SKKN Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường tiểu học - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC”
PHỤ LỤC
STT NỘI DUNG TRANG
PHẦN THỨ NHẤT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I Đặt vấn đề 1
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Ý nghĩa, tác dụng của giải pháp mới 5
3 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
II Phương pháp tiến hành
1 Cơ sở lí luận 8
2 Cơ sở thực tiễn 14
3 Các biện pháp tiến hành- thời gian tạo ra giải pháp 16
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
I Mục tiêu chung 17
II Các biện pháp thực hiện 17
III Kết quả 43
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN
1 Kết luận 47
2 Điều kiện áp dụng giải pháp 48
3 Bài học kinh nghiệm 49
4 Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển
các giải pháp
50
5 Kiến nghị 51
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT

vi tính và các trang thiết bị cần thiết khác , tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho công tác quản
lí của BGH, cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình.
CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình
thức dạy – học, giúp việc chuyển từ “ lấy giáo viên làm trung tâm” sang “ lấy học
sinh làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn. Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế
giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời
gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “ bấm chuột”, vài
giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm
thanh sống động, thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú cho học sinh. Thông qua giáo
án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian để đặt các câu hỏi gợi mở, tạo điều kiện
cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học. Những khả năng mới mẻ, ưu việt này
của CNTT và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc,
cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả cách ra quyết định của con người.
Mục tiêu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản
chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao
chứ không đơn thuần chỉ là “ Thầy đọc- trò chép; thầy giảng- trò nghe; thậm chí “
thầy giảng- trò ngủ gật” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo
điều kiện để chủ động lĩnh hội kiến thức, sắp xếp hợp lí quá trình tự học tập, tự rèn
luyện của bản thân mình.
Mục đích của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường nói chung và trường Tiểu
học nói riêng là sử dụng CNTT như một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo các
nhà trường nâng cao chất lượng công tác quản lí, giúp các thầy giáo, cô giáo nâng cao
chất lượng dạy học và các em học sinh được học ra học, góp phần rèn luyện cho học
sinh (HS) một số phẩm chất của người lao động thời kì CNH-HĐH.
Có thể khẳng định: Đã đến lúc việc ứng dụng CNTT trong nhà trường nói chung,
trường Tiểu học nói riêng cần được quan tâm đúng mức hơn và cần được quản lí chặt
chẽ, hiệu quả hơn.
Vậy người Hiệu trưởng trường Tiểu học cần phải làm gì để đưa CNTT vào trong
nhà trường và quản lí việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của nhà trường nói chung,
trong hoạt động dạy học nói riêng? Bản thân tôi đã thực sự tâm huyết, trách nhiệm và

Như vậy, việc quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học góp phần thực
hiện đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp giáo dục nói riêng nhằm nâng cao
chất lượng.
Thứ hai: Xuất phát từ thực tế tại trường TH Xuân Quan việc ứng dụng CNTT vào
dạy học còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn do trình độ tin học của giáo viên còn nhiều
bất cập. Hầu hết CBGV-NV đều không được đào tạo, trang bị bài bản kiến thức Tin học.
