1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ- ĐHQG HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC
( Dành cho học viên cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
Giảng viên hướng dẫn : PGS. TS. Phạm Công Nhất
Nhóm thực hiện: Lê Thị Thanh Hường
Tên đề tài:
“Những khó khăn và giải pháp khắc phục trong công tác giáo dục học sinh tiểu
học (hoặc giáo dục phổ thông) tại các tỉnh vùng núi phía Bắc nước ta hiện nay
qua thực tế tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.”
Năm học 2014- 2015
A. Mở đầu – (2-3 trang)- Trang + Chính
1. Đặt vấn đề
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Kết cấu của tiểu luận
B. Nội dung
I. Một số vấn đề lí luận chung- Chị hạnh(4-5 trang)
Một số vấn đề lý luận chung về: Những khó khăn và giải pháp khắc phục
đối trong công tác giáo dục học sinh tiểu học (hoặc giáo dục phổ thông) tại các
tỉnh vùng núi phía Bắc nước ta hiện nay qua thực tế tại huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc
Kạn.
1.1. Vấn đề lý luận chung:
Có thể hiểu một cách khái lược nhất: Giáo dục học là khoa học về giáo dục
con người. Giáo dục Tiểu học là một bộ phận, một chuyên ngành của Giáo dục
con người trong xã hội. Nhờ những kinh nghiệm lịch sử xã hội này mà thế hệ sau
kế thừa được nền văn hóa từ thế hệ trước để trở thành nhân cách có nội dung
phong phú và đa dạng, có sức mạnh về thể chấtvà tinh thần (tình cảm, trí tuệ )
để hoạt động xã hội, cải tạo tự nhiên, cải tạo chính bản thân mình vì sự tồn tại và
phát triển của mỗi người và cả xã hội, cả cộng đồng. Vậy giáo dục là gì? Giáo
dục ở đây được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách
được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và
các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và
chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người. Ở đây phải đặt khái niệm
3
"giáo dục"vào trong toàn bộ quá trình hình thành con người nói chung với các
phạm trù cơ bản có mối quan hệmật thiết là: quá trình hình thành con người; quá
trình xã hội hóa con người; quá trình giáo dục v.v –Quá trình hình thành con
người là quá trình phát triển con người một cách tổng thể cả về mặt sinh học, tâm
lí và xã hội. Đó là quá trình làm tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất ở mỗi
con người dưới ảnh hưởng và biến đổi của các yếu tố bên trong (sinh học, bẩm
sinh, các tố chất đã có ở con người) và các nhân tố bên ngoài (môi trường, xã hội,
giáo dục ) do các ảnh hưởng tự phát (tác động ngẫu nhiên cả bên trong và bên
ngoài cơ thể, chưa kiểm soát, chưa điều khiển được). Ví dụ,ảnh hưởng của các
nhân tố bẩm sinh, di truyền và tác nhân xã hội bên ngoài từ phía gia đình, xã hội,
môi trường lên đứa trẻ; các động tác tự giác có mục đích, có kế hoạch của con
người (chính là những tác động của giáo dục) có thể chế ngự và điều khiển được.
Ví dụ: Tác động của cô giáo, của trường lớp lên trẻ Mặt khác, do sự tăng
trưởng và phát triển của trẻ có tính tổng thể nên công tác nghiên cứu, đặc biệt là
các biện pháp tác động vào trẻ cũng phải mang tính tổng thể. Nhưvậy, không
những cần có chính sách và biện pháp huy động toàn thể xã hội chăm lo đến công
tác chăm sóc, giáo dục trẻ mà còn cần đảm bảo tính đồng bộ giữa các cơ quan
hữu trách, hình thành những chương trình thích hợp chăm sóc và giáo dục trẻ
đảm bảo hiệu quả tối ưu của các biện pháp giáo dục. Đó chính là đặc điểm quan
gia, thậm chí giáo dục phải đi trước một bước của sự phát triển kinh tế. Vậy có
thể nói rằng, chức năng thứ nhất của giáo dục là chức năng kinh tế –sản xuất.
