luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu xác định dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong dược liệu và sản phẩm từ dược liệu bằng sắc ký khối phổ (tóm tắt ) - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Trần Cao Sơn

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DƯ LƯỢNG HOÁ CHẤT
BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG DƯỢC LIỆU VÀ SẢN
PHẨM TỪ DƯỢC LIỆU BẰNG SẮC KÝ KHỐI PHỔ

CHUYÊN NGÀNH: KIỂM NGHIỆM THUỐC VÀ ĐỘC CHẤT
MÃ SỐ: 62 72 04 10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC HÀ NỘI, NĂM 2015

Công trình được hoàn thành tại :
Trường Đại học Dược Hà Nội
Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia

Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Thái nguyễn Hùng Thu
TS. Lê Thị Hồng Hảo

Phản biện 1 : ………………………………… …

phối hợp với kỹ thuật sắc ký khí và sắc ký lỏng khối phổ là một phương pháp đa dư lượng đã
được nhiều nước chấp nhận làm phương pháp chuẩn để áp dụng phân tích HCBVTV trong
rau quả. Nhằm nghiên cứu xác định dư lượng HCBVTV trên dược liệu và các sản phẩm dược
liệu ở Việt Nam, luận án “Nghiên cứu xác định dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong một
số dược liệu và sản phẩm từ dược liệu bằng sắc ký khối phổ” đã được thực hiện.
2. Mục tiêu của luận án
1. Xác định các HCBVTV thường được dùng tại một số vùng trồng dược liệu ở phía Bắc;
2. Xây dựng và thẩm định một phương pháp phân tích đa dư lượng HCBVTV trong dược
liệu và một số sản phẩm từ dược liệu;
3. Sơ bộ đánh giá dư lượng HCBVTV trong một số dược liệu và sản phẩm từ dược liệu.
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận án được tiến hành với các nội dung sau:

Về khảo sát tình hình sử dụng HCBVTV
Khảo sát thông qua phiếu hỏi, thực hiện tại một số địa phương có vùng trồng dược liệu ở
miền Bắc:
- Loại HCBVTV được kinh doanh phổ biến
- Loại HCBVTV được sử dụng phổ biến trong trồng dược liệu

Về xây dựng và thẩm định phương pháp
- Khảo sát các điều kiện xử lý mẫu dược liệu và sản phẩm từ dược liệu bằng phương pháp
QuEChERS
- Khảo sát các điều kiện phân tích HCBVTV bằng LC-MS/MS
- Khảo sát các điều kiện phân tích HCBVTV bằng GC-MS/MS
- Thẩm định phương pháp về tính chọn lọc, giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng, độ lặp
lại, độ thu hồi

Về xác định dư lượng HCBVTV trong một số loại dược liệu và sản phẩm
-2-

Ứng dụng phương pháp để xác định HCBVTV trong các loại dược liệu tươi, dược liệu khô,

ảnh hưởng của các nền mẫu dưới 20%.
Điều kiện phân tích:
- Đã xác định được các điều kiện để phân tích đồng thời 25 HCBVTV bằng LC-MS/MS.
Tổng thời gian phân tích trên thiết bị là 15 phút. Mỗi HCBVTV đã xác định được 1 ion phân
tử và 2 ion sản phẩm đặc trưng nên phương pháp có tính đặc hiệu cao đối với mỗi HCBVTV.
Trong số 25 HCBVTV phân tích bằng LC-MS/MS, có nhiều HCBVTV chưa từng được báo
cáo trước đây tại Việt Nam.
- Đã xác định được các điều kiện để phân tích đồng thời 7 HCBVTV bằng GC-MS/MS.
Phương pháp sử dụng chế độ MS/MS nên rất đặc hiệu đối với các HCBVTV nghiên cứu.
Về kết quả thẩm định phương pháp:
-3-

