Mở đầu
Tiếp xúc văn hoá Đông -Tây là một nội dung quan trọng của lịch
sử/lịch sử văn hoá Việt Nam thời cận đại. Có nghiên cứu vấn đề trên,
chúng ta mới có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về lịch sử Việt Nam trong
giai đoạn bản lề này. Vì vậy đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
quan tâm nghiên cứu về tiếp xúc văn hoá Đông -Tây ở Việt Nam,đặc biệt
trong thời kỳ toàn cầu hoá hiện nay không chỉ có hội nhập về kinh tế mà
còn giao lưu và hội nhập về văn hoá thì vấn đề trên càng mang ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc.
Có thể thấy trong quá trình đụng độ với văn minh phương Tây, diện
mạo văn hoá truyền thống Việt Nam đã thay đổi một cách nhanh chóng,
sâu sắc và toàn diện- điều này trước đó chưa thể có đựơc dù Việt Nam đã
có hàng mấy thế kỷ tiếp xúc với văn minh Trung Hoa và Ân Độ. Vì thế
chúng ta phải có cái nhìn toàn diện, phải tiếp cận theo nhiều hướng khác
nhau và trên các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau . Chuyên đề "Tiếp xúc văn
hoá Đông -Tây ở Việt Nam thời cận đại" của Th.s Trần Viết Nghĩa đã gợi
mở ra cho chúng tôi ý tưởng tìm hiểu về vai trò của Tự Lực văn đoàn
trong quá trình tiếp xóc văn hoá Đông- Tây.
Tìm hiểu về Tự Lực văn đoàn , trước hết chúng ta phải lưu ý "về mặt
phương pháp luận, khi người ta nghiên cứu văn hoá gắn liền với chính trị
thì không thể nào đi đến những kết luận thoả đáng về tiếp xúc văn
hoá"[4;458], vì thế ở đây chúng ta không xét tính chất chính trị của tổ chức
này. Mặt khác, chúng ta phải nhìn nhận Tự Lực văn đoàn một cách toàn
diện - đây không chỉ là một tổ chức văn học, chỉ có vai trò trong văn học
(dù đây là vai trò chủ yếu) mà trên nhiều góc độ nó còn đóng vai trò rất
quan trọng đối với văn hoá và xã hội Việt Nam nói chung.Có thể nói Tự
Lực văn đoàn là một hiện tượng độc đáo của văn học/ văn hóa Việt Nam
trong quá trình tiếp xúc với văn học/văn hoá phương Tây, vì vậy tìm hiểu
1
về vai trò của Tự Lực văn đoàn chúng tôi muốn khai thác sâu những biểu
hiện rõ nhất của quá trình tiếp xúc văn hoá Đông -Tây ở Việt Nam.
Nhìn ở phương diện tính chât giao lưu văn hoá, thì quá trình tiếp xúc
văn hoá Đông - Tây trong suốt thời kỳ cận đại đã diễn ra theo dạng thức
khác nhau, giao lưu một cách cưỡng bức, tiếp nhận một cách tự nguyện,
tiếp xúc trong sự đối đầu giữa các giá trị với nhau Vì vậy trong sự áp chế
dân téc, Việt Nam cũng chịu sự áp chế văn hoá. Để tồn tại, Việt Nam vừa
phải đấu tranh giải phóng dân téc, vừa phải tiến hành duy tân đất nước,
tăng cường khả năng đẩy lùi nguy cơ bị xâm lược về văn hoá"giải quyết
được vấn đề cơ bản với phương Đông suốt từ thế kỷ XVI là thoát khỏi sự
2
trì trệ, khủng hoảng bằng con đường tiếp thu văn minh kỹ thuật phương
Tây"[14;2].Vì vậy ngay từ buổi đầu trực tiếp đụng độ với văn minh phương
Tây, ở cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều và ngày càng nhiều người hiểu được
sức mạnh của văn minh phương Tây, mong muốn tiến hành cải cách đất
nước qua việc tiếp thu văn minh phương Tây. Đó là những gương mặt tiêu
biểu như Nguyễn Lé Trạch, Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ Trong buổi đầu
đụng độ này, bên cạnh việc "thâu hoá"văn minh phương Tây tích cực như
thế hệ Nguyễn Trường Tộ, cũng có không Ýt những người chối bỏ hoàn
toàn, kiên quyết quay lưng lại với văn minh phương Tây(trường hợp như
nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông), song cũng có trường hợp
"chấp nhận vô điều kiện và thực tế thường coi là lai căng, vong bản"[14;22]
(như Tôn Thọ Tường, Trần Bá Léc hay như nhóm Nam Phong sau này).
