PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên khu hệ thực vật vô
cùng phong phú, đa dạng và độc đáo. Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên tái
tạo có vị trí đặc biệt quan trọng đối với môi trường sống, với kinh tế và xã
hội. Vì vậy việc nghiên cứu phân loại thực vật là không thể thiếu được vì đó
là cơ sở cho việc đánh giá tính đa dạng của chúng, đánh giá nguồn tài nguyên
của đất nước.
Đắk Lắk là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học chính của Việt
Nam. Các nghiên cứu đã xác định ở Đắk Lắk hiện nay có 11 khu vực đa dạng
sinh học chính, trong đó Vườn quốc gia Yok Đôn được xem là khu bảo tồn
duy nhất của Việt Nam với hệ thống Rừng khộp rộng lớn nhất nước ta. Đây
được xem là nơi có giá trị đa dạng sinh học đặc trưng cho khu vực Tây
Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung.
Được thành lập từ năm 1992 với tổng diện tích tự nhiên 58.200 ha
thuộc huyện Buôn Đôn - tỉnh Đắk Lắk. Năm 2002, Chính phủ đã ra quyết
định mở rộng Vườn quốc gia Yok Đôn lên 115.545 ha. Vườn quốc gia Yok
Đôn có hệ thực vật phong phú với 854 loài thực vật, thuộc 478 chi và 129 họ.
Trong số đó, mỗi loài thực vật đều mang trong nó những giá trị khoa học và
giá trị sử dụng nhất định mà con người còn chưa khai thác hết. Thế nhưng
mỗi ngày, mỗi giờ, số lượng các loài thực vật đang ngày càng suy giảm dần,
có những loài đang bị đe dọa.[17] [19]
Cũng như các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên khác, ngành
lâm nghiệp, chính quyền các cấp và ban quản lý Vườn quốc gia Yok Đôn đã
có nhiều nỗ lực trong quản lý bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốc gia
nhưng hiện tại vẫn đang phải đối mặt với tình trạng săn bắt, xâm lấn đất đai
và nguy cơ cháy rừng. Bên cạnh đó, xung quanh Vườn quốc gia còn tồn tại
nhiều khu rừng rộng lớn, trong đó phần lớn được giao để khai thác gỗ thương
1
phẩm do các lâm trường quốc doanh quản lý. Do đó, việc đánh giá giá trị đa
Ma Thuột khoảng 40 km về phía tây bắc.[15]
Vườn Quốc gia Yok Đôn có tọa độ địa lý: Từ 12°45′ đến 13°10′ vĩ Bắc,
107°29′30″ đến 107°48′30″ kinh Đông.
Phía Bắc theo đường tỉnh lộ 1A từ ngã ba Cư M'Lanh (tỉnh lộ 1A) qua
đồn biên phòng số 2 đến biên giới Việt Nam - Campuchia.
Phía Tây giáp biên giới Việt Nam - Campuchia dài 102km.
Phía Đông dọc theo tỉnh lộ 1A từ ngã ba Chư M'Lanh đến Bản Đôn,
ngược dòng sông Serepok đến giáp ranh giới huyện Cư Jút.
