Các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại vườn quốc gia Yok Don - Pdf 13

D
D

ựá
á
n
nP
P
A
A
R
R
C
C C
ỤC KIỂM LÂM,
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Đánh giá
Các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm

IUCN - Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
Bản quyền: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quố
c (UNDP)
Lưu trữ tại:
www.undp.org.vn/projects/parc
Các quan điểm đưa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nhân tác giả chứ không nhất thiết là
quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Cục Kiểm lâm hay cơ quan chủ quản của tác
giả.
Bản tiếng Việt này được dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Do số lượng báo cáo của dự án quá lớn, công
tác biên dịch có thể còn thiếu chính xác hoặc sai xót. Nếu có nghi ngờ, xin tham khảo bản gốc tiếng
Anh.
Đ
ây là báo cáo nội bộ của dự án PARC, được xây dựng để phục vụ các mục tiêu của dự án. Báo cáo
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thành phần của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái mà
dự án sử dung. Trong quá trình thực hiện dự án, một số nội dung của báo cáo có thể đã được thay
đổi so với thời điểm phiên bản này được xuất bản.
Ấn phẩm này được phép tái xuất bản cho mụ
c đích giáo dục hoặc các mục đích phi thương mại khác

5.2. Phác thảo chiến lược cho Dự án PARC ở Vườn quốc gia Yok Don 31
6. KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC CHO 12 THÁNG TỚI 35
7. KẾT LUẬN 37
8. TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 1: ĐIỀU KHOẢN THAM CHIẾU: ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU CỦA PARC VỀ LÂM
NGHIỆP.
39
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG TÁC THỰC ĐỊA
41
PHỤ LỤC 3: LỊCH TRÌNH LÀM VIỆC CỦA NHÓM LÂM NGHIỆP TỪ 19 ĐẾN 23 THÁNG 3
NĂM 2002
42
PHỤ LỤC 4: TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CHUNG Ở BA XÃ VÙNG ĐỆM 43 2
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BZ Vùng đệm
D&D Dự báo và Thiết kế
CFM Quản lý Rừng dựa vào Cộng đồng
CIPP Bối cảnh, Đóng góp, Quá trình và Sản phẩm
ERZ Vùng Tái sinh Sinh thái (thuật ngữ về khoanh vùng của Chính phủ Việt Nam)
FIPI Viện Quy hoạch và Kiểm kê Rừng (cấp quốc gia)
FPD Cục Kiểm lâm (Chính phủ Việt Nam)
FUPZ Vùng Bảo vệ của Đơn vị Kiểm lâm (thuật ngữ của Chính phủ Việt Nam: địa bàn hoạt
động của Trạm Bả
o vệ)
GEF Quỹ Môi trường Toàn cầu

TOR Đ
iều khoản Tham chiếu
UNDP Chương trình Phát triển của LHQ
UNOPS Văn phòng Hỗ trợ Dự án của LHQ
UNV Tình nguyện viên của LHQ
WWF Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên: một tổ chức phi chính phủ quốc tế có các
vănphòng ở Hà Nội
YDNP Vườn Quốc gia Yok Don 3
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
LỜI NÓI ĐẦU
Hình thành các Khu bảo vệ để Bảo tồn Tài nguyên sử dụng Sinh thái Cảnh quan (PARC) là
một nỗ lực kết hợp của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn -MARD) và Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP). Văn phòng Hỗ trợ Dự án
của LHQ (UNOPS), thực hiện dự án này cùng với sự cộng tác của Cục Bảo vệ Rừng (FPD)
thuộc MARD. Việc thực hiện trên thực địa được ti
ến hành bởi một công-xoóc-xium nhà thầu
phụ là Scott Wilson Asia-Pacific Ltd., The Environment and Development Group, và Forest
Renewable Resources Limited, với sự hợp tác của các quan chức chính phủ ở các xã,
huyện và tỉnh, của nhân viên các khu bảo vệ và của cộng đồng dân cư các địa phương. Dự
án PARC do Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) và UNDP/TRAC đồng tài trợ và đây là dự án
nằm trong khuôn khổ chiến lược hoạt động của GEF nhằm bảo tồn đa dạng sinh học.

Dự án PARC tìm cách phá triển một mô hình thể hiện có hiệu quả để bảo tồn vệ di sản da
dạng sinh học đáng kể của Việt Nam thông qua bảo vệ nơi ở. Bằng cách sử dụng phương
pháp tiếp cận sinh thái cảnh quan – là phương pháp liên kết sự đang dạng trong việc, dự án
sẽ giúp xoá bỏ các mối đe doạ đối với đa dạng sinh học bằng cách gắn bả
o tồn với các mục

có một điều chắc chắn rằng một số vấn đề trình bày và đưa ra trong báo cáo này có thể sẽ
thay đổi về quy mô, thời hạn cũng như chiến lược thực hiện. Sở dĩ có thể phải có nh
ững
sửa đổi đó là vì đòi hỏi phải sử dụng phương pháp mang tính tổng hợp liên kết bảo tồn với
phát triển kinh tế xã hội của Dự án PARC, yếu tố bền vững trong mọi hoạt động của Dự án
PARC, và bất cứ thay đổi nào có thể xảy ra trong môi trường kinh tế xã hội và môi trường lý
sinh ở địa phương do việc thực hiện các hoạt động của Dự
án PARC gây ra.
Giám đốc Hiện trường
PARC Yok Don