- Phương pháp đã được thẩm định trên các nền mẫu dược liệu tươi, dược liệu khô, TPCN
có thành phần thảo dược và chè về các tiêu chí độ đặc hiệu, giới hạn phát hiện, giới hạn định
lượng, độ lặp lại và độ thu hồi. Phương pháp có độ nhạy tốt với giới hạn định lượng của tất cả
các HCBVTV nghiên cứu trên các nền mẫu nghiên cứu đều thấp hơn mức tồn dư tối đa
(MRL=0,01 mg/kg).
3.3. Về dư lượng HCBVTV trong dược liệu và sản phẩm dược liệu
- Đã xác định dư lượng của 32 HCBVTV trên nhiều loại dược liệu và sản phẩm từ dược
liệu khác nhau. Trong đó, đây là lần đầu tiên dư lượng các nhóm HCBVTV neonicotinoid và
macrocyclic lacton được triển khai xác định ở Việt Nam.
- Các nền mẫu chè xanh (khô) và chè túi lọc (thảo dược) có tỷ lệ nhiễm HCBVTV rất cao;
lần lượt chiếm 50% và 40% số lượng mẫu phân tích.
4. Ý nghĩa của luận án
- Phương pháp xác định đa dư lượng HCBVTV trong dược liệu và sản phẩm dược liệu
được áp dụng nhằm góp phần giám sát, kiểm tra mức độ tồn dư các HCBVTV trong các sản
phẩm này. Các kết quả kiểm nghiệm này sẽ góp phần quan trọng để loại bỏ những sản phẩm
không đảm bảo an toàn cho sức khỏe người sử dụng.
- Phương pháp đã được xây dựng và thẩm định chặt chẽ trong điều kiện trang thiết bị Việt
Nam có thể sử dụng là tài liệu tham khảo quan trọng của các PTN trong nước và quốc tế.

Đối tượng phân tích là các dược liệu và sản phẩm dược liệu sau:
- Dược liệu tươi: mã đề (Plantago major) và bồ công anh Việt Nam (Pterocypsela indica)
được sử dụng để xây dựng và thẩm định phương pháp. Ứng dụng phương pháp để phân
tích HCBTVTV trên 22 dược liệu tươi.
- Dược liệu khô: dây thìa canh (Gymnema sylvestre) và lá giang (Aganonerion
polymorphum) được sử dụng để xây dựng và thẩm định phương pháp. Ứng dụng
phương pháp để phân tích HCBVTV trên 30 dược liệu khô.
- TPCN có thành phần thảo dược: Mẫu trà túi lọc (trà mướp đắng) được sử dụng để khảo
sát và xây dựng phương pháp. Áp dụng phương pháp trên 140 mẫu bao gồm 3 nhóm
mẫu: dạng viên, dạng trà và dạng nước ép.
- Chè xanh (khô): Mẫu chè xanh khô (Camellia sinensis) được sử dụng để khảo sát và
xây dựng phương pháp. Áp dụng để phân tích trên 20 mẫu chè.
2.2. Phương tiện nghiên cứu
2.2.1. Hóa chất, thuốc thử, chất chuẩn
- Hóa chất thuốc thử: Các hoá chất sử dụng trong nghiên cứu thuộc loại tinh khiết phân
tích, bao gồm methanol, acetonitril, acid acetic, magnesi sulfat, natri acetat, PSA, GCB.
- Chất chuẩn 32 HCBVTV của Sigma-aldrich hoặc của Dr. Erhenstorsfer có độ tinh khiết
trên 95%.
- Chất chuẩn nội TPP (triphenyl phosphat).
2.2.2. Thiết bị, dụng cụ
Các thiết bị, máy phân tích tại Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia
được hiệu chuẩn theo qui định của ISO/IEC 17025 gồm: Hệ thống sắc ký lỏng khối phổ hai
lần (LC-MS/MS) của ABSciex, hệ thống sắc ký khí khối phổ hai lần (GC-MS/MS) của
Agilent, cân phân tích XT22A (độ chính xác 0,1 mg) của Precisa, máy ly tâm Z383K của
Hermle và các trang thiết bị, dụng cụ khác của phòng thí nghiệm.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp khảo sát thực địa và lấy mẫu
Thực hiện khảo sát các HCBVTV đang được sử dụng phổ biến, nhằm xác định đối tượng
nghiên cứu chứa nhiều nguy cơ nhiễm HCBVTV nhất.
-5-

250
o
C, chế độ tiêm mẫu không chia dòng. Khí mang heli, tốc độ dòng 0,8 mL/phút. Chương
trình nhiệt độ: 60
o
C (giữ trong 2 phút), tăng 20
o
C /phút lên 180
o
C (0 phút), sau đó tăng 4
o
C
/phút lên 260
o
C (giữ trong 2 phút). Nhiệt độ bộ phận kết nối sắc ký khí và khối phổ: 280
o
C
- Bộ tiêm mẫu tự động CTC-Pal với thể tích tiêm mẫu 1 µL
- Khối phổ ba tứ cực với nguồn ion hoá: EI 70 eV, nhiệt độ nguồn Ion: 230
o
C, cắt dung
môi 5 phút. Phân tích ở chế độ MRM với 1 ion phân tử và 2 ion sản phẩm cho mỗi HCBVTV.
2.3.4. Phương pháp thẩm định
Thẩm định các thông số cơ bản của phương pháp bao gồm
2.3.4.1. Độ chọn lọc
Đánh giá tính chọn lọc theo hai phương pháp:
- Phân tích mẫu trắng, mẫu chuẩn và mẫu thêm chuẩn. Mẫu trắng không được cho tín hiệu,
trong khi mẫu thêm chuẩn phải có tín hiệu tương đồng với mẫu chuẩn.
- Đánh giá điểm xác nhận và tỷ lệ ion theo tiêu chuẩn châu Âu EC 657/2002.
2.3.4.2. Giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ)