Phía Nam giáp huyện Cư Jút và đoạn đường 6B từ Vườn quốc gia giao
với đường T15 chạy thẳng phía Tây theo đường 6B đến suối Đắk Đam giáp
biên giới Việt Nam - Campuchia.[15]
Vườn Quốc gia Yok Đôn được chia thành 115 tiểu khu với 3 phân khu
chức năng là: Phân khu Bảo tồn nghiêm ngặt (80.947), phân khu Phục hồi
sinh thái (30.426 ha) và phân khu Dịch vụ hành chính (4.172 ha).[15]
2.1.2. Điều kiện địa hình
Toàn bộ Vườn Quốc gia Yok Đôn nằm trên một vùng tương đối bằng
phẳng, nghiêng từ Nam đến Bắc, từ Đông sang Tây, độ cao trung bình 200m
so với mặt nước biển. [3]
Vườn được hình thành trên khối cổ địa chất tiền Cambri. Bề mặt hiện
tại của rừng là kết quả của quá trình bào mòn và tích tụ lâu dài. Địa hình cao
(núi, đồi) chịu ảnh hưởng của sự bào mòn, địa hình thấp chịu ảnh hưởng của
quá trình tích tụ. Có thể chia thành 2 dạng chính như sau: [4]
3
Địa hình đồi và núi thấp: gồm những núi có độ cao không lớn, với
đỉnh cao nhất thuộc dãy Cư M’lan phân bố rải rác theo bờ phải sông Serepok
chạy suốt từ biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia tới gần trung tâm huyện Buôn
Đôn (502m), và các ngọn núi thấp hơn như ngọn núi Jok Đa nằm ở bờ trái
sông Serepok (466m), thấp nhất là đỉnh Chư Minh (384m). Địa hình núi được
cấu tạo bởi cát bột kết xen lẫn sét chịu tác động mạnh mẽ của xói mòn. Địa
hình đồi là dạng cơ bản của Yok Đôn được cấu tạo bởi các đồi lượn sóng có
năng giữ nước, các suối như: Đắk Na, Đắk Nor, Đắk Kên, Đắk Lau…và nhiều
suối cạn có nước theo mùa.[3]
2.1.4. Điều kiện thổ nhưỡng
Kiến tạo địa chất với nền đá mẹ chủ yếu là cát bột kết cùng với phân
hóa sâu sắc chế độ mùa, nền nhiệt ẩm của rừng là những yếu tố quyết định sự
hình thành và phát triển các lớp thổ nhưỡng. Quá trình teralitic hóa rửa trôi và
sự bào mòn tích tụ là những quá trình cơ bản tạo lớp thổ nhưỡng bề mặt. Do
các chất dinh dưỡng và rửa trôi nên lớp thổ nhưỡng bề mặt bị kết vón đá ong
laterit. Kết quả làm cho bề mặt mỏng dần và trơ lớp đá ong trên bề mặt. Đất
xám bạc màu điển hình cho cả khu vực Yok Đôn. Trong khu vực Yok Đôn
được chia làm 4 nhóm đất chính như sau: [4]
Nhóm đất feralit đỏ vàng trên đá phiến (Fs): Là sản phẩm phong hóa
từ các đá trầm tích phiến sét có tuổi Jura, phân bố ở những vùng có địa hình
đồi núi thấp. Đất nghèo dinh dưỡng và tầng mỏng, từ thịt nặng đến cát pha,
khả năng thấm và giữ nước kém, về mùa khô bị chai rắn, chiếm 2,5% diện
tích của Vườn.[3]
Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát kết (Fq): Tầng đất dày 30-50cm,
nhiều thành phần cát, ít mùn, thường có kết vón, phân bố ở vùng đồi núi thấp
hai bên bờ sông Serepok ở độ cao 300m trở xuống. Loại đất này chiếm tỉ lệ
diện tích lớn nhất (64,7%). [3]
Nhóm đất xám (Xa): Phát triển trên đá mẹ Granit và trầm tích hỗn hợp
mezozoi, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc, tỉ lệ đá lẫn
cao. Đất chua, nghèo mùn, dễ bị xói mòn, rửa trôi, có kết vón đá ong, phân bố
ở độ cao từ 200-250m hai bên bờ sông Serepok và chân đồi núi thấp hữu ngạn
sông, chiếm 26,4% diện tích.[3]
5
Đất dốc tụ (D) thuộc nhóm đất nâu vàng trên đá bazan (Fu): Đây là
đất phù sa bồi tụ, tầng đất mặt khá tơi xốp, màu xám đen, lẫn nhiều chất hữu
cơ và sỏi cạn. Thành phần cơ giới đất thịt pha cát, đất tốt hơn các loại đất trên,
có khả năng canh tác nông nghiệp. Loại đất này phân bố ven các sông suối
sông Serepok, sông Đắk Na, quanh hồ Chư Minh, hồ Prok, hồ Giang Tao,