Giáo dục nhằm đào tạo con người lao động mới, làm tái sản xuất sức lao động
của xã hội, đào tạo ra sức lao động mới khéo léo hơn, có hiệu quả hơn để thay thế
sức lao động cũ đã già cỗi, đã bị lạc hậu so với thời đại. Nghĩa là giáo dục nhằm
đào tạo ra một năng suất lao động xã hội cao hơn, có tác dụng đẩy mạnh sản xuất,
5
pháttriển kinh tế. Lịch sử phát triển kinh tế công nghiệp ở các nước tưbản chủ
nghĩa phát triển (Anh, Pháp, Đức, Nhật ) đã khẳng định chức năng to lớn này
của giáo dục.
Chức năng chính trị -xã hội: Giáo dục có tác động làm thay đổi bộ mặt cấu
trúc của xã hội. Giáo dục làm thay đổi cả vẻ mặt bên ngoài cũng nhưnội dung bên
trong (hình thức, nội dung) của các nhóm xã hội; của các bộ phận dân cưtrong
cộng đồng; của các giai cấp khác nhau (khi xã hội có giai cấp). Một số vấn đề đặt
ra như: Giáo dục là của ai? Chất lượng dân cư, dân tộc, giai cấp xã hội khác nhau
nhưthế nào?Tính chất bình đẳng, tính chất xã hội hóa của giáo dục nhưthế nào?
Quan hệ giữa giáo dục, người lao động và nền sản xuất ấy, chế độ kinh tế –xã hội
ra sao? v.v Đó là những phạm trù luôn đặt ra trong mỗi quốc gia, mỗi cộng
đồng, mỗi giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội, những vấn đề này đều có
liên quan đến giáo dục và giáo dục góp phần thay đổi bộ mặt này của xã hội.
Chức năng tưtưởng -văn hóa: Giáo dục nhằm chuẩn bị lớp người mới cho
xã hội. Con người mới ấy không chỉ là người lao động có thân thể khoẻ mạnh, có
kĩ năng lao động phát triển và đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất mới mà còn phải
được phát triển về tâm lí, tình cảm, đạo đức và ý thức chính trị nhất định (đó
chính là những thành phần cấu trúc nhân cách). Đó là những yếu tố cần có của
mỗi con người cụ thể mà giáo dục đã góp phầntạo ra bằng chính chức năng này:
Tưtưởng –văn hóa. ởđây, giáo dục có tác dụng to lớn trong việc xây dựng một hệ
tưtưởng cho mỗi người, hình thành một nếp sống mới, trên nền tảng một nền văn
hóamới, nhân sinh quan mới. Trình độ dân trí của mỗi người sống trong cộng
đồng có được nâng lên ngang tầm với đòi hỏi của nền kinh tế –xã hội, thời đại
giai cấp ấy. Vì thế giáo dục luôn mang tính lịch sử và giai cấp (khi xã hội phân
chia thành giai cấp).
7
Từ việc nắm bắt quy luật trên đây của giáo dục, Đảng ta đã nhiều lần
khẳng định quan điểm cơ bản của giáo dục Việt Nam: Giáo dục là một bộ phận
của cuộc cách mạng tưtưởng văn hóa. Nhà trường là công cụ của chuyên chính
vô sản.Thầy giáo là chiến sĩ trên mặt trận tưtưởng văn hóa. Đại hội toàn quốc lần
thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) và tiếp đó là Hội nghị lần thứ tưcủa
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1 –1993) đã khẳng định "cùng với
khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Trong thực
tiễn lao động và cuộc sống xã hội, người xưa đã tích lũy được những kinh
nghiệm giáo dục và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách tự
nhiên trong kho tàng văn học dân gian của các dân tộc như: ca dao, tục ngữ, dân
ca, câu đố, trò chơi, chuyện kể Tri thức về việc giáo dục con người thời xưa (cổ
đại) nằm trong bộ môn triết học (khoa học nghiên cứu về đời sống tinh thần).
Đến thế kỉ XVII, lần đầu tiên xuất hiện hệ thống quan điểm giáo dục của J.A.