Kiến thức, hiểu biết và kĩ năng của GV đều do cá nhân tự học hỏi, nhiều thuật ngữ , kĩ
thuật máy tính còn chưa nắm bắt đầy đủ, có những GV còn chưa biết thao tác mở-tắt máy
tính, lại rất hạn chế về ngoại ngữ - tiếng Anh- thậm chí có nhiều GV không biết
( vì trước đây ở trường phổ thông mới chỉ được học tiếng Nga) làm cho việc sử dụng
máy vi tính gặp rất nhiều khó khăn. Đội ngũ học sinh chủ yếu là con nông dân, đời sống
kinh tế còn khó khăn, rất ít gia đình học sinh và cả giáo viên có máy tính. Cơ sở vật chất,
trang thiết bị phục vụ cho dạy học nói chung, phục vụ cho việc ứng dụng CNTT còn
nhiều hạn chế và rất khiêm tốn ( Năm học 2008-2009 nhà trường mới có 02 máy tính
thanh lí do Công ty Việt Hưng chuyển cho để sử dụng). Các thiết bị đi kèm thiếu đồng bộ,
lỗi thời ( do quá cũ, không có thiết bị thay thế),…
Mặt khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi. Sự áp
đặt vẫn chưa thể một sớm một chiều xóa được trong một bộ phận giáo viên. Việc dạy học
có ứng dụng CNTT còn quá mới mẻ với giáo viên. Điếu đó làm cho CNTT, mặc dù đã
đưa được vào quá trình dạy học mà vẫn chưa thể phát huy tính tích cực và hiệu quả của
nó. Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kĩ và hiểu đúng dẫn
đến việc ứng dụng không đúng lúc, không đúng chỗ, nhiều khi còn bị lạm dụng. Việc
đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng. Kết quả đánh giá giờ giảng ứng
dụng CNTT đôi khi còn là sự cảm tính. Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực
hiện triệt để và chưa có chiều sâu, sử dụng không thường xuyên, chưa có kĩ năng khai
thác nguồn tư liệu theo địa chỉ. Khả năng trình chiếu bài giảng trên máy tính chưa tốt làm
cho chất lượng bài giảng chưa đạt hiệu quả như mong muốn, chất lượng giáo dục chưa
được nâng cao.Việc ứng dụng CNTT trong dạy học trở thành nhu cầu cấp bách, không
thể thiếu trong việc đổi mới phương pháp của giáo viên trong mỗi nhà trường.
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, xuất phát từ yêu cầu khách

Thứ ba: Đối với học sinh
Các em được là chủ thể của quá trình dạy học, được lính hội tiếp thu kiến thức một
cách chủ động, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng phản xạ nhanh và chính xác. Trong các
giờ dạy có ứng dụng CNTT của GV, học sinh có hứng thú hơn trong học tập, kết quả học
tập tốt hơn. Các em tích cực tham gia có hiệu quả cao các cuộc thi qua mạng do nhà
trường phát động theo sự chỉ đạo của ngành.
3.Phạm vi nghiên cứu của SKKN.
3.1 Nơi tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm: Trường Tiểu học Xuân Quan – xã Xuân
Quan- huyện Văn Giang- tỉnh Hưng Yên.
3.2: Đối tượng SKKN tiến hành nghiên cứu: Giáo viên.
3.3 : Lĩnh vực khoa học nghiên cứu: Quản lí.
3.4: Mục đích của SKKN: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện
pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; tăng tính hiệu quả và đẩy
mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường Tiểu học.
3.5: Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học.
- Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường TH Xuân Quan trong
05 năm học ( từ năm học 2009-2010 đến nay)
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học.
4.2. Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường Tiểu học. 4.3. Đề xuất
một số biện pháp quản lý của phòng GD&ĐT nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT
vào dạy học ở trường Tiểu học.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, mô hình hoá… các tài liệu, các văn bản có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu như sách, tài liệu về giáo dục, về quản lý giáo dục, về CNTT
và ứng dụng CNTT ; chủ trương đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật
của nhà nước, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở GD&ĐT Hưng Yên, của
Phòng GD&ĐT Văn Giang về CNTT và quản lý việc ứng dụng CNTT nhằm xây dựng cơ

học trong đó có ứng dụng CNTT không nhằm ngoài mục đích thực hiện tốt các nhiệm vụ
dạy học.
1.1.2. Phương tiện kỹ thuật dạy học
Để việc dạy học đạt hiệu quả cao, trong quá trình dạy học người giáo viên và học
sinh phải sử dụng các phương tiện dạy học mà ta vẫn gọi là thiết bị dạy học. Việc đổi mới
phương pháp dạy học cũng bao gồm việc đổi mới các thiết bị - phương tiện dạy học, đổi
mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách dạy, cách quản lý việc sử dụng các phương tiện dạy
học sao cho hoạt động này trở thành thói quen thường xuyên trong từng tiết lên lớp của
giáo viên.