Song cũng phải thấy rằng, dù có điều kiện trực tiếp tiếp xúc với văn hoá
phương Tây,dung hoà được văn hoá Đông - Tây nhưng cả thế hệ Nguyễn
Lé Trạch, Nguyễn Trường Tộ cũng mới chỉ dừng lại ở việc đề ra các biện
pháp thực hiện, chứ chưa có một hệ tư t ưởng làm bệ đỡ.
Đến đầu thế kỷ XX, văn hoá phương Tây đã thâm nhập sâu rộng vào
Việt Nam. Song trong những năm đầu, con đường thâm nhập đó không
diễn ra một cách trực tiếp mà gián tiếp đến với Việt Nam qua con đường
Trung Quốc, Nhật Bản. Những tân thư, tân báo của Khang Hữu Vi, Lương
Khải Siêu, công cuộc cải cách Minh Trị của Nhật Bản đã ảnh hưởng sâu
thuyết, kịch, thơ mới, điện ảnh Và đặc biệt là sự hình thành của một lối
sống mới với sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức của đời sống nhân dân.
II. vai trò của Tự Lực Văn Đoàn trong quá trình tiếp xúc văn hoá Đông-
Tây
1.Vai trò của Tự Lực văn đoàn trong nền văn xuôi hiện đại Việt
Nam
1.1.Văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá
Không có một quốc gia nào trong quá trình phát triển lại tự khép
mình, từ chối tiếp xúc với nền vắn hoá khác. Sự tiếp xúc này là một nhu
cầu không thể thiều đựơc, nó làm phong phú thêm cho nền văn hoá mỗi
quốc gia đồng thời cũng làm giàu thêm cho nên văn hóa nhân loại. Việc
nghiên cứu văn học Việt Nam trong sự tiếp xúc với văn học Pháp sẽ giúp
chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề này.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong khi tìm hiểu "Bản sắc văn hoá
Việt Nam " đã chỉ ra rằng" đối với văn học Việt Nam ,sù tiếp xúc văn học
Việt - Pháp còn quan trọng hơn tiếp xúc văn học Việt- Hoa, mặc dầu sự
tiếp xúc thứ hai chủ nhất kéo dài hai ngàn năm, trái lại sự tiếp xúc thứ hai
chủ yếu bó hẹp vào một thời gian ngắn ngủi dưới một thế kỷ (1859-1945).
[4;455]. Văn học Việt Nam trong buổi giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, đặc biệt là đầu thế kỷ XX, đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ.
Sự chuyển biến đó diễn ra trong sự chuyển biến chung của văn hoá Việt
Nam , theo các giai đoạn khác nhau, giai đoạn trứơc làm tiền đề cho giai
đoạn sau phát triển.
Nửa cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lựơc Việt Nam
thì vấn đề đặt ra trước hết là sự tồn, vong của nền độc lập dân téc. Vì vậy,
mà người Việt Nam mà đại biểu là các nhà nho chỉ nhìn thấy người Pháp là
đại biểu cho chế độ dã man dùa trên sức mạnh vũ khÝ. Cùng với cuôc đấu
tranh chống Pháp, đặc biệt các nhà nho trong thời kỳ này đã quyết liệt cự
tuyệt, chối bỏ văn hoá Pháp. Song bên cạnh đó, còn có một bộ phận khác
cũng xuất phát từ yêu cầu độc lập dân téc mà đề nghị những canh tân cải
học và văn học Pháp. Mặt khác Pháp cũng cần báo chí để tuyên truyền cho
chính sách văn hoá và văn hoá Pháp. Tiêu biểu nhất trong loại này là tờ
Nam Phong (1917-1934) của Phạm Quỳnh chủ trương hợp tác với Pháp
đồng thời "bảo vệ" văn hoá và văn học Việt Nam . Từ năm 1930, với sự ra
đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam nhất là sau Xô viết- Nghệ Tĩnh, thực dân
Pháp thấy rõ kẻ đối thủ chỉ có thể lật đổ mình là Đảng Cộng Sản. NÕu như
cuộc nổi dậy của Việt Nam Quốc Dân Đảng chỉ mấy ngày là dẹp xong thì
phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh lại ảnh hưởng mạnh mẽ, tuy đã bị đàn áp
và đi vào thoái trào. Trong bối cảnh Êy, thực dân Pháp vừa tiến hành khủng
