên, đầu tư giảm và kinh tế tăng trưởng chậm lại. Có nhiều bằng chứng thực
nghiệm từ những dữ liệu đường và chuỗi thời gian phân tích tác động của thâm hụt
ngân sách đến sự tăng trưởng kinh tế và tiết kiệm. Tác động tiêu cực của thâm hụt
ngân sách đối với kinh tế đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu như Rubin và cộng
sự (2004), Gale và Orszag (2002), Fischer (1993), Easterly và Rebelo (1993),
Easterly và cộng sự (1994), Bleaney và cộng sự (2001) và Borcherding và cộng sự
(2004). Ngoài ra còn có nghiên cứu của Roy và Berg (2009) tuy nhiên nó cho kết
quả không rõ ràng.
Với Fisher 1993, sau khi nghiên cứu ông đã kết luận rằng thâm hụt ngân sách và
tăng trưởng kinh tế có một mối tương quan nghịch bởi sự rối loạn của lạm phát và
thị trường ngoại hối xuất phát từ thâm hụt ngân sách sẽ tác động xấu đến nền kinh
tế. Gale và Orszag (2002) cho rằng thâm hụt ngân sách làm suy giảm kinh tế vì:
“dòng vốn chảy vào đại diện cho sự giảm xuống trong đầu tư ròng quốc gia dẫn đến
sụt giảm vốn của quốc gia và sụt giảm trong thu nhập tương lai của quốc gia.”
Với α Є [0,1]
y là thu nhập bình quân đầu người,
A là năng suất,
k là vốn tư nhân bình quân đầu người,
g là sản phẩm và dịch vụ cung cấp bởi chính phủ.
Giờ có hai giả định để kết nối mô hình sản xuất với nghiên cứu của chúng tôi:
• Đầu tiên ngân sách chính phủ là cân bằng như kết quả của việc áp đặt thuế
không thay đổi với thuế suất (T) và thuế khoán (L) khi đó giới hạn ngân sách:
g + C = L + Tny (2)
Với n là số lượng nhà sản xuất và C là tiêu dùng chính phủ và được giả định là
không sinh lợi. Trên lý thuyết, thuế đánh trên thu nhập tác động đến đầu tư của tư
nhân, nhưng thuế khoán thì không (Barro, 1990).
Theo Barro (1990); Barro và Sala-i-Martin (1992) mô hình tỷ lệ tăng trưởng dài hạn
Ψ được thể hiện như sau:
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
Với λ và μ là tham số.
Phương trình (3) chứng tỏ rằng hàm tỷ lệ tăng trưởng là hàm giảm đối với thuế (T)
và tăng đối với tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của chính phủ (g). Đồng thời, tiêu
dùng không sinh lợi (C) và thuế khoán (L) được giả định và không có vai trò gì.
• Thứ hai, nới lỏng giả định về ngân sách cân bằng để thâm hụt ngân sách tồn tại
và phân tích tác động của thâm hụt ngân sách đến sự tăng trưởng kinh tế.
Phương trình (4) được lấy từ phương trình (2) và thêm thâm hụt ngân sách vào
(theo nghiên cứu thực nghiệm của Kneller và cộng sự (1999) và Bleaney và
cộng sự (2000)) sẽ trở thành:
Với d là thâm hụt ngân sách.
Cả Amanja và Morrisey (2005) và Matthew (2009) đưa ra ước lượng tăng trưởng
trong nghiên cứu của họ sau nghiên cứu của Kneller và cộng sự (1999) và phương
trình được thể hiện như sau:
Với y
it
chính phủ.
• TAX: Doanh thu thuế, tính theo phần trăm GDP, sử dụng để đánh giá ảnh
hưởng của thâm hụt tài khóa đối với sự tăng trưởng kinh tế cũng như tiết
kiệm trong nước. Nguồn từ World Bank economic outlook.
• FDEV: sự phát triển tài chính và tín dụng khu vực tư nhân, tính theo phần
trăm GDP
• TO: sự mở cửa thương mại [(Xuất khẩu + nhập khẩu) / GDP] được sử dụng để
đại diện cho sự mở cửa thương mại và được lấy từ World Bank.
• D: đại diện cho tổng nợ quốc gia và được lấy từ International Monetary
Fund và World Economic Outlook.
• INV: Tổng hình thành vốn cố định trong nước và được lấy từ World Bank.
• EXP: tiêu dùng chính phủ, được lấy từ International Monetary Fund và
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
World Economic Outlook.
• INF: lạm phát, là chỉ số giá tiêu dùng và được lấy từ World Bank.
• RIR: lãi suất thực, là lãi suất cho vay sau khi loại trừ lạm phát, lấy từ World
Bank.