Trên thực tế trong dạy học sử dụng nhiều loại thiết bị dạy học, phương tiện kỹ thuật
dạy học khác nhau và được phân loại như sau:
a) Thiết bị đơn giản: Các dụng cụ dạy học học thông thường: tranh ảnh, đồ dùng
dạy học, mô hình vật mẫu, đồ chơi giáo dục mầm non…
b)Thiết bị hiện đại có giá trị kinh tế cao: Các thiết bị phục vụ dạy học và đồ dùng
dạy học hiện đại, máy móc thực hành, dụng cụ thí nghiệm, máy chiếu, máy vi tính, máy soi
vật thể, hệ thống nghe nhìn, máy in, máy photo coppy…
Do có nhiều ưu điểm nổi trội, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và do
khoa học công nghệ ngày càng phát triển mà các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại
ngày càng được phát triển. Quản lý tốt các phương tiện kỹ thuật dạy học sẽ có tác động
tích cực đối với việc nâng cao chất lượng dạy học.
1.2. CNTT và ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong trường TH.
1.2.1. Thông tin- Công nghệ thông tin.
a.Thông tin:
Thông tin là một khái niệm trừu tượng mô tả các yếu tố đem lại hiểu biết, nhận thức
cho con người cũng như các sinh vật khác. Thông tin tồn tại khách quan, dưới nhiều dạng
khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, có thể được tạo ra, truyền đi, lưu trữ và
chọn lọc. Khi tiếp nhận thông tin, con người thường phải xử lí nó để tạo ra những thông tin
mới và tạo ra những phản ứng nhất định. Trong lĩnh vực quản lí, các thông tin mới là các
quyết định quản lí.
b) Công nghệ thông tin

nhà trường không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội trong thời đại
ngày nay.
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực : ứng dụng CNTT trong
quản lý và ứng dụng CNTT trong giảng dạy ( Phạm vi đề tài là ứng dụng CNTT vào
giảng dạy ở trường TH). Thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay đã trở
nên phổ biến. Điều kiện CSVC, hạ tầng CNTT - viễn thông đang thay đổi một cách
nhanh chóng là một cơ hội rất lớn cho một phương pháp giáo dục hiện đại, một nền giáo
dục tiên tiến với vai trò nòng cốt của CNTT. Nó đòi hỏi công tác quản lý giáo dục phải có
những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà CNTT mang lại cho việc dạy
và học trong nhà trường
1.3. Quản lý ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong trường TH
1.3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT
Nhân loại đang bước vào một thời đại mới, thời đại mà thông tin, tri thức trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp, thời đại của xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức được
hình thành trên cơ sở phát triển và ứng dụng rộng rãi CNTT&TT. Cuộc cách mạng thông
tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời
sống kinh tế - xã hội, đưa con người chuyển nhanh từ xã hội công nghiệp sang xã hội
thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc
chủ yếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin
Trong xu thế biến động mạnh mẽ của cuộc cách mạng thông tin, Đảng, Chính phủ,
Bộ GD&ĐT và cấp cơ sở đã có nhiều văn bản chỉ đạo và xác định CNTT là một trong
các động lực quan trọng nhất của sự phát triển. Cụ thể:
- Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và
phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đã chỉ ra rằng “Ứng dụng và phát triển
CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của
toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành
kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho
quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

Bốn là: CNTT đã đem đến một tài nguyên giáo dục cho tất cả mọi người, làm cho
vai trò, vị trí của giáo viên thay đổi, người học có thể phát huy tính tích cực tự truy cập
vào nguồn tài nguyên học tập vô cùng phong phú trên mạng Internet với những tiêu chí
mới: học mọi lúc, học mọi nơi,…rất dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả.
Năm là: CNTT làm thay đổi quá trình dạy học với nhiều hình thức phong phú. Mối
giao lưu, tương tác giữa người dạy và người học đặc biệt là giữa người học và máy tính.
Thông tin đã trở thành tương tác hai chiều với nhiều kênh truyền thông là kênh chữ, kênh
hình, động hình, âm thanh, màu sắc mà đỉnh cao là các sản phẩm E-learning.
1.3.3. Quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy
Việc ứng dụng CNTT vào quản lý dạy học là công việc, là nhiệm vụ của các nhà
quản lý giáo dục nói chung và của mỗi nhà quản lý các cơ sở giáo dục đào tạo nói riêng.
Quản lý là lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển một tổ chức bằng cách vạch ra mục tiêu cho tổ
chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức sao cho tổ chức
ấy đạt được mục tiêu đề ra.
