Nghiên cứu nguồn tài nguyên phi gỗ của hệ thực vật tại Vườn Quốc gia Cúc Phương nhằm bảo tồn những tri thức bản địa và nguồn gen quý - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thúy Huệ
NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN PHI GỖ CỦA HỆ THỰC VẬT TẠI
VƢỜN QUỐC GIA CÚC PHƢƠNG NHẰM BẢO TỒN NHỮNG TRI THỨC
BẢN ĐỊA VÀ NGUỒN GEN QUÝ LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 8
1.1. Tổng quan nghiên cứu về tài nguyên phi gỗ 8
1.1.1. Tổng quan nghiên cứu cây đƣợc sử dụng làm thuốc 8
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu về cây đƣợc sử dụng làm thức ăn cho ngƣời 14
1.1.3. Tổng quan nghiên cứu thức ăn cho Vọoc mông trắng 15
1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 16
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 16
1.2.1.1. Vị trí địa lý. 16
1.2.1.2. Lịch sử địa chất và địa hình. 17
1.2.1.3. Thổ nhưỡng 18
1.2.1.4. Khí hậu thủy văn. 18
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
21
2.1. Đối tượng – phạm vi nghiên cứu 21
2.2. Thời gian nghiên cứu: 21
2.3. Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1. Phương pháp kế thừa 21
2.3.2. Phương pháp điều tra, phân tích – phân loại và xây dựng danh lục 22
2.3.2.2. Xử lý và trình bày mẫu 23
2.3.2.3. Xác định và kiểm tra tên khoa học 23
2.3.2.4. Xây dựng bảng danh lục thực vật 24
2.3.3. Phƣơng pháp đánh giá một số đặc điểm của hệ thực vật 25
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1. Đa dạng nguồn tài nguyên phi gỗ tại VQG Cúc Phƣơng. 27
3.2.1. Các loài cần đƣợc bảo vệ trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 43
3.2.2. Các loài cần được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP. 44
3.2.3. Các loài cần đƣợc bảo vệ theo khuyến cáo của UNEP - WCMC. 45

WHO
Tổ chức y tế Thế giới 6
MỞ ĐẦU

Việt Nam là đất nước nhiệt đới, là một trong những trung tâm đa dạng sinh
học quan trọng của thế giới và cũng là nước có tài nguyên rừng nhiệt đới giàu có cả
về diện tích và cả về chất lượng, đặc biệt là nguồn tài nguyên phi gỗ.
Nguồn tài nguyên phi gỗ đã và đang là một nguồn thu nhập của cộng đồng
dân cư miền núi ở hầu hết các nước nhiệt đới. Chính vậy, nguồn tài nguyên này
hiện được coi là một phần thu nhập kết hợp không thể thiếu trong chiến lược phát
triển bền vững quốc gia, trong các chương trình bảo tồn tài nguyên và môi trường,
chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và các chiến lược phát triển kinh tế xã hội khác
của các nước nhiệt đới. Đối với con người, tài nguyên phi gỗ được sử dụng cho
nhiều mục đích khác nhau như là nguồn lương thực bổ trợ (củ quả giàu tinh bột như
củ Mài, củ Nâu, ruột cây Búng bang,cây Đoác, ), các loại thực phẩm (thịt động vật
hoang dã, rau rừng, các loài gia vị, ) và các loài cây con dược liệu, làm thuốc chữa
bệnh.
Ngoài các giá trị kinh tế trực tiếp kể trên, tài nguyên phi gỗ còn có tiềm năng
lớn đối với việc bảo tồn các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thông qua việc góp phần làm
tăng tính đa dạng loài, giảm năng lượng hao phí do chuyển dời của các loài khi đi
tìm kiếm thức ăn, đảm bảo cân bằng sinh thái. Đặc biệt, tài nguyên phi gỗ là cơ sở
để tạo nên nhiều cơ hội cho các hoạt động quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia
của cộng đồng.
Việc nghiên cứu để tập hợp những giá trị tài nguyên phi gỗ đó là việc làm
8
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 . Tổng quan nghiên cứu về tài nguyên phi gỗ
Từ bao đời nay rừng mang lại cho con người nhiều nguồn tài nguyên quý
giá, trong đó có nguồn tài nguyên phi gỗ. Nguồn tài nguyên này đã thể hiện vai trò
quan trọng đối với đời sống, kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân, trong đó thể
hiện rõ nhất ở các vai trò làm thuốc, thức ăn cho người và thức ăn cho Vọoc mông
trắng.