• SAV: tiết kiệm trong nước, bao gồm tiết kiệm chính phủ, tiết kiệm doanh
nghiệp và tiết kiệm gia đình, tính theo phần trăm GDP và được lấy từ World
Bank.
6. Phương pháp:
Để phân tích tác động của thâm hụt ngân sách đến sự tăng trưởng, chúng tôi sử dụng
mô hình được mô tả dưới đây. Nó tương tự mô hình của Kneller và đồng
nghiệpcộng sự (1999). Trong đó có cả biến tài khóa và biến phi tài khóa. Thâm hụt
ngân sách, lạm phát, lãi suất và thuế là những biến chính. Những biến còn lại là
những biến điều khiển, bao gồm sự mở cửa thương mại, sự phát triển tài chính, đầu
tư trực tiếp nước ngoài, tiêu dùng chính phủ và tiết kiệm trong nước.
Với GR
t
đại diện cho tỷ lệ tăng trưởng của thu nhập bình quân đầu người, X
giai đoạn đầu không ấn tượng như Trung Quốc, nhưng ở giai đoạn cuối lại cho thấy
một sự gia tăng ấn tượng bằng 101% so với giai đoạn trước đó. Nam Phi có tăng
trưởng nhẹ từ 1993-2002. Nhưng giai đoạn 2003 - 2007 tăng trưởng bằng 6.89 lần
giai đoạn 1998 - 2002. Về mặt tiết kiệm trong nước, China có một sự gia tăng ổn
định ngoại trừ giai đoạn tăng trưởng giảm (1998 - 2002). Tương tự, Ấn Độ cũng có
một sự gia tăng ổn định trong tiết kiệm trong nước. Nam Phi thì giảm liên tục tiết
kiệm trong nước qua các giai đoạn.
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
Kết quả cho thấy biến tăng trưởng tương quan thuận với các biến FD, FDEV, INF,
SAV and TO. Việc tương qua thuận với FD và INF là không được mong đợi theo các
lý thuyết kinh tế. Bởi vì 2 biến này cản trở tăng trưởng kinh tế và chúng là các yêu
tố tăng trưởng kinh tế không bền vững. Còn các biến RIR, TAX, VÀ D có tương
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
quan nghịch với biến tăng trưởng. Biến phụ thuộc thứ hai là tiết kiệm cũng có tương
quan thuận và có ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, tiết kiệm có tương quan
nghịch và có ý nghĩa với các biến D, RIR, TAX.
7.2. Phân tích hồi quy
7.2.1. Tính chất của dữ liệu
Trước khi tiến hành hồi quy dữ liệu, chúng tôi cần kiểm tra tính dừng của các biến
bằng kiểm định nghiệm đơn vị bảng panal unit root test, xem phụ lục 7. Đối với
các biến không dừng ở sai phân bậc 1 và 2, chúng tôi tiến hành kiểm tra đồng liên
kết để đảm bảo rằng tồn tại mối quan hệ dài hạn. Chúng tôi sử dụng Levin, Lin và
Chu (LLC); Im, Pesaran và Shin (IPS); ADF-Fisher Chi-square và PP-Fisher Chi –
square cho bảng unit root test. Levin, Lin và Chu (2002) là một trong những unit
root test đầu tiên cho dữ liệu bảng và cho rằng các kiểm định nghiệm đơn vị riêng lẻ
individual unit root test có hiệu lực hạn chế so với với các giả thuyết đối, đặc biệt
đối với các mẫu nhỏ. Im, Pesaran và Shin (2003) sử dụng khung lý thuyết
likelihood đã đưa ra cách kiểm định unit root test mới linh hoạt và tính toán đơn
giảm hơn ( t-bar statistic), cho phép sử dụng các chuỗi dừng đồng thời và không
dừng.
không không có tính đồng liên kết
cho kiểm định tính đồng liên dạng bảng sẽ là:
H
0
Ho: γi = 1 với mọi i
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
H
0
Ho: γi < 1 với mọi I
Trường hợp giả thuyết không đồng nhất, giả thuyết H
0
không không có tính đồng liên
kết cho kiểm định tính đồng liên kết dạng bảng sẽ là:
Ho: γi = 1 với mọi i
Ho: γi < 1 với mọi I
Vì các yêu cầu ngoại sinh không được áp dụng đối với các biến hồi quy độc lập
trong mô hình hồi quy đồng liên kết và chỉ tổng hợp các thông tin về sự tồn tại của
mối tương quan đồng liên kết, nên kiểm định tính đồng liên kết Pedroni có ưu thế
hơn so với các phương pháp khác.