sông Đắk S’sot, sông Đắk Kèn, sông Đắk Klau, quanh bản làng, chiếm diện
tích không lớn. Những cây gỗ tái sinh tiên phong là các cây thuộc họ Bàng
(Combretaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Riêng họ phụ Tre nứa (Bambusae) có nhiều loài tre, trúc, nứa, lồ ô phát triển
mạnh.[9]
Hệ sinh thái Trảng cây bụi và Đồng cỏ: Hệ sinh thái này gặp nhiều ở
khu vực rừng thứ sinh. Khu vực trảng cỏ nằm rải rác trong vùng, với gần 100
loài cỏ thích hợp cho các loài thú ăn cỏ và chăn nuôi gia súc. Các cây bụi và
cỏ quyết nghèo về thành phần loài, và đa dạng sinh học cũng kém các hệ sinh
thái rừng thường xanh kể trên.[9]
Hệ sinh thái Rừng trồng, ruộng và khu dân cư: Hệ sinh thái này
chiếm diện tích không nhiều trong Vườn quốc gia Yok Đôn. Khu vực trồng
cây công nghiệp ven Vườn quốc gia như các huyện Buôn Đôn, Cư Jút…trồng
Cà phê, các loại cây ăn quả, chè, tiêu, các loại cây ngắn ngày như: sắn, ngô,
khoai, đậu đỗ…trên nương rẫy. Hệ sinh thái nông nghiệp đồng ruộng, có ven
thung lũng Bản Đôn, Đrăng Phôk…[9]
Ngoài 6 hệ sinh thái kể trên, còn có một số hệ sinh thái khác như: hệ
sinh thái Thủy vực, hệ sinh thái Rừng lá kim, hệ sinh thái Đầm lầy, hệ sinh
thái Đô thị…là những khu vực nhỏ, mức độ nghiên cứu còn ít nên chưa được
đề cập phổ biến.[9]
2.2.2. Đặc điểm về đa dạng các loài thực vật
Hệ thực vật của Vườn quốc gia Yok Đôn rất đa dạng và phong phú về
thành phần loài. Nhiều nhà khoa học đã dự đoán ở nước ta có khoảng 12000
loài thực vật bậc cao có mạch. Chỉ tính riêng 3 tập Cây cỏ Việt Nam của
Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) đã vẽ hình và miêu tả được 10580 loài thực vật
bậc cao có mạch. Trong khi đó, tổng số loài thực vật của Vườn quốc gia Yok
Đôn hiện đã thống kê được có tổng số 854 loài thuộc về 129 họ và 478 chi
7
của 4 ngành thực vật bậc cao là Thông đất (Lycopodiophyta), Khuyết lá thông
Những cánh rừng thuộc các tiểu khu 419, 420, 484, 477, 456 trên địa bàn
8
huyện Ea Sup, huyện Cư Jút và tuyến biên giới giáp Campuchia đã bị khai
thác trắng. Tình trạng phá rừng đã được cảnh báo đang ở mức báo động.[12]
Trong những ngày đầu năm 2013, Vườn quốc gia Yok Đôn lại nóng lên
tình trạng lâm tặc khai thác trái phép gỗ quý. Hiện nay, ở Vườn quốc gia Yok
Đôn những cây gỗ quý như Hương, Căm xe, Cà te cổ thụ có đường kính trên
dưới 1m không còn nữa nên lâm tặc chuyển sang khai thác những cây gỗ non,
khiến cho số lượng cá thể trong các loài này bị giảm mạnh.[14]
Về loài động vật hoang dã, năm 2002 Vườn quốc gia Yok Đôn có 38
loài động vật hoang dã thuộc diện quý hiếm, có giá trị kinh tế cao đang đứng
trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Đáng chú ý là các loài Voi, Bò tót, Bò
rừng, Bò xám, Nai cà toong, Hươu đầm lầy, Vọoc bạc, Vượn má hung, Hổ,
Báo hoa mai, Mèo rừng, Công, Hồng hoàng, Cá sấu…[8]
Theo kết quả kiểm tra thực địa đã cho thấy hiện có ít nhất 18 loài chim
được xác định là ưu tiên bảo tồn quan trọng ở vườn quốc gia Yok Đôn. Hầu
hết các loài bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau và được ghi trong
sách Đỏ Việt Nam (2000, 2002), khu vực châu Á và thế giới (2000, 2001). Đó
là các loài Hạc cổ trắng, Hạc cổ đen, Già đẫy Java, Quắm lớn, Ngan cánh
trắng, Sếu cổ trụi, Chân bơi, Diều cá lớn, Diều cá bé, Diều xám, Cắt nhỏ hông
trắng, Phượng hoàng đất, Vẹt má vàng. [2]
Cá ở sông Serepok là thực phẩm hằng ngày của người dân. Tuy nhiên
nguồn lợi tự nhiên này đang ngày càng cạn kiệt, khả năng tái sản xuất thấp.
