Tóm tắt luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC trong phát triển du lịch tại vườn quốc gia cúc phương - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o
PHẠM MAI ANH
BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ SỨC CHỨA LAC
(LIMITS OF ACCEPTABLECHANGE –GIỚI HẠN CỦA NHỮNG
THAY ĐỔI CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC) TRONG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TẠI VQG CÚC PHƯƠNG – NINH BÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
Hà Nội – 2014
Công trình được hoàn thành tại Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Sơn
Phản biện 1: TS. Phạm Hồng Long
Phản biện 2: TS. Nguyễn Mạnh Hà
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sỹ họp tại phòng 502 nhà B – Khoa Du lịch học – trường Đại
học khoa học xã hội và nhân văn, vào lúc 15h30 ngày 29
tháng 01 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Trung tâm thư viện Đại
học Quốc gia Hà Nội
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, đi cùng với sự phát triển của kinh tế văn hóa xã
hội, ngành kinh doanh du lịch lữ hành được mở rộng và đạt được
những kết quả ấn tượng. Dường như, cuộc sống càng phát triển thì sự
quan tâm của từng cá nhân và cộng đồng dành cho du lịch càng được
đề cao và trở thành một nhu cầu thường xuyên hơn. Tuy nhiên sự
phát triển của du lịch cũng đi cùng với những tác động đa chiều
không thể phủ nhận, từ đó dẫn đến việc cần phải đề xuất ra những
cách thức quản lý, điều phối hiệu quả nhằm hạn chế tác động tiêu cực
và hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Việc quản lý sức

trong số những mô hình như thế được lựa chọn để giới thiệu trong đề
tài này là LAC (viết tắt của Limits of acceptable change) – Những
giới hạn của thay đổi có thể được chấp nhận, không chỉ cung cấp
những câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi phức tạp và khó khăn
mà phát triển du lịch bền vững đưa ra, mà còn giải quyết một phức
hợp những vấn đề nhỏ để cùng hướng tới mục tiêu chung.
Hệ thống quy hoạch theo phương pháp LAC ban đầu được
thiết kế để giải quyết các vấn đề quản lý du khách tại Hệ thống bảo
tồn vùng hoang dã quốc gia Hoa Kỳ và là một sản phẩm của nhận
thức sâu rộng rằng việc đánh giá năng lực chịu tải một cách máy móc
đã thất bại trong việc đặt được những mục tiêu của mình. Trong khi
đó có rất nhiều lý do giải thích tại sao mô hình năng lực chịu tải lại
thất bại, và lý do cơ bản nhất được nhắc tới đó là nó đã hướng các
nhà quản lý theo một câu hỏi sai “Bao nhiêu là quá nhiều?”. Năng lực
chịu tải về bản chất là một thuật ngữ định lượng, nhưng nghiên cứu
đã cho thấy rằng những vấn đề của việc sử dụng tài nguyên cho hoạt
động du lịch không liên quan quá nhiều về số lượng người, mà về
hành vi của họ. Trong khí đó, phương pháp LAC giải quyết những
câu hỏi khác nhau đáng kể: “Điều kiện tài nguyên và điều kiện xã hội
nào phù hợp (hoặc có thể chấp nhận được), và làm thế nào để chúng
ta đạt được những điều kiện đấy?. Câu hỏi này thể hiện một cách tiếp
cận căn bản khác đến tư duy về các vấn đề sử dụng cho hoạt động du
lịch, nhưng đã thực sự liên kết chặt chẽ với công việc chính của các
nhà quản lý hoạt động du lịch – đó là bảo vệ các giá trị mà vì đó một
khu vực được thành lập - hơn so với mô hình năng lực chịu tải.
Nhận thấy đây là một hướng mới, hữu ích trong việc giải quyết
vấn đề quản lý phát triển du lịch bền vững ở các vùng hoang dã, đề
tài đã mạnh dạn tiếp cận nội hàm của mô hình LAC và bước đầu áp
2
dụng những kiến thức đã tìm hiểu được để nghiên cứu áp dụng tại