Cômenxki (1592 –1670) - Nhà giáo dục Tiệp Khắc vĩ đại với tác phẩm kiệt xuất
có tựa đề "Phép giảng dạy lớn"viết năm 1632. Tác phẩm này chứa đựng hệ thống
lí luận giáo dục của J.A. Cômenxki với tưcách một khoa học giáo dục con người
xuất hiện, đánh dấu mốc thời gian của sự tách khỏi triết học một khoa học mới ra
đời nghiên cứu việc giáo dục con người. Tiếp theo J.A. Cômenxki, nhiều nhà
giáo dụctiếp tục nghiên cứu làm phong phú thêm ở các thế kỉ sau như: J.J. Ruxô
(thế kỉ XVIII), K.D. Usinxki (thế kỉ XIX) và C. Mác –Ph. Ăngghen (giữa thế kỉ
XIX). Vậy giáo dục là một khoa học về việc giáo dục con người, có nhiệm vụ chỉ
ra bản chất và nêu ra các quy luật của quá trình giáo dục con người; xác định mục
tiêu giáo dục; quy định nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục
cho trẻ em ở các đối tượng khác nhau nhằm đạt được hiệu quả hoạt động tối ưu
trong những điều kiện, xã hội nhất định. Giáo dục học tiểu học là một chuyên
ngành của giáo dục, có nhiệm vụ xây dựng lí luận và tổ chức khoa học quá trình
giáo dục trẻ em ở độ tuổi từ 6 – 10 tuổi (trước tuổi đến trường phổ thông). Dựa
giáo dục tiểu học, phương pháp, đảm bảo vừa có giá trị định hướng, vừa đáp ứng
nhu cầu phát triển của hoạtđộng giáo dục mầm non theo hướng đa dạng hóa, xã
hội hóa, tạo điều kiện để hoạt động giáo dục tiểu học đáp ứng các yêu cầu phát
triển của xã hội và có cơ sở, có điều kiện hộinhập, tham gia vào hoạt động giáo
dục tiểu học trên thế giới và khu vực.
Miền núi phía Bắc Việt Nam - nơi có vị trí quan trọng trong lịch sử dựng
nước và giữ nước, là nơi tiếp giáp với các nước láng giềng, có vị trí quan trọng về
an ninh, quốc phòng. So với cả nước, các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có
nền kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí của đồng bào còn nhiều hạn chế…
Đây là một trong những nguyên nhân kìm hãm phát triển; đồng thời, các thế lực
thù địch có thể lợi dụng để kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc.
1.2 . Sơ lược về điều kiện tự nhiên và dân cư:
Điều kiện tự nhiên: Miền núi phía Bắc Việt Nam bao gồm 15 tỉnh: Hòa
Bình, Sơn La, Phú Thọ, Điện Biên, LaiChâu, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, LạngSơn, Bắc Giang và Quảng
Ninh. Đây là khu vực tập trung các khối sơn nguyên có độ cao,hướng núi và mức
chia cắt khác nhau.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc, phía
Nam giáp Thái Nguyên, phía Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Lạng Sơn, phía
Tây giáp Tuyên Quang. Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, địa hình, địa mạo nên khí
hậu Bắc Kạn có những nét đặc trưng như: nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 -
22
0
C, nhiệt độ thấp tuyệt đối -0,1
0
C ở thị xã Bắc Kạn và -0,6
0
C ở Ba Bể, -2
0
C ở
phổ thông tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay đang tồn tại những khó
khăn, yếu kém và bất cập.
2.1.1 Những kết quả tích cực đã đạt được trong công tác giáo dục phổ thông tại
các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự
nỗ lực cố gắng của nhân dân các dân tộc thiểu số, các tỉnh miền núi phía Bắc đã đạt
được những kết quả tích cực trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhất là giáo dục ở
các bậc phổ thông.
Thứ nhất, chất lượng giáo dục cả trong dạy và học đã được nâng cao rõ rệt.