loạt các cây chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)
chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thư+ơng
tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale R.Br) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu
chân răng, bướu cổ.
Ở đời Hán (năm 168 tr.CN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” đã kê
52 đơn thuốc chữa bệnh từ cây cỏ. Vào thế kỷ XVI Lý thời Trần đã thống kê được
12.000 vị thuốc trong tập “ Bản thảo cương mục” xuất bản năm 1595.
Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực
Đông nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược
liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài
có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc của vùng Đông và
Đông nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia”.
Nền Y học cổ truyền của Việt nam đã có từ lâu đời, nhiều bài thuốc, cây
thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả. Qua quá trình phát triển
của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn
sách có giá trị được gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng và
được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.
Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo
Vương - Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho
quân sỹ trên núi gọi là “ Sơn dược’ hiện vẫn còn di tích để lại tại một quả đồi thuộc
xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Tỉnh Hải Dương.
Vào thế kỷ XIII có hai danh y nổi tiếng đó là Phạm Công Bân và thầy thuốc
Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, vào đầu thế kỷ XIV ông biên soạn bộ “ Nam
10
dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có
nguồn gốc thực vật. Ngoài ra ông còn viết “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm 2 bài
hán nôm phú , tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách

vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (đã tái bản nhiều lần) giới thiệu 792 loài thực
vật làm thuốc. Năm 2005 tái bản lần thứ 13 Trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa
học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc trong đó
theo các nhóm bệnh khác nhau [27]. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học
và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại. Năm 1980 Đỗ
Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài
mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt nam” [9]
Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam Võ Văn Chi là người đầu
tiên có tâm huyết, năm 1976 trong luận án PTS khoa học của mình, ông đã thống kê
có 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc. đến 1991
trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II ở thành phố
Hồ Chí Minh tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc ở Việt Nam có
2280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Năm 1996 tác
giả giới thiệu “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài cây thuốc [13]
đây là một công trình khoa học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho
ngành dược và các nhà thực vật học.
Các kết quả điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1961 đến 1985 đã
phát hiện 1.863 loài cây thuốc, trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành
được xếp loại theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan. Đến năm 2000, số loài
cây thuốc đã tăng lên tới 3.849 loài thuộc 307 họ thực vật [43].
Theo Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu hàng năm nước ta khai
thác và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau [4]. Khó mà thống
kê được một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi lễ hàng
năm ngoài cơ sở sản xuất của nhà nước còn có những cơ sở của tư nhân, của những
ông lang bà mế và người dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnhtheo kinh
nghiệm dân gian.
Theo Nguyễn Khang và Vũ Quang Chương thì trong vòng vài chục năm gần
đây nước ta đã xuất khẩu một lượng dược liệu khá lớn khoảng 20 triệu US$ và
lượng tinh dầu là 20-30 triệu US$ chưa kể giá trị xuất khẩu tiểu ngạch và buôn lậu


sử dụng cây thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng
13
đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ
trước ; do tính khó sử dụng của dược liệu Ngày nay trong xu thế phát triển toàn
cầu, các ngành công nghiệp được phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trường bị ô nhiễm
nghiêm trọng, đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc
phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một lớn điều đó dẫn tới việc bảo tồn và
phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển của
xã hội đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dược vô cùng lớn.
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do chiến tranh, ô
nhiễm môi trường và con người khai thác bừa bãi cho nên đã trở nên rất nguy cấp
và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng (Theo công ước đa dạng sinh học 1992). Theo
Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây có
khoảng 1000 loài thực vật có lẽ đã bị tuyệt chủng có tới 60.000 loài có thể bị gặp rủi
ro hoặc sự tồn tại của chúng là mong manh vào giữa thế kỷ nếu chiều hướng đe dọa
này vẫn tiếp diễn. Trong số những loài thực vật bị mất đi hoặc bị đe dọa đương
nhiên có nhiều loài cây thuốc. Do vậy song song với việc nghiên cứu và sử dụng
cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác đó là bảo tồn tri thức sử dụng và cây thuốc
cũng cần phải quan tâm. 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn cây thuốc
đã được tổ chức tại Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và
bảo tồn cây cỏ, đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế. Kết quả là
“ Tuyên ngôn Chiang mai” đã ra đời. Bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng
của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây
cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đồng thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật
cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc
mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần
hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc.