Mục đích phát triển giáo dục nước ta hiện nay là phải nâng cao chất lượng giáo
dục. Một trong những vấn đề trăn trở của ngành giáo dục là: làm thế nào để CNTT thực sự
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục? Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là một
trong những lời giải của bài toán nâng cao chất lượng GD&ĐT. Các biện pháp quản lý ứng
dụng CNTT trong hoạt động giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định
để nâng cao chất lượng giáo dục ở trường TH.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng hoạt động ứng dụng CNTT vào giảng dạy
2.1.1. Ưu điểm
Nhà trường được tiếp thu đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết , Quyết định của cấp trên về
nhiệm vụ trọng tâm từng năm học. Căn cứ vào đó nhà trường xây dựng kế hoạch và triển
khai thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, của địa phương. Bên cạnh
đó lại có đội ngũ CBQL năng động, nhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết và có năng lực
quản lý tốt là động lực thúc đẩy việc ứng dụng CNTT vào dạy học.
Nhà trường được sự quan tâm, chỉ đạo của Phòng GD&ĐT đầu tư về trang thiết bị từ
ngồn ngân sách chi cho mua sắm trang thiết bị dạy học. BGH quan tâm bồi dưỡng GV về

2.2. Nguyên nhân của tồn tại hạn chế
Trước hết, một bộ phận nhỏ CBGV-NV còn chậm đổi mới về tư duy, thiếu sáng
tạo, nhạy bén, chưa theo kịp yêu cầu và sự đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn; chưa coi
trọng công tác phát triển và ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy.
Thứ hai, một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương
pháp dạy học; Kĩ năng ứng dụng CNTT còn hạn chế.
Thứ ba, kinh phí đầu tư cho giáo dục còn ít, cơ sở vật chất, máy tính, mạng
máy tính, trang thiết bị dạy học nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của việc nâng
cao chất lượng.
2. Các biện pháp tiến hành – thời gian tạo ra giải pháp.
2.1: Các biện pháp tiến hành
Biện pháp 1:Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, lợi ích của việc ứng dụng
CNTT trong giảng dạy.
Biện pháp 2 : Lập kế hoạch cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở
trường Tiểu học.
Biện pháp 3 : Xây dựng kế hoạch tạo nguồn nhân lực có chất lượng về CNTT cho
nhà trường.
Biện pháp 4 : Tổ chức tập huấn, chuyên đề cho GV để phổ biến, chia sẻ các nguồn
tài nguyên mạng và các PPDH có ứng dụng CNTT.
Biện pháp 5 : Tăng cường các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tin học,
hiện đại hóa trang thiết bị.
Biện pháp 6 : Kiểm tra và đánh giá việc bảo quản, sử dụng CNTT ở trường Tiểu
học.
2.2: Thời gian: Từ năm học 2009-2010 đến nay.
Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà trường và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy
học đồng thời từ thực trạng quản lý, tôi đã thực hiện có hiệu quả trong 5 năm qua, nay xin
đề xuất: Biện pháp Quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở trường Tiểu học.
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY Ở

thiết phải đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào tất cả mọi hoạt động của lĩnh vực này là xu thế
tất yếu. Trong xu thế toàn cầu hóa, CNTT đang làm thay đổi mọi lĩnh vực hoạt động của
con người. Chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi trong xã hội loài người tới mức
chóng mặt trong đó kĩ năng toàn cầu, hiểu biết quốc tế, CNTT, tri thức mới Khẳng định
CNTT là công cụ quan trọng thiết thực cho việc đẩy mạnh chất lượng giáo dục.
Thực hiện đổi mới tư duy trong giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới
nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức thực hiện, đổi mới việc kiểm tra, đánh giá
trong hoạt động giáo dục. Giúp cho người học tự đánh giá, tự điều chỉnh, tự giải quyết
vấn đề sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân và các yêu cầu của xã hội.
Giúp cho cán bộ, giáo viên có ý chí phấn đấu, có ý thức tự học hỏi, vươn lên để trở thành
nhà giáo, nhà sư phạm mẫu mực có tính thần trách nhiệm cao.