Kết quả kiểm đinh tính đồng liên kết dạng bảng (panel cointegration test) cho thấy
tính đồng liên kết tồn tại giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc. Như chúng ta
thấy trong bảng 3, với các giá trị chặn và các giả định xu hướng riêng trong tất cả
các trường hợp ngoại trừ thống kê Rho trong trường hợp của mô hình một và thống
kê V trong trường hợp của mô hình hai đều bác bỏ giả thuyết H
0không
không có đồng
liên kết ở mức ý nghĩa 5% và mức 10%. Điều này có nghĩa rằng các biến có mối
tương quan trong dài hạn và là cơ sở để tiếp tục các bước tiếp theo trong mô hình
hồi quy của bài nghiên cứu.
7.2.2. Kết quả hồi quy
dương giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế.
Tương tự, kết quả hồi quy đối với lạm phát cũng lặp đi lặp lại những gì chúng ta đã
quan sát thấy trong trường hợp thâm hụt. Tuy nhiên, kết quả lại không có ý nghĩa,
ngoại trừ bảng 6 trong trường hợp tiết kiệm. Mặc dù rất nhiều nghiên cứu thực
nghiệm về lạm phát và tăng trưởng kinh tế cho thấy có mối tương quan âm giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế. Cả các đánh giá của Fischer (1991) và Sala-I Martin
(1991) cho thấy một liên kết không đáng kể giữa tăng trưởng và lạm phát. Trong
thực tế, mức độ lạm phát (thấp, trung bình và cao) có ý nghĩa quan trọng đối với
việc giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Tuyên bố này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu
của Clark (1993). Ông đã nghiên cứu các quốc gia có lạm phát thấp và trung bình và
thấy rằng không có mối tương quan đồng nhất và có ý nghĩa giữa tăng trưởng và
lạm phát. Hơn nữa, Levine và Zervos (1993) kết luận rằng những thay đổi biên
trong tỷ lệ lạm phát trung bình có thể có mối tương quan âm với tốc độ tăng trưởng.
Hệ số của biến thuế trong kết quả hồi quy của chúng tôi là có ý nghĩa và tỷ lệ nghịch
với tăng trưởng kinh tế và tiết kiệm, điều này phù hợp với lý thuyết kinh tế. Một số
nghiên cứu thực nghiệm cũng xác nhận rằng thuế suất cận biên cao sẽ giảm tăng
trưởng kinh tế. Trong số đó, Padovano và Galli (2001, 2002) đảm bảo rằng những
tác động tiêu cực của tỷ lệ thuế suất cận biên cao có tác động tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế.
*** Có ý nghĩa ở mức 1%; ** Có ý nghĩa ở mức 5%;; * Có ý nghĩa ở mức 10%;.
Các biến phụ thuộc trong các mô hình hồi quy là mức tăng trưởng GDP bình quân
đầu người thực tế hàng năm và tiết kiệm trong nước tính theo phần trăm của GDP.
GVHD: PGS.TS. Sử Đình Thành Nhóm 9
Khoảng thời gian được theo dõi từ năm 1990 đến năm 2008. Các biến giải thích các
chính sách ngân sách được sử dụng trong mô hình hồi quy là phần trăm GDP.
Mở cửa thương mại được dự đoán sẽ có một kết quả tích cực và đáng kể cho cả tăng
trưởng và tiết kiệm. Mặc dù nhiều nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan
dương và mạnh giữa việc mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế, nhưng các lý
thuyết lại hỗ trợ cho quan điểm có mối tương quan dương và mạnh giữa mở cửa
thương mại và tăng trưởng kinh tế. Kết quả trong bảng 4 cho thấy nếu mở cửa
dương giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế.
Biến tỷ lệ lãi suất thực tương quan âm và có ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế và tiết
kiệm, điều nãy cũng được hỗ trợ bởi các lập luận của lý thuyết kinh tế chuẩn. Trong
khi đó, kết quả hồi quy đối với lạm phát cũng lặp đi lặp lại những gì chúng ta đã
quan sát thấy trong các trường hợp hồi quy thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên, kết quả
không có ý nghĩa, ngoại trừ bảng 5 đối với trường hợp tiết kiệm. Mặc dù nhiều
nghiên cứu thực nghiệm phát hiện rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối
tương quan âm, đánh giá của Fischer (1991) và Sala-I Martin (1991) đã tìm thấy một
liên kết không có ý nghĩa giữa tăng trưởng và lạm phát.
Do đó chúng tôi có thể kết luận rằng, thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế và tiết kiệm thông qua các phương tiện để giải quyết thâm hụt. Như
chúng ta đã thấy cả thuế và lãi suất đều thể hiện một mối tương quan âm và có ý
nghĩa với tăng trưởng kinh tế và tiết kiệm bất chấp kết quả của nợ và lạm phát.