4
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
1. GIỚI THIỆU
Dự án PARC Yok Don được đề xướng năm 1999 dưới sự quản lý của GTZ/WWF. Giai
đoạn này của dự án đã đạt được một số thành tựu song nói chung kết quả của nó vẫn được
coi là không thỏa đáng. Tháng 2 năm 2001 hợp đồng thầu phụ về quản lý với GTZ/WWF kết
thúc. Cuối năm 2001, Dự án được đấu thầu lại. Hợp đồng quản lý mới được trao cho một
liên doanh giữ
a Scott Wilson-Asia Pacific, The Environment and Development Group (EDG)
và FRR Limited (cũng là đơn vị quản lý dự án PARC Ba Bể – Na Hang). Dự án PARC Yok
Don lại bắt đầu lại theo một hợp đồng thầu phụ mới vào ngày 22 tháng 11 năm 2001.
Tài liệu này là một báo cáo kết hợp của một nhóm các chuyên gia lâm nghiệp địa phương
của Trường đại học Tổng hợp Tây Nguyên. Nhóm chuyên gia này được thành lập và lựa
chọn theo ý kiến đề xuất của địa phương sau khi có ý kiến của Ông Reudi Felber – là điều
ph
ối viên của dự án Lâm nghiệp xã hội Helvetas Khu vực, đóng tại Trường đại học Nông
nghiệp và Lâm nghiệp Thành phố Hồ Chính Minh. Nhiệm vụ được tiến hành bởi 4 thành viên
của nhóm do Tiến Sĩ Bảo Huy đứng đầu, và bao gồm ông Võ Hùng, bà Cao Thị Lý và Ông
Nguyễn Đức Đính trong khoảng thời gian từ 19 tháng 3 đến 23 tháng 3 năm 2002 (tổng số

Khi làm việc với nhau các thành viên trong nhóm có thể trình bày hàng loạt các vấn đề khác
nhau trong một khoảng thời gian khá ngắn và khi mỗi thành viên trong nhóm làm việc riêng
lẻ họ có thể đánh giá sâu các vấn đề đã được xác định đó. Cach tiếp cận theo nhóm cũng

5
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
có thể làm cho đối tượng nhóm người được phỏng vấn rộng rãi hơn có cả nam cả nữ và các
vấn đề tiềm năng về giới cũng có thể được đặt ra hiệu quả hơn. Nhóm đã sử dụng hàng
loạt các phương tiện tham gia bao gồm phân tích theo SWOT và CIPP để xác định quy mô
chung của các vấn đề liên quan, bám cơ cấu các cuộc phỏng vấn để thu thập và phân loại
các quan điểm khác nhau được
đưa ra và cũng bằng cách sử dụng một ma trận quy hoạch
dựa trên yếu tố mục đích, nhóm đã xác định được việc thảo luận và đánh giá các khả năng
phát triển chiến lược và các hoạt động nhằm hỗ trợ dự án trong tương lai. (Lịch trình thực
hiện nhiệm vụ này được nêu trong Phụ Lục 3

6
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
2. TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN HIỆN NAY
2.1. Xác định địa điểm mục tiêu
Để có được đánh giá ban đầu này, địa điểm mục tiêu được xác định là một địa điểm chủ yếu
phù hợp với vị trí của các hoạt động đã được dự kiến và thực hiện trong giai đoạn I, đó là xã
Krong Na ở huyện Buon Don. Tuy nhiên sau khi đến và thực hiện các hoạt động tại Yok
Don theo giai đoạn II, thực tế cho thấy để phát triển một vùng đệm có hiệu qu
ả, khu vực này
phải được mở động tới cả các xã Ea Huar và Ea Wer cũng ở huyện Buon Don và phải mở
rộng điều tra tới cả các xã Ea Po và Dak Wil thuộc huyện Cu Jut ở phía nam và các xã Chu
M’Lanh và Ea Bung ở huyện Ea Sup ở phía bắc. Việc mở rộng điều tra tới các huyện này ở
phía bắc và phía nam là điều đặc biệt quan trọng vì gần đây các đề xuất mở rộng vườn quốc
gia sang các vùng lân cận c

369,2
306.1
Diện tích phân theo Kiểu Rừng:
+ Rừng thường xanh
+ Rừng Rụng lá Khô

4,610
106,685.5
Vùng đệm 133,890
Vùng đệm bao gồm các huyện sau:
Huyện Ea Sup
+ Xã Ea Bung 28,832

1
Dữ liệu của Viện Quy hoạch và Kiểm kê Rừng (FIPI) đề xuất mở rộng vườn quốc gia Yok Don, 1998
sửa đổi 2001
2
Bảng bỏ qua xã Dak Wil cũng nằm trong huyện Cu Jut và sẽ thuộc về Vườn quốc gia.