bố trắng phong trào cách mạng, vừa áp dụng chính sách văn hoá mới- đó là
chấp nhận một mức độ tự do phê phán nhất định. Báo chí có thể phê phán
những hành vi hối lé, tham nhòng, những bất công xã hội nhưng không
được động đến chế độ thuộc địa. Bằng cách Êy sẽ làm giảm dần uy tín của
Đảng và tạo nên một thứ ánh sáng thu hót dần những nhóm chống đối
không cộng sản.Hoạt động của văn học Việt Nam lại nở ré chính trong bối
cảnh Êy, đã phản ánh đầy đủ các xu hướng của văn học Pháp. Bên cạnh sự
5
hiện diện của Thơ Mới còn có sự hiện diện của văn xuôi lãng mạn, văn học
hiện thực phê phán, phê bình văn học, kịch nói, thơ ca yêu nước và cách
mạng Văn học Việt Nam thực sự bước vào một giai đoạn sôi động trên
bước đường hiện đại hoá với nhiều cách tân lớn về thể loại, hình thức và
quan niệm.Với những cách tân này, hàng loạt tác giả, tác phẩm ra đời
chiếm lĩnh những đỉnh cao trong văn học.Thành quả sáng tạo của họ vừa
mang dấu Ên cá nhân sâu sắc vừa mang dấu Ên lịch sử đậm nét. Tự Lực
văn đoàn là một trong những trường hợp tiêu biểu đó, đã đóng góp quan
trọng vào quá trình hiện đại văn xuôi Việt Nam .
1.2.Tù Lực văn đoàn đóng góp cho sự tiến bộ của văn học
Tự Lực văn đoàn -ngay từ cái tên của nó đã gợi rất nhiều ý
nghĩa.Trước hết đó là một tổ chức văn học không chỉ của một nhóm các
nhà văn mà là của một nhóm trí thức nói chung bao gồm cả nhà văn, nhà
cổ động ngừơi khác có tư tưởng bình dân
4-Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, Ýt chữ nho, một lối văn thật có
tính cách An Nam
5-Lóc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6-Ca tụng những nết hay, nết đẹp của nước ta mà có tÝnh cách bình
dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không
có tính cách trưởng giả quý téc
7- Trọng tự do cá nhân
8-Làm cho người ta hiểu rằng đạo Khổng không còn hợp thời nữa
9- Đem những phương pháp khoa học Thái Tây áp dụng vào văn
chương An Nam
10- Theo mét trong chín điều này cũng đựơc miễn là đừng trái với
những điều khác
Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn đã thể hiện hoài bão về văn hoá dân
téc, mong muốn xây dựng một nền văn chương hoàn toàn mang tính chất
dân téc, chống lại mọi yÕu tố ngoại lai trái với tinh thần Êy.
Tuy vậy, Tự Lực văn đoàn không đóng kín mà chủ trương đem
phương pháp khoa học Thái Tây mà chủ yếu là của Pháp áp dụng vào văn
chương.Họ muốn và trên thực tế họ đã thành công trong việc áp dụng kỹ
thuật viết tiểu thuyÕt hiện đại phương Tây vào quá trình sáng tác nhằm đổi
mới nền tiểu thuyết Việt Nam theo hướng hiện đại hóa từ cách kết cấu, xây
dựng nhân vât, miêu tả nội tâm cho đến cách sử dụng ngôn từ "một lối văn
thật có tính cách An Nam'" thực chất là khẳng định giá trị của văn học dân
téc.
Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn đề ra" tôn trọng tự do cá nhân", "làm
cho người ta hiểu rằng đạo Khổng không hợp thời nữa" chính là nhằm
chống lễ giáo phong kiến, đòi tự do yêu đương cho tuổi trẻ, đấu tranh cho
cái tôi cá nhân được khẳng định trong cộng đồng. Đây là một vấn đề thuộc
ý thức hệ. Trong lịch sử phát triển nhân loại, sự xuất hiện chủ nghĩa cá
nhân là một bứơc tiến bô trong quá trình con người giành quyền sống. Tự
bản "Đời Nay"
Ban đầu, Đời nay chỉ xuất bản những sách của Tự Lực văn đoàn sau
đó họ mở rộng ra, xuất bản những sách được giải thưởng của nhóm hoặc
các sách mà họ công nhận giá trị và họ không thấy ngược với tôn chỉ của
mình.