Hiện nay, các loài cá tự nhiên ở sông Serepok được khai thác thường có kích
thước không lớn, thường là vài centimet (trừ một số loài như cá Mõm trâu, cá
Lăng có thể nặng tới 5 – 7 kg). Một số loài bị khai thác vẫn đang mang trứng
như cá Lăng (Mystus nemurus), cá Ngựa nam (Hampala macrolepiota). [6]
2.2.4. Nguyên nhân của thực trạng
2.2.4.1. Nguyên nhân trực tiếp
Khai thác gỗ: Những năm qua, hoạt động khai thác trái phép quy mô
nhân làm giảm giá trị về chất lượng gỗ.[16]
Chăn thả gia súc và sự xâm lấn của các loài ngoại lai: Các loài ngoại
lai phổ biến là Mai dương và Đơn buốt. Sự xâm nhập của các loài này mới chỉ
10
dừng lại ở phạm vi vùng đệm và dọc theo hai bên bờ sông Srepok. Sự nguy
hại của chúng đối với thực vật bản địa tuy chưa được thể hiện rõ ràng song đó
là một vấn đề cần được quan tâm và chú ý, cần có các biện pháp khống chế sự
bùng phát, xâm nhập của chúng vào rừng để bảo vệ sinh cảnh cho các loài
bản địa và các loài quý hiếm khác.[16]
2.2.4.2. Nguyên nhân gián tiếp.
Gia tăng dân số: Theo kết quả điều tra 2002, tổng số dân trong vùng
tăng đến 32.232 người (tăng gấp 6 lần so với năm 1990). Hiện cộng đồng dân
tộc tại chỗ chỉ có 5.402 người, các dân tộc nơi khác tới 26.830 người gấp 5
lần dân tộc bản địa. Điều này kéo theo nhu cầu về đất canh tác, nhà ở và gỗ
làm nhà, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên thực vật và đa dạng
sinh học. Đây là nguy cơ quan trọng tác động đến tài nguyên thực vật Vườn
quốc gia Yok Đôn.[16]
Đói nghèo: Thu nhập bình quân đầu người ở Buôn Đôn thấp hơn rất
nhiều so với bình quân chung của tỉnh Đắk Lắk, đời sống của người dân ở đây
đang có chiều hướng khó khăn hơn, điều đó càng làm tăng áp lực đối với rừng
tự nhiên của Vườn quốc gia Yok Đôn. Tuy nguồn thu nhập từ hoạt động săn
bắt chiếm tỷ lệ thấp, nhưng nếu không ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả sẽ
dẫn đến suy thoái nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong vùng.[16]
Nhận thức: Kết quả điều tra nhận thức của cộng đồng về vai trò và tầm
quan trọng của Vườn quốc gia Yok Đôn tại 3 xã vùng đệm (Krông Na, Ea
Huar, Ea Wer) cho thấy 51% nhận biết được vai trò và tầm quan trọng, 21%
biết nhưng không rõ, 18% không rõ ranh giới, còn lại 10% không biết Vườn
quốc gia Yok Đôn ở đâu. Điều này là do công tác tuyên truyền chưa thực hiện
tốt, trình độ dân trí thấp. Nhận thức kém dẫn đến việc nhiều người cho rằng
tài nguyên rừng là vô tận nên luôn luôn muốn tìm cách khai thác và khai thác
phân bố các taxon họ, chi và các loài trong các ngành rất không đều, tập trung
nhiều nhất ở ngành Hạt kín. Nghiên cứu đã xây dựng được một danh lục gồm
566 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 290 chi và trong 108 họ [11].