7
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
Diện tích (ha)
+ Xã Ch- Ma Lanh
Huyện Buon Don
+ Xã Krong Na
+ Xã Ea Huar
+ Xã Ea Wer

các dữ li
ệu chung về sản xuất nông
nghiệp ở ba huyện đó và các số liệu
về tài nguyên thiên nhiên và kinh tế
xã hội này được trình bày trong Phụ
Lục 4. Nhìn chung các số liệu mô tả
chi tiết diện tích từng kiểu sử dụng
đất và diện tích các cây trồng chính
ở từng xã.
Sau các cuộc phỏng vấn chung, các
nhân viên khuyến nông ở địa
phương đã được phỏng vấn theo nhóm để khảo sát các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở
cấp xã. Các nhân viên khuyến lâm ở cấp huyện đã được bố trí thành các nhóm theo xã và
từng nhóm đã được yêu cầu liệt kê các phương pháp nông nghiệp khác nhau đang được
nông dân sử dụng ở các xã của họ. Sau khi đã xác định được các thực tiễn nông nghiệp
khác nhau, từng thực tiễn đã được phân tích để xác định các vấn đề hiện tại và các giải
pháp có thể cho các vấn đề đó. Các phát hiện chính đượ
c trình bày trong Bảng 2 dưới đây.
Bảng 2: Tình hình trồng trọt ở các xã thuộc huyện Buon Don ở vùng đệm YDNP3
Xã Thành phần sản xuất Vấn đề Giải pháp
Vật nuôi: trâu, gà, lợn,

Thiếu thực tiễn về thú y ở địa
phương
Đào tạo về thú y ở địa
phương
Thiếu công nghệ các giống lúa
mới
Giới thiệu các giống có năng
suất cao


3
Cần nhớ rằng phần lớn các đối tượng này rất ít học.

9
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
Xã Thành phần sản xuất Vấn đề Giải pháp
Cây lâu năm; hạt
điều, hoa quả
Không có khả năng tiếp cận
các giống hạt điều có năng
suất cao

Việc nhân giống có thể
thực hiện ở địa phương
trên các cây mẹ có năng
suất cao đã được xác
định
Lao động Nhân lực thấp Nhân công trong địa
phương rất sẵn có và giá
công nhật thấp
Các hợp đồng bảo
vệ rừng
Cộng đồng chủ yếu phụ
thuộc vào rừng trong thời
gian khốn khó
Độ che phủ của rừng khá
cao
Vật nuôi: trâu, gà,
lợn, bò

ích của việc dùng phân
hữu cơ và các thực tiễn tự
nhiên khác
Cây lâu năm; hạt
điều, hoa quả
Không có khả năng tiếp cận
các giống hạt điều có năng
suất cao

Việc nhân giống có thể
thực hiện ở địa phương
trên các cây mẹ có năng
suất cao đã được xác
định
Lao động Nhân lực thấp Nhân công trong địa
phương rất sẵn có và giá
công nhật thấp Ea Huar
Các hợp đồng bảo

Thiếu vốn đầu tư sản xuất
Khu vực trồng lúa thiếu nước
tưới tiêu
Có các cơ hội phát triển thuỷ
lợi

Việc phát triển thị trường địa
phương còn nghèo nàn
Việc phát triển và nâng cấp
đường xá hiện nay có thể
dẫn tới các thị trường mới
Cây hàng năm: lúa
gạo, ngô, đậu phộng
Đất đai kém màu mỡ vì người
dân tộc thiểu số chủ yếu bán
phân hữu cơ chứ không dùng
phân trên đồng ruộng của mình
Giáo dục và trình bày lợi ích
của việc dùng phân hữu cơ
và các thực tiễn tự nhiên
khác
Không có khả năng tiếp cận
các giống hạt điều có năng
suất cao

Việc nhân giống có thể
thực hiện ở địa phương
trên các cây mẹ có năng
suất cao đã được xác định
Vấn đề liên quan tới sự phụ

lưu ý rằng, các nông dân là người dân tộc thiểu số không được tiếp cận nhiều với các giống
cây trồng mới nên vì thế các công nghệ và thực tiễn mới được gi
ới thiệu vào các xã này
đang bị mai một. Nhiều cán bộ xã cũng nói rằng chính những gia đình này là những gia đình
phụ thuộc nhiều nhất với nguồn thu nhập bổ sung lấy từ các tài nguyên rừng ở các khu vực
xung quanh. Về vấn đề này, một số Lâm sản không phải là Gỗ (NTFP’s) có vẻ như được
thu lượm từ vườn quốc gia và từ cả những khu vực rừng đã bị thoái hoá ở vùng
đệm.
Ví dụ, sau khi nói chuyện với dân làng Buon Tri, xã Krong Na, nhiều người đã được ghi nhận
là thường xuyên thu lượm lâm sản. Sau các cuộc chuyện trò không chính thức với các
nhóm nông dân, có thể ước tính được khoảng 40% số hộ ở làng này phải vào rừng thu nhặt
lâm sản để hỗ trợ cho sinh hoạt của mình. Theo báo cáo phổ biến nhất thì các loài thường
được thu lượm là rùa (Testudinidae sp.), Thằn lằn (Varanidae sp.), và một số loài rắn. Việc
thu gom nh
ựa của cây Dipterocarp sp. là hoạt động có tính truyền thống mà nhiều họ gia
đình trong vườn quốc gia vẫn làm. Ngoài ra, theo báo cáo nhiều gia đình trong khi thu gom
nhựa cây hay bẫy thú rừng họ sẽ thu lượm bất cứ lâm sản nào mà họ gặp trên đường. Vì
vậy, số lâm sản thực sự được thu gom trong mỗi chuyến đi rừng thường rất đa dạng và khá
phong phú.
11
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
3.1. Các kết quả ban đầu
Sau khi được phỏng vấn, các xã và huyện đều đề cập đến việc là mặc dù các mo hình cây
trồng ở ba xã này là khá giống nhau, nhưng xã Krong Na lại thường đạt năng suất thấp nhất
do sự kém mầu mỡ của đất trồng ở đây.
Các giống cây trồng chủ yếu ở đây vẫn là lúa gạo, hạt điều, hoa quả (chủ yếu là nhãn và
soài), bông, đậu mung, mía, và hầu hết các hộ nông dân trong xã đều có m