Không những văn chương được chọn lọc cẩn thận mà sách được
trình bày cũng mới hẳn, có mỹ thuật, từ bìa ngoài đến trang trong đều rất
đẹp. Đây là lần đầu tiên nước ta có một nhà xuất bản theo đuổi mục đích
văn học, làm việc dưới một tôn chỉ văn học. Nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng "Đời nay đã mở một kỷ nguyên mới cho cuốn sách trong lịch sử văn
học Việt Nam"[17;25], đồng thời giúp cho Tự Lực văn đoàn truyền bá rộng
rãi những tác phẩm cũng như tư tưởng của mình. Đến năm 1940 tờ Ngày
Nay đóng cửa nhưng nhà xuất bản vẫn tiếp tục công việc phổ biến sách
của họ.
Như vậy, với tôn chỉ, với cơ quan ngôn luận, với nhà xuất bản, Tự
Lực văn đoàn văn đoàn trở thành một tổ chức văn học quan trọng nhất
trong thời kỳ này, và trên thực tế nó đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học
Việt Nam nói chung và văn xuôi Việt Nam nói riêng.
Trước hết là cổ vũ cho phong trào Thơ Mới
Trong những năm 30 của thế kỷ XX, trên diễn đàn văn nghệ đã diễn
ra một cuộc tranh luận gay gắt giữa Thơ Mới và Thơ Cũ. Đương thời ý
nghĩa của cuộc tranh luận này đã được chính những đại diện từ'"Thời Thơ
Mới " đánh giá và nhìn nhận. Đó là một cuộc cách mạng trong thi ca- nói
8
như nhà phê bình Hoài Thanh. Cuộc cách mạng Êy trước hết về mặt tinh
thần, tư tưởng: thời đại của chữ Tôi, của những khát vọng thành thực.
Cùng với một số tờ báo khác như Phụ nữ Tân Văn, Tiểu thuyết thứ
bảy, Hà Nội báo Phong Hoá của Tù Lực văn đoàn đã lên tiếng ủng hộ
nhiệt tình cho Thơ Mới . Theo thống kê chưa đầy đủ của tác giả Nguyễn
Ngọc Thiện về thư mục các bài tham gia " Tranh luận văn nghệ thế kỷ
Hai cuốn tiểu thuyết giải nhất là cuốn " Làm lẽ"của Mạnh Phú Tư và
cuốn "Cái nhà ngạch "của Kim Hà. Hai cuốn còn lại là :"Tan tác" và "Rạng
đông"
Hai giải thơ là:"Nghẹn ngào" của Tế Hanh và "Bức tranh quê" của
Anh Thơ.
9
Qua ba lần phát động sáng tác và tổ chức trao giải chúng ta nhận
thấy số lượng, chất lượng tác phẩm lần sau cao hơn lần trứơc.
Giải thưởng văn chương Tự Lực văn đoàn được người ta ví như "
giải Gon cou rt bên Pháp, vì nó được đợi chờ, theo dõi kết quả của nó là
một biến cố văn chương thời kỳ đó"[11;53]. Nhiều nhà văn của chúng ta đã
được cổ vũ từ các giải thưởng văn chương đó đã phấn đấu không ngừng và
trở thành các nhà văn có tên tuổi sau này như: Nguyên Hồng, Tế Hanh,
Anh Thơ
Những hoạt động trên đây thực sự đã đóng góp có hiệu quả cho sự
phát triển và tiến bộ văn học trên con đường hiện đại hoá. Trao giải thưởng
văn học, xuất bản tác phẩm vừa là một hình thức rất mới trong hoạt động
văn học vừa là một cách để đưa nền "văn học quà tặng" chuyển sang nền
"văn học hàng hoá"như cách gọi của Phan Ngọc.
Trong quá trình hoạt động văn học Tự Lực văn đoàn đã có nhứng
đóng góp đáng kể cho lý luận sáng tác và phê bình văn học, khẳng định
nó như một thể loại tồn tại độc lập
Trong khoảng 10 năm hoạt động, Tự Lực văn đoàn đã góp phần
không nhỏ làm khởi sắc thêm diện mạo văn học Việt Nam, đưa văn học
Việt Nam đi vào con đường hiện đại hóa. Song việc tìm hiểu những đóng
góp của Tự Lực văn đoàn trong văn xuôi hiện đại Việt Nam không thể chỉ
dừng lại việc xem xét các hoạt động chung mà cần phải trực tiếp tìm hiểu
những sáng tác của họ.