12
Đánh giá mức độ đa dạng ở bậc họ đã thống kê được 16 họ giàu loài
nhất, chiếm 14,8% tổng số họ, với 288 loài chiếm 50,9% tổng số loài toàn hệ
thực vật Vườn quốc gia Yok Đôn. [11]
Đánh giá đa dạng ở mức độ chi nhận thấy chi giàu loài nhất là
Desmodium thuộc họ Fabaceae. Tổng số chi đa dạng là 19 chi chiếm 6,5%
nhưng đến 115 loài, chiếm 20,3% tổng số loài của cả hệ thực vật.[11]
Trần Ngọc Ninh với các nghiên cứu về đa dạng hệ sinh thái Vườn quốc
gia Yok Đôn đã cho thấy ở vườn quốc gia Yok Đôn có 6 kiểu hệ sinh thái
rừng tự nhiên và nhân tạo. Đồng thời còn cho thấy sự đa dạng của thực vật về
thành phần loài (474 loài), trong đó có 28 loài thực vật quý hiếm đã được ghi
nhận trong sách Đỏ Việt Nam (1996). [9]
Nguyễn Kim Đào với nghiên cứu về hệ sinh thái Rừng khộp, tiềm năng
và triển vọng. Nghiên cứu đề cập sơ lược về điều kiện tự nhiên, các loại hình
rừng, các kiểu thảm thực vật, sự phong phú về thành phần loài ở Vườn quốc
gia Yok Đôn, các nguồn tài nguyên của Rừng khộp, đồng thời chứng minh
đây là một sinh cảnh đảm bảo cho nhiều loài động vật hoang dã sinh sống,
hướng đến tiềm năng, triển vọng của Vườn quốc gia Yok Đôn.[4]
2.4. Các nghiên cứu về họ Bông (Malvaceae) ở Vườn quốc gia Yok Đôn
Trong danh lục thực vật của Vườn quốc gia Yok Đôn đã thống kê được
10 loài thuộc họ Bông. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu riêng nào
về họ Bông ở Vườn.
2.5. Đặc điểm hình thái và hệ thống phân loại của họ Bông (Malvaceae)
2.5.1. Đặc điểm hình thái:
Những cây thuộc họ Bông là những cây gỗ nhỏ, cây thân bụi hoặc thân
cỏ. Cây sống một năm hay lâu năm. Thân đứng hay bò, thường có thân tròn,
rất hiếm khi gặp thân vuông hay có cạnh (Gossypium). Cây có thể phân cành
1-3, ít khi là quả mọng (Malvaviscus) hay quả có cánh (Kydia).[13]
Hạt hình thận hay hình trứng ngược, thường có lông tơ, đôi khi nhẵn.
Phôi thẳng hoặc cong và phần lớn có nội nhũ, có khi có dầu. Lá mầm dẹt
chồng lên nhau hay dạng vặn xoắn. [13]
Công thức hoa:
*
k
3-7
K
(5)
C
5
A
∞
G
(5)
14
1.1.1.Hệ thống phân loại các chi họ Bông (Malvaceae)
Họ Bông (Malvaceae) thuộc bộ Bông (Malvales), lớp Hai lá mầm
(Magnoliopsida), ngành Hạt kín hay ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta).