tiếp nhận hạt giống của các loại lúa lai mới nhưng lại không thể giữ lại đủ số hạt giống để
gieo trồng vào mùa sau. Vì thế liệu nên cung cấp hạt giống trên cơ sở bao c
ấp hay dùng
phương pháp cất trữ (Ngân hàng Lúa) là một vấn đề cần điều tra.
Theo Phó chủ tịch uỷ ban nhân dân Huyện Krong Na, Ông Kham Thung, thì mức sống ở xã
Krong Na là thấp nhất ở Huyện Buon Don. Đây là kết quả của việc đất đai kém màu mỡ và
sự hạn chế về diện tích đất trồng lúa. Vì thế hầu hết các hộ gia đình mới phải phụ thuộc vào
việc thu gom lâm sản để h
ỗ trợ cho sinh hoạt hàng ngày của mình. Bên cạnh đó họ còn có
nhu cầu mở rộng diện tích canh tác của mình và những yếu tố này là áp lực rất lớn đối với
việc bảo tồn tài nguyên ở YDNP.
Theo ý kiến của những người tham gia sống ở xã Ea Huar, xã này hiện thiếu đất trồng.
Nguợc lại, hai xã Ea Wer và Krong Na lại có diện tích đất trống rất lớn có thể chuyển thành
đất canh tác khi cần. Tuy nhiên, ở Ea Huar tỷ lệ
đất trên hộ dân tháp hơn rất nhiều còn diện
tích đất “mới” có sẵn để chuyển thành đất nông nghiệp thì lại vô cùng khan hiếm. Vì thế cần
thăm dò các phương pháp thúc đẩy sản xuất trên những diện tích đất có sẵn và đặc biệt là
cần điều tra các phương pháp mở rộng diện tích đất trồng lúa hai vụ cần thông qua việc mở
rộng sơ đồ thuỷ lợi hiện nay.
12
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
3.2. Cây lâu năm
Nông dân ở xã đã đưa ra ý kiến về một số giống cây lâu năm có thể phát triển theo môt hình
nông lâm phố hợp ở địa phương. Có ba cây trồng tỏ ra là khả quan nhất về mặt kinh tế ở
thời điểm hiện tại đó là hạt điều, bông và soài.
Nhiều cán bộ khuyến nông lâm ở xã lại cho rằng cây soài là cây trồng nông lâm có khả năng
phát triển tiếp. Ví dụ, ông Lê Việt Giá đã chứng t

Một vấn đề khác phát sinh từ tình hình đói kém ở các xã mục tiêu là việc thiếu vốn đầu tư
vào việc trồng các cây trồng mới. Điều này đặc biệt khó giải quyết khi cây trồng được xúc
tiến là một loại cây lâu năm vì người nông dân phải đợi hàng n
ăm trước khi có vụ thu hoạch
đầu tiên.

3.3. Đất rừng dư thừa
Khu vực mục tiêu của Dự án PARC là khu vực có khá nhiều rừng so với các khu vực khác ở
Việt Nam. Tuy nhiên với tỷ lệ bòn rút như hiện nay, vấn đề đặt ra là liệu còn bao nhiêu phần
diện tích rừng đó sống sót trừ những khu vực trong Vườn quốc gia được bảo vệ bởi các quy
định của Chính phủ và nhân viên của Cục Kiểm lâm.
Truyền thống du canh có vẻ không còn nữa trong bối cảnh sử dụng đấ
t hiện nay, tuy nhiên
cách đây chưa lâu thói du canh vẫn còn rất phổ biến ở khu vực này. Tuy nhiên, trái lại, chỉ
mới vài năm gần đây rất nhiều trong số diện tích rừng ở khu vực mục tiêu này đã biến mất.
Mãi tới năm 1999 phần lớn diện tích của các khu vực mục tiêu này mới được quản lý bởi
doanh nghiệp rừng nhà nước Ea Tul và diện tích đó được khai thác theo hạn ngạch như
nhữ
ng cánh rừng sản xuất.
Từ khi đóng cửa doang nghiệp lâm nghiệp nhà nước Ea Tul, phần lớn diện tích đã được
chuyển thành đất nông nghiệp với sự xuất hiện của nhiều hộ dân và định cơ tại đây. Tuy
nhiên việc khai thác theo kiểu truyền thống vẫn tiếp tục xảy ra đối với những khu vực rừng
còn lại. Một quang cảnh thường gặp vào mỗi buổi sang trên con
đường từ Buôn Ma Thuột
tới Vườn quốc gia đó là những chiếc xe goòng chất đầy gỗ súc và gỗ kém chất lượng vừa