Giáo dục mầm non từ chỗ hầu như không phát triển hoặc chỉ phát triển ở các thị
trấn, thị xã, thì nay đa số vùng cao đã có lớp mẫu giáo, nhóm trẻ gắn với trường tiểu
học. Tất cả các xã đều có trường tiều học, các bản “trắng’’ về giáo dục tiểu học hầu
như không còn. Phần lớn các xã và cụm xã có trường trung học cơ sở. Huyện nào
cũng có ít nhất một trường phổ thông. Bên cạnh đó còn có hàng trăm trường bán trú
dân lập hoặc trường nộ trú dân nuôi tại xã và cụm xã.
Thứ hai, hệ thống cơ sở vật chất của trường cấp xã, huyện đều được tăng
cường đáng kể, trở thành các hạt nhân đối với phong trào xây dựng văn hóa, nông
thôn mới ở miền núi.
Thứ ba, đội ngũ giáo viên đã được củng cố và phát triển cả về số lượng và
chất lượng. Từ chỗ phải chờ sự chi viện giáo viên từ các tỉnh miền xuôi, nay nhiều
tỉnh đã tự túc được giáo viên do tỉnh nào cũng có trường trung cấp sư phạm để đào
tạo giáo viên tiểu học, nhiều tỉnh có trường cao đẳng sư phạm (trường cao đẳng sư
phạm Cao Bằng, trường cao đẳng sư phạm Điện Biên, trường cao đẳng sư phạm
Hòa Bình, trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn, trường cao đẳng sư phạm Lào Cai,
trường cao đẳng sư phạm Sơn La,trường cao đẳng sư phạm Quảng Ninh, trường cao
12
đẳng sư phạm Yên Bái,…), tỉnh Thái Nguyên có trường đại học sư phạm Thái
Nguyên.
2.1.2 Những khó khăn và bất cập trong công tác giáo dục phổ phông tại các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta
có ai có trình độ phổ thông.
Thứ hai, cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển giáo dục - đào tạo còn thiếu và
chưa đồng bộ. Cho đến nay, nguồn kinh phí đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất và
trang thiết bị giáo dục vẫn không đủ, nhiều tỉnh còn thiếu phòng học, học sinh phải
học ở những lớp học tạm bợ. Trang thiết bị dạy học vừa thiếu vừa không đồng bộ,
hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% yêu cầu, tình trạng phổ biến vẫn là dạy
“chay”, học “chạy”. ở Lai Châu, số phòng học mới chỉ đáp ứng được 1/2 nhu cầu
hiện tại, nhiều trường vẫn phải học 3 ca. ở Lào Cai, vẫn còn nhiều số phòng học
tạm, chỉ có trên 30% số trường có thư viện. ở Sơn La, vẫn còn rất nhiều phòng học
tranh, tre, nứa, lá. ở Hoà Bình, vẫn còn trên 1000 phòng học tạm. ở Bắc Cạn, số
phòng học tạm là 910, trong đó có 462 phòng tranh, tre, nứa, lá. Theo số liệu thống
kê của Bộ GD&DT, năm học 2013-2014, các tỉnh miền núi phía Bắc còn thiếu
7.200 phòng học, còn hơn 5.500 phòng học tạm và 5.852 phòng học nhờ.
Hầu hết trang thiết bị tại các trường học chỉ có bảng đen, bàn ghế được sử dụng
chung cho tất cả các học sinh trường cùng cấp học và các lớp ghép nên gây khó
khăn trong học tập đối với học sinh. Một tình trạng khá phổ biến là không đủ sách
cho học sinh học tập và nâng cao trình độ. Thư viện các trường chủ yếu chỉ có sách
giáo khoa nhưng cũng không đồng bộ, sách tham khảo hầu như không có. Giáo viên
14
dạy các môn nhạc, hoạ, ngoại ngữ, tin học… thiếu trầm trọng, các phương tiện dạy,
học cho những môn này cũng chưa được trang bị đầy đủ, vì vậy, cơ hội được học
tập toàn diện các môn cho học sinh còn rất ít.
Thứ ba, đội ngũ giáo viên ở các tỉnh miền núi phí Bắc vừa thiếu, vừa yếu.