chất là cấp thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của bộ đội tác chiến, cũng như thương
bệnh binh ở các chiến trường. Đó là nguồn vitamin tự nhiên, chất khoáng, chất
chống oxy hóa chống lại các gốc tự do, chất xơ cần thiết chống lại bệnh tật, đảm
bảo sức khỏe và quân số chiến đấu ở các mặt trận.
Viện nghiên cứu ăn mặc quân đội đã phối hợp cùng với Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội tổ chức các đoàn nghiên cứu và điều tra về rau rừng. Từ năm
1969- 1975 đã thành lập được 6 đoàn, tổ chức nghiên cứu ở các vùng: Trị - Thiên,
Liên khu 5, Nam Bộ, bắc Trường Sơn giáp Lào, nam Trường Sơn giáp Cam-pu-
chia, vùng giới tuyến và miền Bắc. Những kết quả điều tra nghiên cứu bước đầu
đã được tổng hợp, biên soạn và được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in thành
sách “Sổ tay rau rừng” trong đó có 420 loại cây rau, nấm ăn được. [2]
Năm 1968, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cho ra mắt cuốn sách “ Một
số rau dại ăn được ở Việt Nam” đã thống kê miêu tả được 128 loài rau dại ăn được
15
ở Việt Nam. [28]
Từ năm 1968-1971, Phân viện nghiên cứu Khoa học Cúc Phương tiến hành
điều tra nghiên cứu về các loài cây ăn được trong VQG Cúc Phương.Kết quả sau 3
năm nghiên cứu, nhóm tác giả đã thống kê được 229 loài thuộc 73 họ và 3 ngành
thực vật. [10]
Qua thời kì người dân "ngày tám tháng ba" vào rừng đào củ mài chống đói,
đã qua thời kì bộ đội ta phải ăn rau tàu bay, măng rừng mà vẫn lập nên những
chiến công hiển hách. Giờ đây nói đến những kiến thức này là nói đến một nguồn
tài nguyên phong phú và đa dạng cần được khai thác để sử dụng hợp lí và bền
vững. Đó không chỉ là nguồn lương thực, thực phẩm bổ sung, mà trong nhiều
trường hợp còn là những đặc sản quý , cho cả giới “thượng lưu” và du thực khách
hải ngoại ! ( như món canh rau sắng hay món salat rau càng cua (Peperomia
pellucida) - món khai vị cho những bữa nhậu ở miền Trung). Vì vậy việc hiểu biết

Đại học Khoa học Tự Nhiên. [22]

1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý.
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trên tọa độ địa lý từ 20
0
14' đến 20
0
24' vĩ độ
Bắc và từ 105
0
29' đến 105
0
44' kinh độ Đông. Cách Hà Nội 120 km về phía Tây
Nam theo đường ô tô và cách biển Đông 60 km theo đường chim bay về phía Đông.
Vườn có tổng diện tích 22.200ha, chiều dài khoảng 30km, rộng 8-10km, trong đó
11.350 ha (51,1%) thuộc tỉnh Ninh Bình, 5850ha (26,4%) thuộc tỉnh Hoà Bình,
5000ha (22,5%) thuộc tỉnh Thanh Hoá.
17

Hình 1. Bản đồ vị trí địa lý của VQG Cúc Phương (nguồn: Google Earth)
1.2.1.2. Lịch sử địa chất và địa hình.
a. Lịch sử địa chất.
Cúc Phương nằm trong vùng đất được hình thành do vận động tạo sơn kỷ
Kimeri (cuối kỷ Jura đầu kỷ Bạch phấn). Theo bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ
1/500.000 thì Cúc Phương thuộc phức hệ đá vôi Triat trung, bậc Ladoni, tầng Đồng