1.3.Vài nét đóng góp về nội dung tư tưởng và nghệ thuật của Tự
Lực văn đoàn trong văn xuôi hiện đại.
trắng và để tóc ngôi lệch Tất cả những cách tân đó trong xã hội đã kịp
thời có mặt và nhanh chóng đóng vai trò trung tâm trong văn học. Vì vậy
con người cá nhân xuất hiện trong văn học,khẳng định cái tôi một cách
mạnh mẽ cùng với những quan niệm mới hoàn toàn về con người và xã hội.
Tự Lực văn đoàn chính là đỉnh cao của quá trình khẳng định con người cá
nhân đó.
Nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đều là những
"trí thức Tây học "hoặc những" gái mới".Lộc trong Nửa chõng xuân là
tham tá, Minh trong Gánh hàng hoa là nhà báo, Nam trong Đẹp là họa sĩ,
Trương trong Bướm trắng là sinh viên trường luật Ngay cả các nhân vật
nữ như Loan trong Đoạn tuyệt, Hồng trong Thoát ly, Lan trong Đẹp cũng
đều là học sinh các trường cao đẳng tư thục. Tất cả các nhân vật này đều là
những thanh niên mới lớn được theo học một nên giáo dục Tây Âu từ nhỏ,
được hấp thụ một nên văn hoá mới. Sự hiện diện của họ là để đại diện cho
một tầng líp mới, một xu thế mới của thời đại với những quan niệm mới về
cuộc sống.
Trước hết và chủ yếu là quan niệm về quyền sống của con ngưòi cá
nhân, từ đó đấu tranh để giải phóng cái tôi cá nhân ra khỏi sự ràng buộc
của cái cũ . Cái cũ trong Tự Lực văn đoàn chính là lễ giáo và chế độ đại
gia đình phong kiến
Trong xã hội cũ, cá nhân không có quyền sống riêng, từ trong gia
đình ra ngoài xã hội, nó phải tuân theo những nguyên tắc nghiệt ngã của
chế độ phong kiến. Cuộc đấu tranh đòi giải phóng cá nhân chống lại uy
quyền của lễ giáo phong kiến diễn ra thực sự mạnh mẽ trong xã hội trên
mọi phương diện đời sống xã hội, đặc biệt là ở các thành thị. Văn học và
báo chí đầu thế kỷ XX trở thành diễn đàn sôi động của cuộc đấu tranh đó,
đặc biệt là nơi tranh cãi quyết liệt những vấn đề trong hôn nhân và trong
gia đình giữa tư tưởng mới và cũ, bảo thủ và cấp tiến.
Tự Lực văn đoàn đã đứng hẳn về phía cái mới."Theo mới, như
chúng tôi đã nói là Âu hoá Âu hoá là đem những nguyên tắc của nên văn
quyền như con người của Tự Lực văn đoàn , quyên lùa chọn cho mình một
cách sống, quyền bình đẳng, quyền được hưởng hạnh phóc
Một nét mới nữa trong con người của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn
là sự chú ý miêu tả vẻ đẹp thể chất trong ý thức mới của vẻ đẹp con người
cá nhân. Vẻ đẹp này đánh dấu sự hoàn thiện của cá nhân trong sự hoàn
thiện về mọi mặt.
Trong văn học Việt Nam, trước Tự Lực văn đoàn với truyền thống
của nên văn hóa cổ truyền phương Đông- vẻ đẹp thể chất cũng đã được chú
ý, nhưng đó chỉ là thứ phụ, chỉ có giá trị khi nó gắn với vẻ đẹp tinh thần.
Văn học Tự Lực văn đoàn ra đời trên cơ sở nền văn hoá đô thị kiểu
phương Tây với một quan niệm mới về con người cá nhân. Đó là việc coi
con người có giá trị tự thân, là trung tâm của vũ trụ là thước đo của vạn vật.
Bởi thế lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn
12
đã đề cập đến vẻ đẹp thể chất như một yếu tố để khám phá con người, như
mét tiêu chuẩn để đánh giá con người hoàn chỉnh của xã hội.