Về số lượng: Hiện nay, nhiều tỉnh này vẫn còn thiếu nhiều giáo viên ở tất cả các cấp
học. Ngoại trừ Lai Châu là tương đối đủ giáo viên trung học, các tỉnh khác đều gặp
khó khăn. Hoà Bình thiếu 215 người, Sơn La thiếu 209 người, Lao Cai thiếu gần
200 người, Bắc Cạn thiếu 66 người. Với giáo viên trung học cơ sở, Lai Châu thiếu
300 người, trong đó, vẫn còn 172/2.200 bản chưa có giáo viên, Lao Cai thiếu 700
người. Với giáo viên tiểu học, Bắc Cạn thiếu 208 người, Lao Cai thiếu 1.115 người.
Tình trạng thiếu giáo viên dẫn đến việc các trường phải huy động dạy học thêm ca,
So với các vùng khác trong cả nước, hiệu suất đào tạo ở khu vực này còn rất thấp.
Hiện có tới 4 tỉnh miền núi phía Bắc trong số 7 tỉnh của cả nước có hiệu suất đào
tạo dưới 50% là: Cao Bằng 47,33%, Sơn La 42,67%, Lai Châu (cũ) 37,6%, Hà
Giang 21,76%. Với hiệu suất đào tạo thấp như vậy, sẽ có ít cơ hội cho người dân
trong vùng tham gia học tập, hiện số người mù chữ còn cao, đặc biệt là trong đồng
bào các dân tộc thiểu số.
Thứ năm, Việc nghiên cứu và dạy chữ dân tộc, nói chung đang bị ngừng trệ
và hạn chế phát triển. Lý do là sự đánh giá về yêu cầu chữ dân tộc giữa các địa
phương hoặc ngay trong 1 vùng cũng khác nhau về cơ bản. Nơi thì cho là cần, nơi
cho là không cần, vì không thấy có tác dụng thiết thực và làm chậm việc phát triển
16
giáo dục bằng chữ quốc ngữ. Do đó, việc dạy chữ Mông, chữ Thái ở vùng Tây Bắc
đang bị cầm chừng hoặc không còn duy trì, phát triển nữa.
Nguyên nhân của các mặt còn yếu kém tồn tại trên, về khách quan là do điều
kiện kinh tế, đời sống vật chất ở miền núi còn nhiều khó khăn hơn miền xuôi; ý
thức lo lao động sản xuất hơn là lo cho con đi học trong các dân tộc thiểu số, nhất là
ở vùng cao, còn khá nặng nề; điều kiện hỗ trợ của Nhà nước cho việc phát triển sự
nghiệp giáo dục miền núi chưa có khả năng đáp ứng yêu cầu; ở vùng biên giới phía
Bắc lại còn có sự phản tuyên truyền, và phá hoại của bọn bành trướng, phản động
Trung Quốc, v.v Nhưng về chủ quan còn nhiều nhược điểm, thiếu sót là chủ yếu,
như sau:
Một là, về nhận thức đối với việc phát triển giáo dục ở miền núi nói chung, ở
vùng cao nói riêng của các cấp, các ngành, kể cả ngành giáo dục, chưa được quán
triệt đầy đủ, nên còn chưa quan tâm đúng mức đến việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức
thực hiện nhiệm vụ này; ở chừng mực nhất định còn bị coi nhẹ so với miền xuôi và
các thành phố, thị xã. Do đó, có nhiều tồn tại và vướng mắc đã thấy từ lâu, nhưng
chậm hoặc chưa được giải quyết, khắc phục.
Hai là, Việc vận dụng thực hiện chương trình nội dung và tổ chức hệ thống
trường lớp ở miền núi, đặc biệt ở vùng cao theo nội dung cải cách giáo dục không
được nghiên cứu kịp thời cho sát với từng vùng, ngược lại đã áp dụng một cách dập
dục miền núi, cả về mặt số lượng và chất lượng.
Tóm lại, những hạn chế điều kiện kinh tế-xã hội, giao thông khó khăn, địa
hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt đã tạo lên nhiều bất cập trong công tác giáo dục
đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay. Xuất phát từ những nhận
18
thức chung về công tác giáo dục giáo dục tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nhóm
nghiên cứu chúng tôi đã đi tìm hiểu khảo sát thực tế công tác giáo dục-đạo tạo tại
huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn.