13
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
được khai thác từ những khu vực rừng còn sót lại. Việc tiếp tục khai thác gỗ như vậy đang
ngăn cản việc phục hồi các khu vực còn lại với diện tích rừng nhỏ nhoi này mà việc phục hồi

xuất của nông dân trong quá
trình cày cấy. Thông qua việc
khởi xướng một số mô hình
thử nghiệm phương pháp mở
rộng này chủ yếu chỉ nhằm
chứng minh cho những hoạt
động mà dự án hỗ trợ.
Thực hiện:
Việc đánh giá các thử nghiệm
có tính kết quả của PARC chỉ được thực hiện ở các làng Jeng Lang và Buon Tri A & B, cụ
thể là:

Ảnh 2: Việc thử nghiệm trồng nhãn và soài trong vườn nhà do PARC
hỗ trợ ở làng Tri B bắt đầu từ tháng 7 năm 2000. Đây là một thử
nghiệm thành công của một hộ gia đình thiểu sô. Tuy nhiên, xin lưu
ý việc sử dụng quá nhiều gỗ để bảo vệ cho mỗi cây trồng bởi 4 khói
gỗ/4 mặt xung quanh. Đó có phải là bảo tồn không?

• Nông lâm nghiệp kết hợp với trồng cây ăn quả
• Vườn nhà với 4 hộ gia đình ở làng Jeng Lang,
• Tín dụng nông thôn ở Xã Krong Na trong việc hỗ trợ mua hạt giống lúa lai
• Ổn định bờ sông với các giống cây bản địa
Các thử nghiệm và hoạt động trên chỉ được tiến hành ở xã Krong Na.
Việc kết hợp nông lâm nghiệp với trồng cây ăn quả xuất hiện trong 4 tháng năm 2000, trong
th
ời gian này gần 7 héc ta nhãn và soài đã được trồng. Quan sát trên thực địa cho thấy cách
làm này phù hợp với điều kiện đất trồng, thời tiết và nguồn lực của các nông dân dân tộc
thiểu số ở đây. Cả hai giống cây này phát triển tốt và có khả nanưg ra quả sau một năm.
Tuy nhiên các ý tưởng được thể hiện trong kế hoạch này có vẻ chưa được phổ biến rộng rãi


tiếp tục nữa. Việc trồng giống lúa do mộ
t quỹ xoay vòng hỗ trợ vì thế khi nông dân biết về
việc quy xoay vòng đó đã bị dùng hết thì họ quay trở lại trồng các giống lúa truyền thống vì
không có khả năng mua giống lúa lai.
3.5. Các đề xuất để Dự án PARC hỗ trợ ba xã vùng đệm của Vườn
Quốc gia Yok Don

Sau khi quan sát thực địa và trao đổi với các nông dân, các cán bộ khuyến nông lâm chủ
chốt và các chủ tịch xã, một vài ý tưởng và đề xuất có thể được thực hiện. Nhóm lâm
nghiệp đã đưa ra các khả năng cụ thể sau:
• Về nguyên tắc, các cơ hội phát triển ở vùng đệm Yok Don là rất cao tuy nhiên cần
ngay lập tức thu thập thông tin bổ sung để giúp việc xác định các cơ hội mới. Những
ý tưởng này sau đó c
ần phải được phát triển thông qua quá trình thể hiện thực tế và
cần được xúc tiến trong toàn bộ khu vực vùng đệm bắt đầu từ các làng mục tiêu và
từ những nông dân chủ chốt đã được xác định.
• Mặc dù lượng thông tin trong vùng vẫn vô cùng dồi dào song những thông tin đó cần
được phân tích và xem xét thêm để kiểm tra chất lượng và tính xác thực của những
thông tin có trong vùng, những số liệu đã quá date và không chính xác cần được xác
định, va fngoài ra việc l
ưu giữ thông tin và những thông tin cần hiệu đính lại để đảm
bảo cơ sở thích hợp cho việc theo dõi kết quả dự án.
• Cần thăm dò các cơ hội nâng cao năng suất cây trồng hiện nay đặc biệt là gạo bằng
cách giới thiệu áp dụng các thực tiễn canh tác mới hoặc tiến bộ được hỗ trợ bởi các
giống lúa lai có năng suất cao. Hỗ trợ này có thể
được thực hiện thông qua phương
pháp thử nghiệm /thể hiện như đã nêu.
• Các phương án tín dụng nông thôn cũng cần được đánh giá để hỗ trợ hàng loạt các
hoạt động can thiệp của Dự án PARC bao gồm các cơ cấu xúc tiến nhằm tăng