Có thể nói lần đầu tiên trong văn học, với tiểu thuyết Tự Lực văn
đoàn , con người đã ý thức công khai rằng sắc đẹp tự thân là một yếu tố của
giá trị cá nhân. Cả một líp người trẻ tuổi của Tự Lực văn đoàn đều coi vẻ
đẹp hình thức là tiền đề của một cuộc sống sung sướng."Trẻ và đẹp không
những đối với phụ nữ là những điều kiện không có không được mà đối với
nam nhi cũng cần thiết cho đời sống sung sướng, hơn nữa cho đời sống vắn
tắt ( Thanh đức); hay " đẹp đó là mục đích của đời nàng. Nàng cho một
thiếu nữ không đẹp thì không thể nào sung sướng được. Thông minh, có
học cũng chỉ làm tôi tớ cho nhan sắc mà thôi. Muốn đắc thắng, muốn có
một tương lai vẻ vang, trước hết phải đẹp"; "sống là cạnh tranh, mà lúc
mình có sắc đẹp bên mình là lúc mình sống nhất, không cạnh tranh sao
được "(Đẹp ). Phải nói rằng đó là những quan niệm rất mới về cái đẹp của
con người. Vẻ đẹp hình thức trở thành một trong những tiêu chí đánh giá,
thậm chí quyết định tới số phận của con người. Quan niệm này chỉ có thể
Như vậy, nội dung tư tưởng xuyên suốt của tiểu thuyết Tự Lực văn
đoàn là tiếng nói đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóng bản ngã, đặc
biệt đấu tranh cho tù do hôn nhân, cho quyền sống của người phụ nữ chống
lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, của đại gia đình phong
kiến. Hình ảnh con người cá nhân được khẳng định với mọi giá trị đầy đủ
nhất của con ngưòi- Đây là vấn đề then chốt, là biểu hiện rõ nhất những đổi
mới trong quan điểm, nhận thức của cả một líp người trong xã hội chủ yếu
là thanh niên trí thức thành thị về con người, về xã hội
Bên cạnh những đóng góp mới mẻ về mặt nội dung tư tưởng, Tự
Lực văn đoàn còn có sự đóng góp quan trọng trong việc cách tân nghệ
thuật văn xuôi Việt Nam hiện đại mà theo các nhà nghiên cứu" đó là một
bước tổng hợp mới giữa ảnh hưởng văn hoá Đông - Tây và truyền thống
văn học dân téc"[11;96]
Ngay từ đầu thế kỷ XX, các nhà văn Việt Nam đã tìm cách thoát
khỏi khuôn khổ chật hẹp, gò bó của văn học truyền thống đồng thời đi tìm
cẩm nang mới mẻ từ văn học Tây Âu nhất là văn học Pháp để khai thông
cho sự trì trệ, bế tắc của văn học. Một số nhà thơ, nhà văn đã đi tiên phong
như Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh nhưng đó chỉ là những
cá nhân đi "thăm dò", tìm kiếm nên những bước đi của họ còn dè dặt,
chậm chạp, chưa dám thực hiện triệt để công cuộc cách tân. Hơn nữa đó
mới chỉ là công việc của một vài cá nhân chưa thành một tổ chức có tuyên
ngôn, có tôn chỉ như Tự Lực văn đoàn , nên có thể xem Tự Lực văn đoàn
là tổ chức văn học đi tiên phong duy nhất trước cách mạng tháng Tám 1945
trong việc cách tân văn học Việt Nam.
Trước hết là về thể loại:rất đa dạng, phong phó. Ngay trong văn xuôi
Tự Lực văn đoàn đã có nhiều thể loại: phóng sự, kịch, tiểu thuyết, trong
tiểu thuyết lại có tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết trinh
thám.Ngoài ra còn có báo chí, thơ Điều này góp phần làm phong phú và
phát triển nhanh hơn các thể loại văn chương ở Việt Nam.
Về kết cấu tác phẩm: Dù ở tiểu thuyết hay truyện ngắn, Tự Lực văn
bướm mơ tiên,Nửa chõng xuân, Đời mưa gió, Con đường sáng, Nắng thu,
Bướm trắng, Đoạn tuyệt với các nhân vật cũng là Dũng, Loan, Hồng,
Ngọc - đó là thứ ngôn ngữ của tầng líp tiểu tư sản thành thị đặc biệt là trí
thức Tây học
Đó là một thứ ngôn ngữ trong sáng với rất nhiều điềp âm, điệp từ,
nhiều từ thuần Việt,giàu tính biểu cảm miêu tả được những trạng thái
phong phó, tinh tế nhất của đời sống tâm hồn con người.