Họ Bông có khoảng 90 chi và 1570 loài, phân bố rộng rãi ở tất cả các
vùng trên Trái Đất, trừ các vùng lạnh, phần lớn tập trung ở các vùng nhiệt đới.
Ở Việt Nam có 16-17 chi vào khoảng 65 loài. [10]
Theo tạp chí Di truyền học và Ứng dụng, số 1, năm 2004 đã xây dựng
sơ đồ phân loại các chi họ Bông theo hệ thống của Schultze-Motel (1964) như
sau:
Tribus. Malveae: gồm các chi Malva, Lavatera, Althaea, Malvastrum,
Sida, Wissadula, Abutilon, Kydia.
Tribus. Ureneae: gồm các chi Urena, Pavonia, Malvaviscus,
Malachra.
8B. Cây gỗ; đài phụ 4, dạng cánh. Hoa màu hồng hay trắng, lá noãn 2-3. 8.
Kydia.
2B. Bao phấn chỉ đính ở phần ngoài phía trên của ống nhị. Nhánh vòi nhụy
gấp 2 lần số lá noãn. Tribus. 2 .Ureneae.
10A. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, hiếm khi thấy hoa mọc thành chùm ở nách
lá, không có lá hoa, có đài phụ tồn tại.
11A. Cây thân cỏ hay thân nửa bụi; hoa hồng hay phớt hồng. Đài phụ 5, đài
rời nhau, tràng nở xoè ra. Quả phân có gai.
12A. Quả có nhiều gai móc dài và cứng. Lá thường có 1 tuyến ở gân giữa. 9.
Urena.
12B. Quả có gai nhưng không bao giờ có gai móc. Lá thường không có tuyến
ở gân giữa. 10. Pavonia.
11B. Thường là cây bụi. Hoa đỏ sẫm; đài phụ 7-12, đài hợp ở dưới. Tràng
không nở xoè ra. Quả mọng và nhẵn 11. Malvaviscus.
10B. Cụm hoa hình chùm, có lá hoa to ở phía dưới, không có đài phụ. 12.
Malachra.
1B. Quả nang, khi chín tự mở và nhìn thấy hạt, phần lớn 5 ô, số nhánh vòi
nhụy bằng số ô. Tribus. 3. Bihisceae.
16
13A. Đài phụ 5-15. Hạt hình thận, một số ít hình tròn
14A. Bầu 5 ô, đầu nhụy phân thành 5 nhánh. Ô quả từ 2 đến nhiều hạt, hạt
ngang hay treo.
15A. Đài dạng mo, sau khi hoa nở 1 bên xẻ ra, ở đỉnh có 5 thùy răng rất nhỏ
hoặc không có rang và rụng sớm. Quả nhọn hay hình thoi. Hạt nhẵn không
lông. 13. Abelmoschus.
15B. Đài hình chuông hay chén, 5 thùy đều hay 5 răng lớn. Quả hình tròn hay
thon dài hay hình cầu tròn. Hạt có lông hay có nốt sần sùi dạng tuyến. 14.
Hibiscus.
14B. Bầu 6-10 ô, đầu nhụy phân thành 6-10 nhánh. Ô quả 1 hạt, hạt đứng. 15.
Decaschistia.
Đánh giá mức độ đa dạng loài của họ Bông ở Vườn quốc gia Yok Đôn.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu mẫu
Việc thu thập mẫu các loài của họ Bông được thực hiện bằng phương
pháp điều tra theo tuyến. Đó là các tuyến dọc theo đường đi và ven theo các
con sông, các hồ.
Khi thấy mẫu, tiến hành thu thập ngay. Mẫu được thu thập phải có các
đặc điểm đặc trưng về cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của loài tức là
mẫu phải có thân, lá, có thể cả hoa và quả. Sau khi xác định mẫu để thu, dùng
kéo cắt cành cắt những đoạn mẫu phù hợp về kích thước, đối với cây thân
thảo thì thu cả cây. Mỗi loài thu nhiều hơn 2-3 mẫu. Với những mẫu có củ, sử
dụng cuốc đào xung quanh, đảm bảo củ được thu thập nguyên vẹn. Tiếp theo,
gắn nhãn cho mẫu thu được. Nhãn phải có tên phổ thông, số hiệu mẫu, nơi lấy
mẫu và ngày lấy mẫu. Những mẫu của các loài khác nhau có số hiệu khác
nhau, mẫu của cùng một loài có cùng một số hiệu. Dùng túi nilông để đựng
mẫu, dùng dây thun buộc túi lại và cho vào bao tải lớn.