pháp này một cách rộng rãi cho các vấn đề quản lý tài nguyên thiên
nhiên.
3
Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về mặt lý luận
và thực tiễn về vấn đề này. Đi đầu trong việc nghiên cứu này là hai
tác giả Hoa Kỳ Stephan F. McCool và George H. Stankey.
Sau hơn 10 năm áp dụng tại Hoa Kỳ, Stephan F. McCool và cộng sự
đã xuất bản cuốn sách “Limits of Acceptable Change and Related
Planning Processes: Progress and Future Directions” [14], là một
đánh giá tổng hợp quá trình áp dụng, những ưu điểm, yếu điểm, ý
nghĩa khoa học và thực tiễn, cùng phương hướng tương lai của
phương pháp này.
Gần đây hơn, vào năm 2007, Stephan và nhóm tác giả đã cho
ra đời cuốn sách “An Assessment of Frameworks Useful for Public
Land Recreation Planning” là một công trình tương đối hoàn chỉnh,
bao gồm việc đánh giá tất cả các phương pháp quản lý sức chứa mới
nổi bật như LAC, VERP, ROS Đồng thời ghi nhận lại các áp dụng
thực tiễn của các phương pháp trên tại Hoa Kỳ.
Ngoài Hoa Kỳ, cũng có nhiều quốc gia đã áp dụng phương
pháp LAC với nhiều cấp độ khác nhau tuy nhiên, chưa có một quốc
gia nào mà LAC được nghiên cứu và áp dụng một cách hoàn chỉnh
như ở Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu có nhắc tới
phương pháp LAC như một khả năng áp dụng bổ sung cho quản lý
du lịch sinh thái tại VQG [7,tr.120], tuy nhiên trong phạm vi tìm hiểu
của tác giả luận văn, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về vấn
đề này.
Đối với VQG Cúc Phương là một điểm đến thu hút nhiều nhà khoa
học trong nhiều lĩnh vực như sinh học, địa lý, khảo cổ, du lịch, văn
hóa Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực du lịch

lý sức chứa LAC. Đồng thời chọn VQG Cúc Phương là điển hình
thực tế để bước đầu áp dụng mô hình LAC. Khởi thủy của mô hình
LAC được xây dựng trước hết để giải quyết các vấn đề trong quản lý
sử dụng các khu vực tự nhiên hoang dã. Vì thế, VQG Cúc Phương có
sự tương đồng cao về tiêu chí áp dụng. Nơi đây cũng là địa điểm có
hoạt động du lịch đã được duy trì và phát triển trong một thời gian
dài. Tuy nhiên với quy mô rộng lớn gồm nhiều khu vực và tuyến khai
thác du lịch thì việc áp dụng mô hình quản lý sức chứa LAC cho toàn
bộ VQG Cúc Phương đòi hỏi một lộ trình đánh giá lâu dài với sự
tham gia của nhiều đối tượng liên quan mới có thể bao quát hết các
5
vấn đề đang đặt ra tại Vườn. Vì vậy trong phạm vi đề tài này, với
chuyên môn và mức độ hiểu biết giới hạn của tác giả, đề tài chỉ tập
trung vào xây dựng một bảng hỏi nhằm khảo sát ý kiến của du khách
về điều kiện tự nhiên và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật – dịch vụ
mà du khách cảm thấy chấp nhận được và mong muốn được duy trì
tại tuyến thăm quan từ trung tâm Bống tới cây Chò ngàn năm. Đây là
tuyến thăm quan chính thu hút hơn 80% du khách tới thăm vườn. Nơi
đây có cây Chò ngàn năm là biểu tượng của Vườn nhưng đồng thời
điểm thăm quan này cũng nằm trong vùng lõi của Vườn, nơi hệ sinh thái
vô cùng nhạy cảm và cần sự bảo vệ nghiêm ngặt. Các giải pháp và kiến
nghị đưa ra trong đề tài nghiên cứu được áp dụng cho thời kỳ đến năm
2020 .
5. Phương pháp nghiên cứu dự kiến thực hiện
Dự kiến trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu, tác giả
sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở đưa ra những lý luận chung về mối
quan hệ giữa du lịch và du lịch cộng đồng và các tác động của du lịch
về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội lên cộng đồng người Mường trong