Khắc phục những tư tưởng tiêu cực buông xuôi hoặc bệnh thành tích, đốt cháy giai
đoạn, nóng vội duy ý chí trong việc ứng dụng CNTT trong đổi mới giáo dục.
Khuyến khích động viên giáo viên chủ động tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ về
CNTT, tạo điều kiện cho các thầy cô giáo cao tuổi tiếp cận CNTT, kích thích niềm say mê
tìm tòi CNTT, coi đó là tấm gương sáng cho lớp trẻ.
1.3. Tổ chức thực hiện
Trước tiên là lãnh đạo nhà trường cần tìm hiểu và nhận thức đúng đắn các chủ
chương, chính sách của Đảng, của Nhà nước của Bộ GD&ĐT, của UBND, Sở GD&ĐT
Hưng Yên; UBND, phòng GD & ĐT Văn Giang về CNTT trong lĩnh vực hoạt động giáo
dục. Lãnh đạo nhà trường phải là người tiên phong, đi đầu trong việc ứng dụng các tiện
ích của CNTT thông tin đem lại, tạo ra phong trào và là tấm gương sáng cho cán bộ, giáo
viên trong nhà trường noi theo.
Bằng nhiều hình thức, quán triệt trong Ban giám hiệu, Chi ủy Đảng, Công đoàn,
Đoàn thanh niên và các tổ chức khác trong nhà trường. Cung cấp, tuyên truyền các văn
bản chỉ đạo của cấp trên về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nhà trường. Xây dựng
các kế hoạch, ra các văn bản, quyết định có tính chất chiến lược lâu dài, kết hợp triển
khai theo từng mảng công việc, giao trách nhiệm cho các CBQL và các tổ chức khác
trong nhà trường thực hiện các nhiệm vụ về ứng dụng CNTT. Tạo sự đồng thuận, nhất trí
trong Ban giám hiệu và các tổ chức khác trong nhà trường. Để công tác tuyên truyền đạt

phương pháp dạy học.
Động viên, khuyến khích các thầy, cô giáo cao tuổi có kinh nghiệm, say mê CNTT,
say sưa tìm tòi phương pháp giảng dạy mới, tổng hợp, góp ý, kết hợp các phương pháp
dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại để đạt được hiệu quả cao nhất
trong dạy học, coi đó là tấm gương sáng cho cán bộ, giáo viên trẻ noi theo. Có chế độ ưu
tiên, khuyến khích, động viên, khen thưởng, tuyên dương các cá nhân, tập thể ứng dụng
hiệu quả CNTT trong công việc và đổi mới phương pháp dạy học. Coi đó là một tiêu chí
thi đua trong các cá nhân, tập thể trong nhà trường.
HT, PHT, các TTCM, TPCM tăng cường công tác kiểm tra, dự giờ thăm lớp, xếp
loại giáo viên nhất là các bài dạy, tiết dạy có ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp
dạy học.
Tạo mọi điều kiện cho cán bộ, giáo viên đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về
chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực CNTT( Năm học 2008-2009 nhà trường chi 100%
kinh phí học tập chứng chỉ Tin học A, B, C cho CBGV-NV. Từ năm học 2009- 2010 trở
đi chi 50% )
Tham mưu, huy động mọi nguồn lực để trang bị, mua sắm thêm về cơ sở vật chất,
máy tính, mạng máy tính cho nhà trường.
1.4. Điều kiện thực hiện
* Đối với cán bộ quản lý:
Lãnh đạo nhà trường phải hiểu rõ xu thế phát triển tất yếu của thời đại đó là sự phát
triển mạnh mẽ của Khoa học - Công nghệ. Từ đó có sự nhất trí đồng thuận trong lãnh đạo
nhà trường về đường lối, chủ trương của ngành về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động
dạy học. Đi sâu đi sát hiểu rõ thực tế trong tình hình phát triển kinh tế, văn hóa chính trị
của địa phương; điều kiện thực tiễn của nhà trường trong sự biến đổi của xã hội. Điều
kiện về năng lực quản lý và trình độ CNTT của cán bộ quản lý. Cần phải chủ động trau
dồi kiến thức tin học, nâng cao trình độ CNTT.