dưới các vòm cây của rừng tái
sinh. Tuy nhiên cần phải có một

Ảnh 3: Đây là cánh rừng dipterocarp non bị thoái hoá ở vùng
đệm, ở đây người nông dân đề xuất việc giao rừng kết hợp với
việc làm giàu rừng thông qua sử dụng các kỹ thuật nông lâm
kết hợp kể cả việc trồng điều, soài và nhãn
cơ chế quản lý phù hợp để đảm bảo phòng cháy cho những khu vực đó vào mùa khô nhằm
tăng cường tính thành công của những hoạt động đó.
• Cũng cần xem xét thêm các phương án quản lý rừng khác để có thể giúp giao những
vùng đất trống dư
thừa cho nông dân địa phương tất nhiên cũng phải quy định rằng đất
vẫn thuộc độ che phủ của rừng. Kiểu hệ thống như vậy có thể đem lại những lợi ích to
lớn trong tương lai, vì nó không chỉ tạo ra nguồn cung ứng gỗ bổ sung có thể khai thác
bền vững mà nó còn giúp bảo tồn đất đai theo chiều hướng khả quan nhất để trong
tương lai, nếu cần,
đất có thể chuyển đổi được thành đất nông nghiệp. Hiện tại, những
diện tích đất chưa được giao cho ai đã bị phát quang với quy mô lớn và sự xói mòn đất
sau đó đã làm cho đất bị thoái hoá và đất đó sẽ không thể dùng cho mục đích nông
nghiệp nếu không tiến hành các hoạt động khôi phục đáng kể để tái sinh các tầng đất và
độ mầu mỡ của đất.
• Các phương pháp kỹ thu
ật nông lâm nghiệp kết hợp mới sẽ được xúc tiến cho dân làng
phải đáp ứng được nhu cầu của người nông dân. Và những phương pháp đó cần phải
được kiểm nghiêm trên thực địa bởi chính những người nông dân và phải bao gồm các
hệ thống kết hợp được nông nghiệp với lâm nghiệp đặc biệt là các hệ thống có kết hợp
cả việc chăn nuôi gia súc ở địa phương.
• Tăng cường năng lực của người dân địa phưong trong việc theo dõi và đánh giá các
hoạt động của mình và nhờ đó khuyến khích họ thử nghiệm với chính quy trình sản xuất
của mình. Hỗ trợ việc khuyến nông lâm từ người nông dân này dến người nông dân

• Xác định các cơ chế xúc tiến sự phối hợp giữ
a những người có liên quan ở địa phương
bao gồm nhân viên thực địa, các cán bộ khuyến nông lâm, nhân viên YDNP, quan chức
địa phương và dân làng trong các hoạt động bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển
cộng đồng. Sự phối hợp này sẽ tăng cường mối liên hệ giữa hai loại hoạt động đó và
chứng minh rằng các cơ quan bảo tồn không chỉ quan tâm tới bảo tồn mà còn tích cực
thể hiện cam kết của mình trong việc phát tri
ển nông thôn bền vững cho người dân địa
phương sống ở vùng đệm.
Từ các ý tưởng trình bày ở trên, một khuôn khổ hướng dẫn hợp lý cho chiến lược hỗ trợ 3
xã cùng đệm của PARC đã được hình thành và được trình bày trong Bảng 3.

Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
Bảng 3: Chiến lược hỗ trợ 3
xã vùng đệm của PARC
Mục đích Chỉ thị Phương pháp quan trắc
1. Thực hàng việc sử dụng đất bền vững Sử dụng đất ở làng xã theo kế hoạch Đánh giá có sự tham gia của cộng đồng
2. Phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng Một số làng (như Drang Phok trong Vườn quốc gia)
diện tích rừng do cộng đồng quản lý
Quy định về quản lý rừng

Hoạt động Việc làm Đầu ra Kết quả Ảnh hưởng Chỉ thị
1.1.1. Quy hoạch sử dụng đất
ở cấp ở làng/xã có sự tham gia
của cộng đồng
Kế hoạch sử dụng đất ở xã/làng Quan trắc có sự tham gia của
cộng đồng
1.1.2. Khởi xướng phát triển
công nghệ nông lâm nghiệp kết
hợp có sự tham gia của cộng


1.1.Hệ thống
canh tác bền
vững ở vùng
đệm Cac sloại giống
đã
được xác định
và phát triển Quy hoạch sử dụng
đất
Quan trắc với sự
tham gia của các
cơ quan hữu quan
1.2.1. Xúc tiến việc giao rừng
tự nhiên cho hộ gia đình/cộng
đồng
Rừng ở gần làng sẽ được giao
cho hộ gia đình và cộng đồng
quản lý

Quan trắc có sự tham gia của
cộng đồng
1.2.4. Điều tra NTFP và hỗ trợ
cộng đồng trong quản lý.
Báo cáo của NTFP trong rừng
Kế hoạch quản lý của NTFP
Đánh giá/quản lý NTFP dựa trên
kiến thức bản địa