SỨC CHỨA DU LỊCH
1.1 Một số vấn đề lý luận về sức chứa du lịch
1.1.1 Khái niệm sức chứa du lịch
Sức chứa du lịch là một khái niệm hàng đầu trong quản lý du
lịch do Hội đồng Du lịch và môi trường Anh đề xuất vào năm 1960
[2, tr.39]. Có nhiều nỗ lực của các học giả trong và ngoài nước trong
việc xây dựng khái niệm sức chứa du lịch. Hai học giả Middleton và
Hawkins Chamberlain đưa ra định nghĩa sức chứa du lịch là: “Mức
độ hoạt động của con người mà một khu vực có thể đáp ứng mà
không làm tổn hại tới môi trường, không làm ảnh hưởng tới cuộc
sống của cộng đồng địa phương, hoặc chất lượng trải nghiệm của du
khách bị suy giảm.” [13, pg 54]
Các định nghĩa trên đều có một điểm chung đó là coi sức
chứa là một điểm thể hiện số lượng du khách mà nếu vượt qua điểm
đó thì sẽ dẫn tới những tác động có hại tới điểm thăm quan.
1.1.2 Một số công thức tính sức chứa du lịch
Hai nhà nghiên cứu A.M.Cifuentes và H. Ceballos-Lascurain đã đưa
ra các công thức tính toán về khả năng tải vật lý, khả năng tải thực tế
như sau:
• Khả năng chịu tải vật lý (PCC- Physical carrying capacity) là
giới hạn tối đa cho phép về số lượng khách đến tham quan du
lịch tại một khu, điểm du lịch tham quan trong một giới hạn
thời gian được xác định trước.
PCC = A .D.Rf (1)
- Trong đó A là diện tích của khu vực, điểm tham quan dự
kiến.
- D là diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách đến tham
quan hay nói cách khác là mật độ khách được đáp ứng trên
một mét vuông
- Rf là số lượng khách tham quan tối đa cho 01 ngày.

(2) một sự phân tích về mối quan hệ giữa điều kiện hiện tại và những
điều được đánh giá là có thể chấp nhận được;
(3) việc xác định hành động quản lý là cần thiết để đạt được những điều
kiện này;
(4) một chương trình giám sát và đánh giá tính hiệu quả của công tác
quản lý.[20,pg 19]
LAC được thực hiện thông qua 9 bước cụ thể như sau:
9
(1) Xác định những giá trị, vấn đề và mối quan
tâm đặc biệt của khu vực
(2) Xác định và mô tả các vùng cơ hội cho hoạt
động du lịch
(3) Lựa chọn các dấu hiệu chỉ thị thể hiện các
điều kiện về nguồn lực tự nhiên và xã hội
(4) Kiểm kê nguồn
tài nguyên tự nhiên và điều kiện xã hội
(5) Định rõ những tiêu chuẩn cho các điều kiện
về tự nhiên và xã hội cho từng hạng cơ hội
(6) Nhận diện các cấp độ khả năng thay thế có
thể được cho phép
(7) Xác định các hoạt động quản lý cho mỗi cấp
độ khả năng thay thế
(8) Đánh giá và lựa chọn biện pháp thay thế tốt
hơn
(9) Thực hiện các hành động giám sát điều kiện
(Nguồn: Stephen F. McCool [18,
pg3]
Hình
1.2: 9
bước

người dân bản địa còn thấp, nên đòi hỏi người nghiên cứu sự khéo
léo và kiên trì trong tiếp cận các nhóm đối tượng này để thu thập
được những thông tin đóng góp hữu ích.
1.3 Hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia và vấn đề quản lý sức
chứa du lịch tại Vườn Quốc Gia
1.3.1 Khái niệm Vườn Quốc Gia
Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về Quy chế quản lý rừng
11
thì VQG là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí
sau:
- VQG là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất
ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một
hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay
chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc
hữu hoặc đang nguy cấp.
- VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc
bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi
trường và DLST.
- VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh
thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên
của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích
tự nhiên của vườn
1.3.2 Khoanh vùng sử dụng du lịch đối với Vườn quốc gia
Theo Gunn (1994), đối với một VQG khi bắt đầu đưa vào
khai thác du lịch, cần được khoanh vùng sử dụng một cách rõ ràng.
Ông đề xuất một mô hình khoanh vùng trong đó một VQG được
phân thành 3 phân khu: (1) phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, (2) phân
khu phục hồi sinh thái, (3) phân khu hành chính – dịch vụ. Ông
khẳng định, việc khoanh vùng các khu vực của VQG để lượng khách