* Đối với giáo viên:
Nghiêm túc trong việc thực hiện đường lối chủ trương chung của lãnh đạo nhà
trường. Chủ động đổi mới tư duy, nhận thức được vai trò của CNTT trong giai đoạn hiện
nay. Biết cách sử dụng CNTT một cách phù hợp trong giờ dạy, đổi mới phương pháp dạy

kiểm tra đánh giá có chất lượng, hiệu quả.
2.2. Nội dung
Kế hoạch ứng dụng CNTT trong dạy học của Hiệu trưởng ban hành phải là một
phương án tổng hợp bao gồm các yếu tố: mục tiêu, thời gian, không gian, nội dung của
các hoạt động, nguồn nhân lực, vật lực, tài chính, phương án tổ chức bộ máy, sắp xếp cán
bộ cho việc triển khai thực hiện.
2.3. Tổ chức thực hiện
Phải xác định các mục tiêu, các bước đi cụ thể về ứng dụng CNTT vào dạy học cho
từng giai đoạn, từng học kỳ, từng năm học.
Xây dựng kế hoạch về khai thác và sử dụng kinh phí đầu tư : không chỉ dừng ở
việc đầu tư trang thiết bị, mà cần chú trọng hơn trong kế hoạch kinh phí cho bảo trì, bảo
dưỡng; mua phần mềm; lắp đặt và khai thác đường truyền Internet, xây dựng cơ sở dữ
liệu điện tử phục vụ dạy học và quản lý
- Xây dựng kế hoạch về con người : Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ
cho đội ngũ hiện nay, có kế hoạch bồi dưỡng chuyên sâu các kỹ năng soạn thảo văn bản
trên máy tính để thiết kế giáo án, sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học, kỹ năng khai thác và
sử dụng thông tin trên mạng, kỹ năng tổ chức dạy học bằng trình chiếu,
Trong kế hoạch cần chỉ rõ Ai chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt
động, kiểm tra theo kế hoạch đã đề ra? Hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học có liên
quan chặt chẽ với các hoạt động chuyên môn khác nên công việc này cần giao cụ thể cho
PHT hoặc TTCM, hoặc GV có trình độ, kĩ năng về CNTT và có kinh nghiệm trong chỉ
đạo đổi mới dạy học đối với giáo viên. Điều này hết sức quan trọng giúp cho các hoạt
động quản lý được triển khai một cách có hiệu quả.
3. Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch tạo nguồn nhân lực có chất lượng về CNTT cho
nhà trường.
3.1. Mục đích, ý nghĩa
Điều kiện kinh tế xã hội thay đổi cùng với sự tiến bộ về khoa học công nghệ đã tạo
ra môi trường mới cho giáo dục. Môi trường mới vừa tạo điều kiện vừa bắt buộc chúng ta
phải đổi mới phương pháp dạy học. Ngày nay, kiến thức, kĩ năng về CNTT là một trong
những văn hóa thiết yếu, cần thiết cho cuộc sống và công việc. Việc nước ta gia nhập

chóng đối với CNTT.
3.3. Tổ chức thực hiện
Xây dựng kế hoạch cử cán bộ, giáo viên đi học chứng chỉ để nâng cao trình độ
chuyên môn về Tin học, GV không đi học các lớp cấp chứng chỉ thì chỉ cần có kĩ năng sử
dụng, ứng dụng ( Qua kiểm tra, sát hạch tay nghề hàng năm do nhà trường tổ chức.
Năm học 2012-2013 và 2013- 2014 nhà trường tổ chức kiểm tra, đánh giá cho điểm và
đưa vào kết quả thi đua), đồng thời mời các chuyên gia và giáo viên giảng dạy có kinh
nghiệm, hướng dẫn trực tiếp, thuyết trình bằng máy chiếu, thảo luận, hỏi đáp, thực hành
tại trường 3 lần cho 100% CBGV-NV
Hàng năm, luân phiên tổ chức bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng sử dụng CNTT cho
giáo viên cốt cán để sử dụng được máy vi tính, phần mềm ứng dụng vào giảng dạy, công
tác. Từ những giáo viên mạng lưới này sẽ tự bồi dưỡng cho những giáo viên khác trong
trường về những kiến thức cơ bản của tin học để có khả năng sử dụng tốt máy vi tính trong
công tác “Học thầy không tày học bạn”. Qua kinh nghiệm cho thấy một cách học tập
nhanh nhất của Tin học đó là học tập kinh nghiệm, qua “truyền tay” và chỉ bảo trực tiếp qua
máy tính ngay từ tổ, nhóm chuyên môn.