2.1. Nâng cao
khả năng của
cộng đồng và
rừng do cộng
đồng quản lý

Rừng do cộng
đồng tự quản Đã có thể tự quan
trắc
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
4. THỰC TIỄN LÂM NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
RỪNG NHÀ NƯỚC
Căn cứ vào các dữ kiện thứ yếu của 3 trong số 4 Doanh nghiệp Rừng Nhà Nước (SFE’s) ở
vùng đệm của Vườn quốc gia Yok Don là các SFE Drang Phok, Buon Don và Dak Wil, các
chỉ số cho thấy mỗi trong số các doanh nghiệp này đều chịu trách nhiệm quản lý một diện
tích đất rừng lớn. Trong nhiều trường hợp đất rừng này được duy trì cùng với những cánh
rừng trong Vườn quốc gia mặc dù rừng do các SFE đó quản lý chủ yếu là r
ừng thứ sinh và


15. 494,9
4
9. 538,6
10. 206
0
Tổng diện tích đất không phải là
rừng
Đất trống
Đất canh tác
Đất khác
991.1
900.0
53.1
38.0
368.0
71.8

297.2
348.3 309.4
Tổng diện tích 33,470.0 15,332.0 35,897.2
Loại rừng
Rừng bảo vệ
Rừng sản xuất
Rừng đặc dụng (quân
đội)
Rừng không phân loại

Buon Don nhận khoảng 91,992,000 đồng tương đương với 6,132 USD và Dak Wil
nhận khoảng 215,382,000 đồng tương đương với 14,358 USD từ ngân sách nhà
nước. Căn cứ vào các trách nhiệm quản lý rừng của mình thì các SFE chỉ chịu trách
nhi
ệm phòng cháy cho rừng.
• Khai thác gỗ. Mỗi SFE đều được phân hạn ngạch khai thác gỗ và mỗi doanh nghiệp
khai thác khoảng 2,000 – 3,000 mét khối gỗ hàng năm.
• Các hợp đồng Bảo vệ Rừng theo chương trình 661 của chính phủ. Các doanh
nghiệp rừng Nhà nước chịu trách nhiệm giao đất không phù hợp để khai thác gỗ theo
các Hợp đồng Bảo vệ Rừng. Các hợp đồng này được ký kết giữa SFE và nông dân
trong vùng, là những người được trợ cấ
p hàng năm để đổi cho việc được giao việc
bảo vệ và quản lý diện tích được giao. SFE chịu trách nhiệm giám sát hợp đồng và
đảm bảo thanh toán đúng theo quy định của hợp đồng đã thỏa thuận. Những hợp
đồng này thông thường chỉ được phép thực hiện ở những khu vực rừng được giao
như rừng bảo hộ. Tuy nhiên doanh nghiệp Drang Phok được giao rừng sản xuất cho
nông dân người dân tộ
c thiểu số, theo chính sấch của chính phủ đối với vùng sâu
vùng xa.
4.1. Đánh giá phê bình về các Doanh nghiệp Rừng Nhà nước
Theo báo cáo của các Doanh nghiệp Rừng Nhà nước, họ đang gặp phải một số khó khăn
trong việc đạt được mục tiêu đề ra của mình. Các khó khăn chính như sau:
• Phụ thuộc vào phương pháp quản lý kế hoạch từ trên xuống dưới
• Ngân sách cấp cho các SFE thấp vì vậy lương của cán bọ nhân viên rất thấp. Điều
này ảnh hưởng tới tinh thần và động lực làm việc.
• Cơ s
ở hạ tầng của các SFE nghèo nàn và tất cả các SFE đều khong đủ năng lực
thực hiện nhiệm vụ của mình. Số lượng nhân viên phụ thuộc vào ngân sách do nhà
nước cáp trong khi ngân sách đó lại không đủ để tuyển dụng đủ số người quản lý
SFE. Điều này đặc biệt quan trọng khi mà muốn kiểm soát tình hình chặt gỗ trái