độ thấp, chưa thể hiện rõ được đặc trưng của loại hình DLST hướng
tới bảo tồn, tuy nhiên những tác động từ hoạt động khai thác du lịch
lại không hề nhỏ. Theo báo cáo của 14/30 VQG và các khu bảo tồn
thiên nhiên, trong năm 2011 các VQG này đã đón tiếp 728.000 lượt
khách du lịch và tổng doanh thu chỉ đạt hơn 30 tỉ đồng. Hoạt động du
lịch trong một VQG thường chưa có sự phân vùng rõ ràng và những
quy định chặt chẽ đi kèm để kiểm soát tác động của du lịch. Vì vậy
việc áp dụng LAC có thể coi là một hướng đi có triển vọng, tiếp tục
nỗ lực của các nghiên cứu về du lịch sinh thái tại VQG trước đây và
đóng góp cho định hướng du lịch bền vững nói chung của cả nước.
13
CHƯƠNG 2:CÁC ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ
SỨC CHỨA DU LỊCH VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH
QUẢN LÝ SỨC CHỨA DU LỊCH LAC TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG
2.1 Các điều kiện và hiện trạng du lịch ở Vườn quốc gia Cúc
Phương ảnh hưởng đến quản lý sức chứa du lịch.
2.1.1 Khái quát về Vườn quốc gia Cúc Phương
2.1.2 Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
2.1.2.1 Tài nguyên tự nhiên
2.1.2.2 Tài nguyên nhân văn
2.1.3 Các điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và
nguồn nhân lực phục vụ du lịch.
2.2 Bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC
tại Vườn quốc gia Cúc Phương
2.2.1 Xác định mâu thuẫn cần giải quyết
Dựa trên những đánh giá hiện trạng khai thác du lịch tại VQG Cúc
Phương cho thấy, hoạt động du lịch tại VQG Cúc Phương đang đòi
hỏi phải có các giải pháp thích hợp để khắc phục nhằm đảm bảo sự
phát triển hài hòa giữa mục tiêu hàng đầu là bảo tồn sinh thái và mục

đường mòn có các điểm dừng chân nghỉ ngơi. Trên đường đi, du
khách có thể bắt gặp nhiều loại cây kì thú của tự nhiên và đôi khi vào
ban ngày có thể quan sát thấy một số loài động vật.
2.2.2.2 Xây dựng một số tiêu chí đánh giá điều kiện du lịch
Các dấu hiệu chỉ thị được lựa chọn để lấy ý kiến du khách tại tuyến
thăm quan từ Trung tâm Bống đến Cây Chò ngàn năm bao gồm:
1. Sự tập trung đông đúc du khách
2. Tiếng ồn
3. Vấn đề rác thải
4. Chất lượng giáo dục môi trường và hướng dẫn thăm quan
5. Chất lượng dịch vụ
Các tiêu chí này sẽ được thiết lập thành nội dung một bảng hỏi
để du khách lựa chọn trả lời. Việc đặt ra một tiêu chuẩn dựa trên
đánh giá của du khách sẽ dựa trên “Quy tắc 80/80”. Cụ thể, bằng
cách sử dụng cơ chế phản hồi của khách du lịch (phiếu góp ý tại điểm
cố định, bảng hỏi điều tra theo đợt, đóng góp ý kiến qua website và
email…) chúng ta có thể xác định được mức độ chấp nhận của du
khách về một số dấu hiệu chỉ thị và tiêu chuẩn cho chúng. Nếu 80%
du khách được lấy ý kiến cảm thấy hài lòng với một tiêu chuẩn trong
80% khoảng thời gian thăm quan, thì không có cần phải sửa đổi hoặc
15
thay đổi dấu hiệu chỉ thị và tiêu chuẩn. Ví dụ đối với hành động xả
rác là một hành động không được cho phép tại VQG tuy nhiên ban
đầu tại điểm thăm quan không có tiêu chuẩn cho số lượng rác và
thùng rác dọc đường mòn. Nếu thông qua việc sử dụng cơ chế phản
hồi của du khách chỉ ra rằng ít hơn 80% là khách cảm thấy không thể
chấp nhận được với số lượng rác quan sát dọc đường trong suốt
chuyến thăm quan, thì sau đó một số loại hành động quản lý nên
được đặt ra để đạt được mục tiêu là nâng mức độ hài lòng của du
khách lên đến 80% sau một khoảng thời gian dự kiến. Với các tiêu