Đất có hàm lượng mùn lớn và thấm sâu (4 -5%).
Đất có khả năng hấp thụ khá.
Đất có thành phần cơ giới trung bình.
Từ kết quả trên chúng ta rút ra "Đất Cúc Phương nói chung là tốt, có thể nói
là hiếm, có giá trị, rất xứng đáng với địa vị thảm thực vật rừng che phủ trên nó mà
mọi người ca ngợi" Nguyễn Xuân Quát (1971).
1.2.1.4. Khí hậu thủy văn.
a. Chế độ nhiệt.
Kết quả quan trắc 15 năm của trạm khí tượng Bống, cho thấy nhiệt độ trung
bình năm là 20,6
0
c. Năm 1966 nhiệt độ bình quân năm lớn nhất là 21,2
0
C. Năm
1971 nhiệt độ bình quân năm thấp nhất là 19,9
0
C. Như vậy chênh lệch giữa nhiệt độ
bình quân chung so với nhiệt độ bình quân năm cao và năm thấp chỉ khoảng 1
0
C
(0,6
0
C và 0,7
0
C). Nhiệt độ bình quân năm tương đối ổn định là một thuận lợi cho sự
phát triển của hệ thực vật ở đây.
19

C.
b. Chế độ mưa.
Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800mm đến
2400mm, bình quân năm là 2138mm/năm. Đó là lượng mưa tương đối lớn so
với vùng xung quanh.
Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100mm là tháng mưa thì ở đây có tới 8
tháng và mùa mưa kéo dài từ tháng IV đến tháng XI. Tháng có lượng mưa lớn
nhất là tháng IX là 410,9mm, trong khi đó các tháng XII, I, II và III lượng mưa
chưa được 50mm. Mặc dù mùa khô có 4 tháng nhưng phân biệt rất rõ với mùa
mưa. Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc Phương tương đối
khắc nghiệt về mùa đông.
c. Độ ẩm không khí.
Qua bảng 1 chúng ta thấy độ ẩm tương đối trung bình hăng năm ở Cúc
Phương là 90% và phân bố tương đối đều trong năm, tháng thấp nhất không
dưới 88%.
20
Bảng 1. Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương.
Tháng
Nhiệt độ (0
0
C)
Lƣợng mƣa (mm)
Độ ẩm (%)
1
13,9
23,3
91

410,9
91
10
21,1
208,0
89
11
17,5
121,0
89
12
15,4
32,3
88

TB= 20,6
TB= 2.147,7
TB =90

Kết quả nghiên cứu khí hậu tập hợp trong Bảng 1 vẽ theo phương pháp
Gausen Walter, để thấy được mức độ biến động về các nhân tố trên.

Hình 2. Biểu đồ khí hậu Gausen Walter khu vực VQG Cúc Phương
21
d. Chế độ gió.
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió
mùa, chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc về mùa Đông và gió mùa Đông

chuyên ngành từ đó xác định giá trị thông tin kế thừa.
2.3.2. Phƣơng pháp điều tra, phân tích – phân loại và xây dựng danh lục
2.3.2.1. Phương pháp điều tra thực địa
Áp dụng phương pháp điều tra thực địa được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu
trong “Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật” (1997) “Các phương pháp nghiên
cứu thực vật” và “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004):
- Ghi nhận kỹ lưỡng những đặc trưng của các sinh cảnh trên tất cả các tuyến
khảo sát (thu mẫu các loài đặc trưng, loài phổ biến). Các đặc điểm của mẫu để phục
vụ công tác phân loại.
- Tiêu chuẩn mẫu thu: Có đủ cả bộ phận dinh dưỡng (cành, lá non, lá trưởng
thành, có thể có cả củ và rễ) và bộ phận sinh sản (hoa hoặc quả hoặc cả hai). Sử
dụng kéo cắt cành để cắt mẫu.
- Xử lý mẫu thực địa:
+ Mẫu đeo nhãn ghi bằng bút bi nước gồm đầy đủ các mục: số hiệu mẫu,
địa điểm và nơi lấy mẫu, ngày lấy mẫu, đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ
cao, đường kính, màu lá, hoa, quả…, người lấy mẫu.
+ Xử lý ướt mẫu bằng cách ép mẫu tạm thời giữa hai tờ báo gập đôi,
không chèn ngay mà bó chặt lại rồi cho mẫu đó vào túi polyetylen cỡ lớn. Mỗi túi
có thể chứa nhiều bó mẫu. Dùng cồn đổ cho thấm ướt các tờ báo và buộc chặt lại để
chuyển về nơi có điều kiện sấy khô. Việc đổ cồn vào là nhằm mục đích giết các
enzym chống rụng lá.
- Chụp ảnh: Trong với quá trình thu hái mẫu, sử dụng máy ảnh để ghi lại
hình ảnh của các loài (ghi lại số hiệu mẫu cùng với số thứ tự ảnh trong sổ tay để tiện
cho việc tra cứu sau này) và các sinh cảnh cùng với những hoạt động của tập thể
trong quá trình nghiên cứu.
23
2.3.2.2. Xử lý và trình bày mẫu