Tự Lực văn đoàn có thể không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm
quan trọng nhất đưa văn học Việt Nam tiến trên con đường hiện đại hoá
với những đóng góp rất mới mẻ trên. Tuy nhiên những đóng góp đó không
phải là những sáng tạo độc lập của các nhà văn trong Tự Lực văn đoàn mà
là sự vận dụng kinh nghiệm của văn học phương Tây vào quá trình sáng
tao. Văn học Tự Lực văn đoàn đã ảnh hưởng rất sâu sắc văn học lãng mạn
Pháp với những tên tuổi như Hugo, Lamartine, Vigny, Andre Gide (đây là
một vấn đề cần nghiên cứu cụ thể đối với từng trường hợp của Tự Lực văn
đoàn ). Mặt khác có đựơc những thành tựu đó, các nhà văn trong Tự Lực
văn đoàn còn biết tiến một bứơc tổng hợp giữa ảnh hưởng văn học Đông-
Tây với truyền thống văn học dân téc tạo nên sự khởi sắc cho nền văn học
mới ở Việt Nam
2.Vai trò của Tự Lực văn đoàn trong cuộc vận động lối sống mới
15
Đây là một lĩnh vực quan trọng và hết sức nhạy cảm trong sinh hoạt
văn hoá
Ngay từ đầu thế kỷ XX với phong trào Duy tân ở Bắc và Trung kỳ
(1906-1908), một cuộc vận động lối sống mới đã thực sự diễn ra. Các nhà
nho tư sản hóa tiến bộ nước ta khi đó hiểu rằng, bên cạnhviệc mở trường
học(Đông Kinh Nghĩa Thục) lập hội buôn, chấn dân khí, thì việc cải cách
phong hoá cũng rât quan trọng
Cóp hè, cúp hè
Thẳng thẳng cho khéo
nước đọng" vạch trần những thối nát của phong kiến, thực dân đã đẩy
người nông dân vào cuộc sống u tối, cơ cực. Ông đưa ra những quan niệm
của mình về một cuộc cải cách hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá giáo
16
dục. Thứ nhất phải phân chia quan quyền, phổ biến pháp luật, tăng cường
an ninh thôn quê, phế bỏ tục xôi thịt đình đám. Thứ hai phải bãi bỏ thuế
thân, phát triển công nghệ, bỏ độc quyền nấu rượu của nhà nước, quân cấp
công điền.Thứ ba là phải ban hành giáo dục phổ thông, lập học đoàn,
truyền bá rộng rãi những kiến thức về pháp luật và khoa học
Bên cạnh đó họ còn ra sức tuyên truyền cho Hội Anh Sáng- đây là
một tổ chức từ thiện có tính chât cải lương tư sản được thành lập năm1937
do Nguyễn Tường Tam làm chủ tịch. Hội này có ý định thay dần những
căn nhà ổ chuột, tối tăm thiếu vệ sinh của nhân dân lao động thành những
ngôi nhà cao ráo.
Như vậy, Tự Lực văn đoàn đã chủ trương và cố gắng thay đổi cuộc
sống trên mọi lĩnh vực, mong muốn cải cách xã hội.Nhưng rõ ràng những
cải cách của họ chỉ là ảo tưởng- nó bộc lé rất rõ sự non yếu của tầng líp tiểu
tư sản "chỉ dám lấy văn học làm mặt trận để chông phong kiến thực dân".
Dù vậy, chúng ta cũng không thể phủ nhận được vai trò của Tự Lực văn
đoàn trong cuộc vận động một lối sống mới. Những tác phẩm, những bài
báơ của họ đã có hiệu quả lớn trong việc thay đổi cách ăn mặc, ứng xử,
giao tiếp .Nếu như trong văn học các tác giả chú ý đến vẻ đẹp hình thức của
các nhân vật- đặc biệt là phụ nữ, thì bổ sung cho điều này, Tự Lực văn
đoàn đã ra sức cổ vũ cho cách sống đô thị. Trên các mặt báo, bên cạnh các
bài xã luận đậm màu sắc chính trị, xã hội còn có nhiều mục dạy người ta
làm đẹp, biết cách ăn mặc, trang điểm, cách luyện tập giữ gìn thân thể cho
duyên dáng, khẻo mạnh. Trên Phong Hoá đã có hẳn một mục "vẻ đẹp riêng
tặng các bà các cô"chuyên viết về cải cách y phục mốt cho phụ nữ, do họa
sĩ Lemur (Cát Tường) phụ trách.