Bồi dưỡng kiến thức về tin học cho cán bộ lãnh đạo, giáo viên và nhân viên có đủ
trình độ để sử dụng, khai thác tốt các thiết bị CNTT trong quản lý nhà trường. Tin học
hoá trong công tác quản lý nhân sự, sổ điểm, trao đổi thông tin trong trường qua Email,…
Thực hiện việc bồi dưỡng ngắn ngày, trực tiếp cho giáo viên có những kiến thức và kỹ
năng cần thiết để ứng dụng các thiết bị và phần mềm nhằm đổi mới nội dung giảng dạy, đổi
mới phương pháp, đổi mới đánh giá, vận dụng phương tiện CNTT vào tự học, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ.
Nhà trường tổ chức những cuộc phát động phong trào thi đua học tập, bồi dưỡng,
ứng dụng CNTT trong hoạt động của toàn trường đặc biệt trong các kỳ hội giảng, kỷ
niệm ngày 20/11, 8/3, để phát động phong trào sử dụng, ứng dụng, học tập lẫn nhau về
kiến thức CNTT.
Thành lập ban CNTT trong nhà trường do Hiệu trưởng hoặc uỷ quyền cho một
đồng chí Phó hiệu trưởng làm trưởng ban để theo dõi, giúp đỡ các cán bộ, giáo viên, tích
hợp và triển khai các hoạt động về ứng dụng CNTT trong nhà trường, coi tiêu chí ứng

Ba là: Tăng cường khai thác Internet để thu thập, sử dụng các thông tin phục vụ
chuyên môn, nghiệp vụ.
Bốn là: Tăng cường công tác quản lý theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát
triển và hội nhập
Năm là: Học tập kinh nghiệm của các trường đã ứng dụng thành công CNTT trong
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.
4.2. Nội dung- Biện pháp
Nhà trường cần đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong giáo dục theo hướng tin học
hoá quản lý giáo dục và sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc
đổi mới phương pháp quản lý và dạy học như:
Thứ nhất: Triển khai chương trình quản lý nhân sự, hệ thống thông tin quản lý
giáo dục trong nhà trường.
Thứ hai: Tin học hoá công tác quản lý tài chính, ngân sách nhà nước.
Thứ ba: Khai thác tốt các phần mềm quản lý đang thực hiện trong nhà trường theo
sự chỉ đạo của ngành: Phần mềm phổ cập, vermis, Emis…
Thứ tư: Trong dạy và học, chỉ đạo, khuyến khích giáo viên tăng cường khai thác,
sử dụng có hiệu quả các phần mềm như: phần mềm mô tả, mô phỏng, minh hoạ, chứng
minh, vẽ hình học, để đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.
Thứ năm: Sử dụng tốt các phần mềm thiết kế bài dạy như: phần mềm Microsoft
PowerPoint, Microsoft Frontpage, HTML, Violet, Macromedia Flash,
Thứ sáu: Thông báo thông tin điện tử (Website) của Phòng, Sở và địa chỉ Email
chung của nhà trường để CBGV-NV nắm bắt các thông tin, hoạt động của ngành, của nhà
trường nhanh chóng và chính xác. Các kế hoạch năm học, kế hoạch theo học kì, tháng,
tuần của nhà trường, Liên đội và các đoàn thể đều được gửi vào hộp thư điện tử của nhà
trường, tạo được thói quen cho GV cập nhật thông tin qua thư điện tử. Biện pháp này
giúp cho công tác chỉ đạo kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm thời gian, văn phòng phẩm đồng
thời giúp cho GV từng bước nâng cao kĩ năng sử dụng, khai thác qua mạng Internet. GV
nào không cập nhật sẽ không nắm bắt được kế hoạch cho nên đó cũng là điều kiện buộc
người GV phải thay đổi nếp nghĩ, nếp tư duy, từ đó có sự đầu tư mua máy tính, kết nối
mạng tại gia đình để đáp ứng yêu cầu công việc.( Trường hợp gia đình không kết nối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status