thích khám phá tìm hiểu thiên nhiên, có hiểu biết nhất định và họ
thường được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin. Rất cần thiết có
những định hướng đúng đắn về du lịch sinh thái cho nhóm khách
này, giúp họ có nhận thức về việc bảo vệ môi trường, hạn chế những
hành động chưa đúng đắn có thể ảnh hưởng tới môi sinh như vứt rác
bừa bãi, bẻ cây, viết vẽ bậy, tiêu thụ sản phẩm hoang dã trái phép.
Khi thăm dò ý kiến du khách về sự đông đúc tại điểm thăm
quan, cần hiểu rõ rằng đây là một khái niệm cảm tính, không đồng
nhất tùy theo quan điểm mỗi người. Có thể đối với này là đông đúc
nhưng đối với du khách khác đó là bình thường.Có du khách mong
muốn được tận hưởng sự tĩnh mịch giữa không gian thiên nhiên
nhưng có du khách lại sợ cảm giác vắng vẻ yên tĩnh. Đặc biệt đối với
khách du lịch đại chúng thì lại thích được đi theo nhóm đông, thích
các hoạt động mang tính giải trí cao, thích không khí náo nhiệt.
Kết quả khảo sát ý kiến của du khách về mức độ đông đúc và sự ảnh
hưởng của tiếng ồn đến du khách cho thấy, có 20,23% du khách bị
cản trở khi di chuyển trên đường mòn và có 25,14% du khách phản
ánh bị cản trở khi đứng thăm quan tại cây Chò ngàn năm. Sự cản trở
chủ yếu tại các lối hẹp trên đường mòn, tại một số điểm dừng chân và
cản trở việc chụp ảnh lưu niệm tại điểm thăm quan.Tiếng ồn cũng
không phải là một cản trở tiêu cực đối với phần đông du khách. Chỉ
có 25,14% du khách cảm thấy bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn của các
nhóm khác, trong khi đó co 40,47% du khách thậm chí không quan
tâm tới tiếng ồn xung quanh và cho rằng đó là điều bình thường tại
các điểm du lịch. Khi được hỏi có cần phải hạn chế bớt số lượng du
khách tại tuyến này hay không, thì 52,73% du khách cho rằng điều
đó không cần thiết, chỉ có 47,21% du khách đồng ý với ý kiến cần có
biện pháp giảm số lượng khách thăm quan tại đây. Điều này cho
thấy, mặc dù tuyến thăm quan cây Chò ngàn năm là một tuyến thăm
quan chính, thu hút lượng khách đông đảo đặc biệt vào các dịp lễ tết

thăm quan khác. Ngoài ra, số lượng du khách lựa chọn các tour dạng
phổ thông như vậy đông đảo hơn nhiều so với các du khách có nhu
cầu đến thăm những điểm mới lạ trong Vườn. Sự lựa chọn này do
nguyên nhân chủ quan từ phía du khách (sở thích, thời gian hạn chế,
giá cả phù hợp…) nhưng cũng do nguyên nhân từ phía VQG chưa có
18
các biện pháp hiệu quả làm tăng sức hút của các điểm thăm quan
khác trong Vườn.
e/ Một số vấn đề tồn tại khác
Ngoài một số vấn đề nêu trên, kết quả khảo sát còn cho thấy
một số vấn đề còn tồn tại trên tuyến thăm quan như: Cây cối bị dẫm
nát (100% du khách quan sát thấy), các vết khắc đẽo, viết bậy trên
thân cây, vách đá hoặc chỗ nghỉ chân, đất bị bết dính đặc biệt là ở
khu vực cây Chò, du khách bẻ cây cối ven đường đi thăm quan. Các
hành động xâm hại môi trường này thực chất đã diễn ra trong thời
gian khá dài nhưng chưa có những đánh giá cụ thể về mức độ ảnh
hưởng.Điều này cần được làm rõ hơn trong các nghiên cứu chuyên
môn có liên quan.
f/ Mức độ hài lòng của du khách
Trên một nửa số du khách được hỏi đã lựa chọn trả lời “bình
thường”, “tương đối hài lòng”, số du khách cảm thấy hoàn toàn hài
lòng chiếm khoảng 10% và cảm thấy thất vọng vào khoảng 19%
Bảng 2.7: Mức độ hải lòng của du khách
Mức độ
Tỷ lệ khách được phỏng
vấn (%)
Hoàn toàn hài lòng 9.81%
Tương đối hài lòng 30.66%
Bình thường 40.47%
Tương đối thất vọng 19.01%