này.
Vấn đề lo ngại ở đây là mặc dù Dak Wil và Yok Don có vai trò quan trọng tương hỗ lẫn nhau
trong quá trình hỗ trợ những loài động vật hoang dã quý giá của Vườn quốc gia Yok Don,
nhưng lại khong có sự giàn xếp chính thức nào dể đảm bảo sự cộng tác giữa hai đơn vị này
trong quá trình bảo tồn sự đa dạng sinh vật quan trọng này. Ngạc nhiên hơn nữa là cả hai
đơn vị này lại cùng thuộc đơn vị chủ quản là Bộ Nông nghiệp và Phá triển Nông thôn
(MARD).
4.3. Phác thảo chiến lược phát triển lâm nghiệp ở 3 SFE và triển
vọng hỗ trợ của Dự án PARC ở vùng đệm
Sau khi đánh giá tình hình ở các Doanh nghiệp Rừng Nhà nước ở vùng đệm và sau khi
quan sát trên thực địa cũng như trao đổi với chủ tịch hội đồng quản trị và nhân viên của các
SFE, sau đây là các chiến lược phát triển các SFE này:
• Cần tiến hành ưu tiên đến thăm thực địa và phỏng vấn bốn SFE xung quanh Vườn
quốc gia Yok Don để xác định các triển vọng hợp tác nhằm đạt được các mục tiêu
của dự án PARC. Vi
ệc đánh giá này cần điều tra hai vấn đề riêng biệt; thứ nhất là
khả năng kết hợp các SFE Drang Phok và Buon Don vào trong YDNP và thứ hai là
đánh giá 2 diện tích rừng ở phía nam của SFE Cu Jut và STC Dak Wil là các khu
rừng có một số lượng động vật hoang dã đáng kể di cư vào mùa khô. Cần tiếp tục
khảo sát việc mở rộng và kết hợp các hoạt động của PARC nhằm hỗ trợ quản lý bảo
tồn của toàn bộ
cảnh quan xung quanh YDNP.
• Trong một vài khảo sát về động vật hoang dã, STC Dak Wil đã được coi là một địa
điểm quan trngj cho việc di chuỷen theo mùa của bộ móng guốc lớn gắn liền với
YDNP, ví dụ xem Canh et al 1997. Các khả năng kết hợp mục tiêu bảo tồn đa dạng
sinh học của PARC với mục tiêu quản lý của STC Dak Wil cần phải được khảo sát,
điều này có thể đảm bảo rằng không chỉ có th
ể bảo tồn một cách có hiệu quả cả hai
vùng mà lợi ích kinh tế lâu dài của STC cũng được bảo đảm. Từ lâu mọi người đã
thừa nhận rằng để bảo tồn các loài thú có vú lớn gắn liền với Yok Don như Bò rừng

• Hình thành một cơ chế quan sát và đánh giá có sự tham gia của những người có liên
quan. Việc làm này sẽ giúp SFE tăng cường kỹ năng và năng lực quản lý của mình.
• Giao rừng và chuyển giao việc bảo vệ rừng là nhữ
ng việc làm rất cần thiết đối với
quá trình bảo vệ rừng có sự tham gia của nông dân và cộng đồng địa phương. Ở
vùng đẹm có những diện tích rừng tự nhiên rất lớn chưa có chủ. Vì thế, nếu không
được quản lý một cách thích hợp những diện tích này sẽ bị khai thác và làm cho
rừng bị suy thoái và huỷ diệt. Giải pháp có thể áp dụng ở đây là khuyến khích hoạt
động tự quả
n của cộng đồng và chuyển giao/giao rừng cho dân địa phương những
người sống trong hay gần rừng quản lý.
• STC Dak Wil đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với mục tiêu bảo tồn lâu dài
Vườn quốc gia Yok Don, nó có thể xác định được nhu cầu hỗ trợ đặc biệt từ phía dự
án PARC vì mục tiêu phát triển bền vững các kế hoạch kinh doanh được định hướng
bảo tồn. Công ty này nằm ở phía nam YDNP với các di
ện tích rừng nằm sát với
những cánh rừng của Vườn quốc gia.
• Cần cộng tác với YDNP trong việc bảo tồn và quản lý rừng ở những nơi rừng giao
nhau. Cần tăng cường đào tạo ngay nguồn nhân lực cho STC đặc biệt phải nâng
cao nhận thức của họ về tầm quan tọng của phần diện tích rừng mà họ quản lý đối
với quá tình bảo tồ
n lâu dài sự đa dạng sinh học quan trọng của Vườn quốc gia Yok
Don. Dự án cũng cần hỗ trợ việc xác định ranh giới giữa hai diện tích rừng này theo
thỏa thuận giữa hai bên.
Từ những ý tưởng trên đây, một khuôn khổ hợp lý hướng dẫn chiến lược hỗ trợ của PARC
cho ba Doanh nghiệp Rừng Nhà nước đã được trình bày trong bảng 5.
Đánh giá các hoạt động trước đây và các triển vọng lâm nghiệp của Dự án PARC tại Vườn Quốc gia Yok Don
Bảng 5: Phác thảo chiến lược phát triển lâm nghiệp ở ba doanh nghiệp vùng đệm
Mục đích Chỉ số Quan trắc
1. Xúc tiến quá trình quản lý rừng bền vững SFE không đủ năng lực quản lý rừng

cộng đồng

Việc giám sát/đánh giá sẽ
được tiến hành hàng năm 1.1. Nguồn nhân lực
phát triển
Các nhân viên thực
địa được đào tạo và
tái đào tạo
Đủ nhân lực để đảm
đưong trách nhiệm Báo cáo HRD
Các kế hoạch riêng
bi
ệt
1.2.1. Quy hoạch các thực
tiễn lâm nghiệp
Plan of SFE will be planed by
the participatory way
Kê hoạch đã được thông
qua và sẽ thông báo cho
toàn công nhân
1.2.2. Thiết kế và thực hiện
một cơ chế siám sát/đánh giá
Sẽ có một cơ chế được thiết kế
để giám sát quýa trình quản lý

xã/làng/hộ gia đình
trong việc bảo vệ
Các báo cáo
Thiết lập một cơ
chế quan trắc
24

Trích đoạn KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC CHO 12 THÁNG TỚI
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status