3.4.2. Phương pháp làm tiêu bản khô
18
Mẫu sau khi thu thập phải được mô tả các hình thái đặc trưng và đo các
kích thước. Sau đó tiến hành làm tiêu bản khô bằng cách ép và phơi khô mẫu.
Đặt mẫu lên tờ giấy báo, đeo nhãn cho mẫu thu được. Cố định mẫu
bằng băng dính trong. Đảm bảo mẫu được cố định trên một mặt phẳng, có 1 lá
úp, hoa và quả cũng được cố định tương tự. Trường hợp quả to có thể phơi
khô riêng. Đặt tất cả các mẫu thu được vào kẹp gỗ, buộc chặt và phơi khô.
Sau khi mẫu khô, tiến hành chuyển mẫu sang nền giấy A4 để làm tiêu bản.
Đeo nhãn cho mẫu như sau:
Tên Latinh:…………………………………………………………….
Tên thông thường:……………………………………………………
Địa điểm thu mẫu:……………………………………………………
Ngày thu mẫu:…………………………………………………………
(Malvaceae). Các loài sau khi thu thập đã được định danh và lập danh lục
theo thứ tự alphabet của các chi.
20
4.1.1. Abelmoschus crinitus Wall. (Bụp tóc)
Dựa theo Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, quyển I, trang 529.
Cây thân cỏ sống một năm cao đến 1,2m. Thân và cuống lá có lông
màu trắng dài và cứng.
Lá đơn mọc cách, cuống lá dài 10-20cm có nhiều lông cứng khắp cả hai
mặt lá. Phiến lá xẻ thùy nông, có 5-7 thùy, chót các thùy nhọn, dài 10cm, rộng
10-13cm, mép lá có răng cưa nhỏ và đều. Cuống và hai mặt phiến có nhiều
lông dài, thẳng và cứng. Gân lá hình mạng chân vịt, thường có 5 gân chính.
Mặt trên của chỗ cuống lá đính vào phiến có màu đỏ.
Lá kèm dạng sợi chỉ dài 1,5-3cm, có nhiều lông dài màu trắng và cứng.
Hoa mọc riêng lẻ ở nách lá hay trên ngọn cành, mỗi hoa có cuống dài
2-4cm. Lá đài phụ có 10-16 đơn vị dạng sợi, đài đồng trưởng, bao hoàn toàn
trái. Hoa đều, mẫu 5, tiền khai hoa vặn. Tràng hoa màu vàng nhạt, rời, có 2
phần: phần móng hẹp cứng màu tím đậm, phần phiến hình bầu dục rộng màu
vàng có nhiều gân dọc. Nhị nhiều, không đều, dính nhau ở phần lớn chỉ nhị,
ống chỉ nhị màu trắng, đáy màu tím. Vòi nhụy 5.
Quả hình bầu dục tròn, dài 3-4cm, màu xanh có lông cứng, lá đài phụ
bao xung quanh.
Hạt to 4-5mm, màu nâu hình thận và không lông.
21
22
Ảnh 4.1.1.1. Abelmoschus crinitus Wall.
Ảnh 4.1.1.2. Lá cây Abelmoschus crinitus Wall.
23
Ảnh 4.1.1.3. Cụm hoa và quả cây Abelmoschus crinitus Wall.
Ảnh 4.1.1.3. Lá kèm cây Abelmoschus crinitus Wall.
4.1.2. Abutilon indicum (L.) Sweet. (Cối xay, Đằng xay, Kim hoa thảo,