2.2 Kết quả khảo sát công tác giáo dục phổ thông tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc
Kạn
Ba Bể là một huyện miền núi phía Bắc nằm cách Thị xã Bắc Kạn hơn 50km
về hướng Tây Bắc. Địa hình chủ yếu của huyện Ba Bể là đồi núi cao xen lẫn những
khối núi đá vôi hiểm trở, diện tích đất đồi, núi cao chiếm khoảng 90% tổn diện tích
toàn huyện. Là một huyện nghèo, có điều kiện kinh tế- xã hội cực kỳ khó khăn nên
công tác giáo dục phổ thông tại huyện Ba Bể còn nhiều bất cập mặc dù nhà nước,
các tổ chức đoàn thể xã hội đã và đang tích cực thực hiện các chương trình, dự án
nhằm thúc đẩy phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo tại huyện Ba Bể.
2.2.1 Những thuận lợi và các kết quả đã đạt được trong công tác giáo dục phổ
thông tại huyện Ba Bể
Thuận lợi thứ nhất: Nhà trường thuộc các bậc học từ mần non đến trung học
phổ thông của toàn huyện Ba Bể được Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Ba Bể, các
cấp Đảng ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức, đoàn thể chính trị-xã hội, các
nhà hảo tâm luôn quan tâm, giúp đỡ và chỉ đạo sát sao mọi hoạt động giáo dục của
nhà trường.
Thuận lợi thứ hai: Huyện có đội ngũ giáo viên trẻ, năng động, có trình độ
chuyên môn-nghiệp vụ, có tinh thần đoàn kết và lòng thương yêu học sinh. Các thầy
cô giáo đều đang tích cực thực hiện các cuộc vận động như “mỗi thầy cô giáo là
môt tấm gương đạo đức, tự học và tự sáng tạo”, “kỷ cương-tình thương-trách
nhiệm”, và phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện-học sinh tích cực”.
Trong số các thầy cô giáo tại các trường học có những thầy cô là tri thức trẻ tình
học đạt trên 55%; học sinh đạt học lực khá giỏi của bậc THCS đạt trên 28%; tỷ lệ
học sinh tốt nghiệp THPT đạt trên 98%. Cùng với đó cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học từng bước được kiên cố và nâng cao, toàn huyện hiện có 678 phòng học,
trong đó hơn 73% số phòng học được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Chất lượng
giáo dục toàn diện của các bậc học được nâng lên; công tác bồi dưỡng học sinh khá
giỏi được quan tâm đầu tư và đạt được những thành tích đáng ghi nhận.
Câu lạc bộ tình nguyện “vì trẻ em vùng cao” được thành lập và hoạt động tại
địa bàn huyện Ba Bể bắt đầu từ tháng 11/2012 đã đóng góp tích cực vào việc nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo của huyện Ba Bể.Tôn chỉ hoạt động của câu lạc bộ
là tập hợp đoàn viên, thanh niên và các nhà hảo tâm tham gia ủng hộ, tuyên truyền
vận động hỗ trợ trẻ em các thôn, bản vùng khó khăn, trẻ em mắc căn bệnh hiểm
nghèo. với sự kiên trì, quyết tâm mang nụ cười cho thiếu nhi vùng cao, hoạt động
của câu lạc bộ đã dần thu hút được sự quan tâm của đông đảo cán bộ, đoàn viên,
thanh niên. Đến nay, Câu lạc bộ tình nguyện “Vì trẻ em vùng cao” - thành viên tập
thể của Hội LHTN Việt Nam huyện Ba Bể đã có 385 thành viên, trong đó có 65
thành viên thường trực, 01 chủ nhiệm và 04 phó chủ nhiệm. Sau gần 2 năm hoạt
động, các thành viên của Câu lạc bộ tình nguyện “Vì trẻ em vùng cao” đã tổ chức
thăm và tặng quà cho 20 điểm trường trong toàn huyện định kỳ mỗi tháng 1 lần vào
thứ 7 cuối tháng; tổ chức 01 đêm nhạc từ thiện, quyên góp được gần 18 triệu đồng;
bán hàng gây quỹ tại Hội xuân Ba Bể với 100% lợi nhuận từ việc bán hàng đưa vào
quỹ của câu lạc bộ; tổ chức Tết thiếu nhi cho 275 thiếu nhi thôn Phia Khao, điểm
trường Tọt Còn, Nà Ma - Phiêng Chỉ, Nà Đồng- Nà Cà của huyện Ba Bể; tặng 320
chiếc đèn ông sao, 6 thùng bánh kẹo cho trẻ em thôn Đán Mảy; láng nền 02 phòng
học diện tích 60m2 tại Phia Phạ - xã Phúc Lộc, Bản Lấp - xã Bành Trạch; giúp đỡ
em Lý Văn Quyến, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm mắc bệnh tim bẩm sinh được
21
phẫu thuật; vận động, khâu nối sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân hỗ trợ kinh phí
chương trình ăn trưa cho 15 điểm trường vùng cao của huyện Ba Bể.