24
+ Phân loại sơ bộ: tiến hành phân loại sơ bộ mẫu vật theo các taxon từ ngành
tới họ, rồi tới chi. Để làm được việc này, chúng tôi có tham khảo ý kiến của các
chuyên gia hoặc tham khảo các tài liệu hiện có tại Bảo tàng Thực vật.
+ So mẫu và xác định tên loài: Sau khi phân loại sơ bộ, tiến hành phân tích
so sánh mẫu cần xác định tên với bộ mẫu chuẩn hiện có tại Bảo tàng Thực vật.
Những mẫu chưa có tên lại tiếp tục xác định bằng các khóa lưỡng phân. Khi định
tên khoa học các mẫu dựa vào đặc điểm của cành, lá, hoa, quả…Đặc biệt là các đặc
điểm của cơ quan sinh sản vì nó có ý nghĩa đặc trưng cho loài. Trong quá trình tiến
hành xác định tên khoa học phải tuân theo các nguyên tắc: phân tích từ tổng thể bên
ngoài đến chi tiết bên trong, phân tích đi đôi với ghi chép, vẽ hình và tra khóa định
loại, làm việc nghiêm túc và khách quan với mẫu.
+ Kiểm tra tên khoa học: Sau khi đã xác định tên loài, chúng tôi tiến hành
chỉnh lý lại tên khoa học theo tên họ, tên chi theo Brummitt trong “Vascular Plant
Families and Genera” (1992), điều chỉnh tên loài theo trọn bộ 3 tập “Danh lục các
loài thực vật Việt Nam” (2001 - 2005).
+ Bổ sung thông tin: tiến hành tra cứu các tài liệu hiện có để bổ sung các
thông tin về tính đa dạng sinh học của các loài thực vật tại đây về yếu tố địa lý, về
phổ dạng sống, về công dụng và tình trạng đe dọa, bảo tồn. Ngoài các tài liệu trên
còn sử dụng các tài liệu khác như “Sách Đỏ Việt Nam” (2007), “Từ điển cây thuốc
Việt Nam” (Võ Văn Chi, 1997), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (Đỗ Tất
Lợi, 2001), “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” (Võ Văn Chi – Trần Hợp, tập I năm 1999,
tập II năm 2002), “Từ điển thực vật thông dụng” (Võ Văn Chi, 2003), Nghị định
32/2006/NĐ-CP.
2.3.2.4. Xây dựng bảng danh lục thực vật
Từ các kết quả đã thu thập được, chúng tôi xây dựng nên bảng danh lục thực
vật nguồn tài nguyên phi gỗ thuộc VQG Cúc Phương (Phụ lục 1). Bảng danh lục
thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992), trong đó các
Giá trị sử dụng
Danh mục phải phản ánh đầy đủ các thông tin cần thiết cho mục đích nghiên
cứu. Do đó, danh sách các loài theo từng họ, các họ theo từng ngành. Các ngành
xếp theo thứ tự tiến hoá, từ thấp đến cao. Ở mỗi ngành, các họ được xếp theo hệ
thống alphabet tên khoa học, riêng thực vật Hạt kín thì các họ được xếp vào hai lớp,
lớp Hai lá mầm trước, lớp Một lá mầm xếp sau cùng, các họ trong mỗi lớp cũng xếp
theo alphabet tên khoa học.
2.3.3.2. Cấu trúc hệ thống của hệ thực vật.
Từ danh lục thành phần loài, tiến hành xắp xếp các loài theo hệ thống các
ngành theo thứ tự tiến hóa từ thấp đến cao theo bảng 4

Trích đoạn Một số giải pháp quản lý bảo tồn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status