b- Việc thu gom rác thải 131
c- Việc quản lý hoạt động của du khách 33
d- Bổ sung biển chỉ dẫn và bảng thông tin 65
e- Nhà vệ sinh 123
f- Cửa hàng dịch vụ ăn uống, đồ lưu niệm 103
g- Chất lượng đường mòn 17
h- Chất lượng nước 23
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LAC VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VIỆC QUẢN LÝ SỨC CHỨA
DU LỊCH TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
3.1 Định hướng ứng dụng mô hình LAC cho việc quản lý sức
chứa du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương.
3.1.1 Đảm bảo mục tiêu bảo tồn trong họat động du lịch
Mục tiêu bảo tồn và các khu ưu tiên dành cho bảo tồn phải
được xác định rõ, giảm thiểu sức ép của du lịch số đông lên môi
trường, đồng thời làm phong phú thêm các loại hình du lịch. Hoạt
động du lịch phải được vận hành theo hướng cung cấp chứ không bị
lái theo nhu cầu của nhiều loại khách du lịch, đặc biệt là các khách du
lịch đại chúng. Các hoạt động ăn uống, vui chơi giải trí đều cần phải
thực hiện tại khu vực Cổng vườn. Cần có các kiểm soát chặt chẽ, các
chế tài đặc biệt trong quản lý hoạt động du lịch tại phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt.
3.1.2 Điều chỉnh sự phân bổ lượng khách tại các điểm thăm quan
3.1.3 Nâng cao chất lượng giáo dục môi trường và quản lý hành vi du
khách
3.1.4 Triển khai các khảo sát trên diện rộng để đánh giá điều kiện
du lịch
3.2 Kiến nghị các đề xuất.
Với kết quả bước đầu khảo sát du khách về điều kiện mong
muốn, luận văn có một số kiến nghị và đề xuất trong việc quản lý du

đại chúng và khách DLST, nhu cầu của hai đối tượng này ở nơi du
lịch rất khác nhau để vừa đáp ứng nhu cầu, vừa thu được lợi nhuận
cao. Khách du lịch đại chúng thích giải trí, vui chơi ồn ào và hưởng
thụ các dịch vụ ăn, nghỉ… sang trọng thì nên quy hoạch ở xa khu bảo
vệ nghiêm ngặt, còn khách du lịch sinh thái với các nhóm nhỏ thì có
thể tổ chức ở gần hơn vì hoạt động của họ không đưa lại tác động xấu
cho tự nhiên. Tuy nhiên trong tương lai khách du lịch đại chúng ở các
VQG được hạn chế dần để phát triển theo hướng du lịch sinh thái.
3. LAC là một mô hình quản lý sức chứa được áp dụng trong các
thập niên gần đây tại Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới. Mô
hình đã thể hiện được nhiều ưu điểm trong việc đưa ra phương pháp
quản lý linh hoạt hơn, hiệu quả hơn, góp phần vào các nỗ lực phát
triển du lịch sinh thái
4. Việc bước đầu áp dụng LAC tại Cúc Phương đã thể hiện được tính
khả dụng và hiệu quả trong việc đánh giá các vấn đề còn tồn tại và
những mong muốn từ phía du khách. Việc áp dụng LAC còn cần có
22
một lộ trình lâu dài với sự tham gia của nhiều bên liên quan để đánh
giá tổng quát được hiện trạng và phương hướng quản lý đối với nơi
đây. Đây là hạn chế mà trong phạm vi của luận văn chưa giải quyết
được, cần tiếp tục trong các nghiên cứu tiếp theo.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status