2.2.2 Những khó khăn trong công tác giáo dục phổ thông tại huyện Ba Bể
Bên cạnh những thuận lợi và các kết quả tích cực đạt được, công tác giáo dục
lớp vùng thôn bản diễn ra thường xuyên và tồn tại cả tình trạng học sinh chưa đủ
tuổi đã kết hôn. Điển hình như, năm học 2013-2014, hai học sinh đang học lớp 9 tại
trường THCS Phúc Lộc xin kết hôn, gia đình hai em phải đến trường xin phép nhà
trường cho hai em kết hôn. Tại trường Đồn Đèn, một trong 6 điểm trường khó khăn
của trường tiểu học Khang Ninh. Ở đây có 7 giáo viên, 5 lớp với 75 học chủ yếu là
con em đồng bào Mông và Dao. 100% là hộ nghèo ở rải rác các nơi trên đỉnh Đồn
Đèn, Khuổi Luông…HS nhiều em chưa thông thạo tiếng phổ thông nên tiếp thu rất
chậm, có em học buổi sáng, buổi chiều đã quên, thậm chí cả năm học vẫn chưa biết
đánh vần những chữ cái đơn giản. Gia đình những em thuộc khu tái định cư Đồn
Đèn rất khó khăn, bố mẹ đa số mù chữ nên không quan tâm đến việc học của con,
phó mặc cho nhà trường. Các em đều được mượn sách từ thư viện nhà trường, vở tự
mua. Nhưng nhiều em không được mua vở nên có em đi học chỉ có 1 quyển vở viết
chung các môn. Đa số ở đây các cháu học hết lớp 5 là bỏ học. Điều này làm cho
chất lượng giáo dục chậm được cải thiện.
Tóm lại, huyện Bắc Cạn đã được các cấp, các nghành, các tổ chức chính trị-
xã hội quan tâm, giúp đỡ rất nhiều trong công tác giáo dục phổ thông. Hệ thống
trường lớp các bậc học của toàn huyện nhìn chung đã được đầu tư hơn so với những
năm trước đây, đội ngũ giáo viên các trường có chuyên môn, nghiệp vụ và tâm
23
huyết với nghề. Tuy nhiên, bên cạnh một số điểm tích cực đó, công tác giáo dục của
huyện Bắc Cạn còn tồn tại nhiều yếu kém và bất cập như tình trạng mù chữ, bỏ học,
học kém, thiếu cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học, thiếu phòng học, gia đình
phó mặc việc nuôi dạy con cho nhà trường….
III. GIẢI PHÁP
Như trên đã trình bày, sự nghiệp giáo dục bậc Phổ thông ở miền núi phiá Bắc nước
ta hiện nay nói chung và công tác giáo dục đào tạo ở Huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn
24
nói riêng từ trước đến nay đã đạt được những thành quả đáng kể, là nhân tố quan
trọng cho việc phát triển văn hóa xã hội của miền núi phía Bắc . Tuy nhiên, so với
yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở miền núi, thì những thành quả đó