Như vậy cùng với hàng loạt các báo chí như Phụ nữ tân văn, Nữ giới
học Việt Nam cũng trải qua nhiều chặng đường để từng bước đổi mới,
ngày càng hoàn thiện mình. Có thể coi giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn
phản ánh đầy đủ nhất xu thế phát triển của văn học trong mối giao lưu với
văn học phương Tây
3. Đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận văn hoá phương Tây
nói chung và văn học Pháp nói riêng là tầng líp trí thức Tây học-họ đã
từng bước tiếp thu những tinh hoa của văn hoá phương Tây, nhào nặn với
giá trị truyền thống tạo nên nền văn hoá mới thông qua nhiều con đường,
nhiều cách khác nhau như hoạt động báo chí, văn nghệ Tự Lực văn đoàn
ra đời là một tổ chức văn học nhưng trước hết nó là một hình thức để thâu
nhận văn hóa phương Tây/văn học Pháp. Vì vậy trong quá trình tiếp xúc
văn hoá Đông -Tây những năm 20,30 của thế kỷ XX ở Việt Nam , Tự Lực
văn đoàn đã đóng vai trò rất quan trọng
Dù đã chỉ ra những hạn chế của Tự Lực văn đoàn (về mặt chính
trị)nhưng trên con đường văn học, Trường Chinh cũng khẳng định
những đóng góp của Tự Lực văn đoàn "đã đẩy mạnh phong trào văn
nghệ nước ta tiến tới"[9;51]
Trước hết ở ngay địa hạt báo chí, họ đã làm cho tờ báo nước nhà tiến
bộ nhiều từ bài vở đến kỹ thuật. Đồng thời đưa người làm báo "từ cảnh lẻ
loi của mấy ông đồ ngồi yên cao giọng dạy đời đến con đường đi vào quần
chúng, săn sóc dư luận, đặt và giải quyết những vấn đề liên quan đến số
đông"[17;28]
18
Nhất là ở địa hạt sáng tác, sù đóng góp của Tự Lực văn đoàn để làm
tiến bộ văn nghệ mới lại càng quan trọng. Họ đã lãnh đạo và đưa đến toàn
thắng của phong trào Thơ Mới. Thế Lữ dẫn đầu trong làng Thơ Mới đã
xuất phát từ Tự Lực văn đoàn . Về sau chính trên Phong Hoá, Ngày Nay
mà ta thấy xuất hiện nhiều nhà thơ mới có giá trị như Xuân Diệu, Huy Cận,
Thanh Tịnh
Song quan trọng nhất là ở tiểu thuyết, Tù Lực văn đoàn đã có nhiều
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb VHTT, H, 2001
2 Trần Quốc Vượng(cb),Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb GD,H, 2003
3 Trần Quốc Vượng, Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb
4 Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb VH, H, 2001
5 Trần Văn Giàu, Sự phát triển
6 Nguyễn Ngọc Thiện(bs),Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. Tập I,
Nxb LĐ, H, 2002
7 Nguyễn Ngọc Thiện(bs),Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX. Tập Ii,
Nxb LĐ, H, 2002
8 Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb VHTT, H, 2002
9 Trường Chinh, Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam, Hội
văn nghệ Việt Nam, H, 1949
1
0
Phan Cự Đệ, Tự Lực văn đoàn con người và văn chương, Nxb VH,
H, 1990
11 Trịnh Hồ Khoa, Những đóng góp của Tự Lực văn đoàn cho văn
xuôi hiện đại Việt Nam, Nxb VH, H, 1997
12 Mai Quốc Liên, Nguyễn Văn Lưu, Văn học Việt Nam đầu thế kỷ
XX,Quyển một- Tập I, Nxb VH, H, 2001
13 Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Văn chương Tự Lực văn đoàn (4
tập ),Nxb GD, H, 2002
14 Đỗ Quang Hưng, Tiếp xúc văn hóa Đông-Tây ở Việt Nam thời cận
đại (Tập chuyên đề bài giảng- Lưu hành nội bộ) H, 1997
15 Trần Viết Nghĩa, Văn hoá phương Tây với phụ nữ thành thịViệt
Nam đầu thế kỷ XX, Nghiên cứu Châu Âu, số 4(58) 2004
16 Nguyễn Văn Ký, Từ áo dài truyền thống đến Âu phục, Tạp chí Xưa
-Nay, số Xuân 2004