Trong số 19 cơ sở, có 15 cơ sở có giấy đăng ký buôn bán thuốc bảo vệ thực vật. 4 cơ sở
không có giấy phép kinh doanh. 63% số nhân viên kinh doanh của cơ sở buôn bán HCBVTV
đều không được đào tạo chuyên ngành về HCBVTV hay có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn về
HCBVTV. Có khoảng 50% các cơ sở và nhân viên kinh doanh chưa tiếp cận các danh mục
HCBVTV được phép sử dụng, cấm sử dụng và hạn chế sử dụng do các danh mục này không
sẵn có tại nơi bán.
3.1.1.2. Các HCBVTV được buôn bán phổ biến
Hầu hết các HCBVTV được bán tại các cơ sở đều nằm trong danh mục cho phép sử dụng ở
Việt Nam, chỉ có 2 HCBVTV nằm trong danh mục HCBVTV hạn chế sử dụng ở Việt Nam
(hoạt chất là carbofuran và kẽm phosphid). Trong số 75 HCBVTV được kinh doanh, có 9
HCBVTV gồm hai thành phần và 2 HCBVTV gồm 3 thành phần. Đa số các HCBVTV được
sử dụng để trừ sâu hại, các HCBVTV khác được sử dụng để trừ cỏ và trừ nấm. Ngoài ra, có
một số HCBVTV không rõ nguồn gốc vẫn được người dẫn sử dụng.
Tổng số hoạt chất là 39 hoạt chất trong đó nhóm phosphor hữu cơ là nhóm HCBVTV có
nhiều hoạt chất và tên thương mại được sử dụng nhất (9 hoạt chất chiếm 23% và 20 tên
thương mại chiếm 51%). Nhóm pyrethroid tuy chỉ có 3 hoạt chất được sử dụng nhưng có
thành phần cypermethrin được sử dụng rất phổ biến (9 tên thương mại). Bên cạnh đó, nhóm
-7-

neonicotinoid cũng là nhóm HCBVTV được kinh doanh rất phổ biến với 2 hoạt chất chính là
imidacloprid và acetamiprid.
3.1.2. Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong trồng cây thuốc tại Hà Nội và một số vùng
lân cận
Tại thời điểm khảo sát, tại xã Tân Quang (Văn Lâm, Hưng Yên) có 17 loại cây thuốc; trong
khi tại xã Bình Minh (Khoái Châu, Hưng Yên) có 15 loại cây thuốc được trồng. Trong khi đó,
tại các cơ sở bán buôn bán lẻ dược liệu ở Ninh Hiệp và Lãn Ông (Hà Nội), hầu như có thể
mua được các loại dược liệu khác nhau. Ở Hải Hậu (Nam Định) một số địa phương áp dụng
mô hình GACP theo hợp tác với các công ty Dược để trồng cây thuốc như dây thìa canh, đinh
lăng. Ngoài ra, vùng trồng chè xanh ở Tân Cương (Thái Nguyên) cũng đã được khảo sát. Qua
khảo sát ở các địa phương nói trên, đa số các loại cây thuốc được trồng thuộc loại thân thảo

-8-

gian lưu của các HCBVTV được khóa theo chương trình phụ thuộc áp suất. Mỗi HCBVTV
được lựa chọn ít nhất 1 ion phân tử và 2 ion sản phẩm để định lượng và xác nhận. Các
HCBVTV được phân tích bằng GC-MS/MS bao gồm Acephat, aldrin, chlorothalonil,
chlorpyrifos, cypermethrin, endosulfan sulfat và permethrin.
Qua đánh giá độ lặp lại của thiết bị cho thấy hệ số biến thiên của diện tích píc dao động từ
1,6 đến 4,5% đáp ứng yêu cầu để ứng dụng phương pháp khối phổ (≤ 5%), trong khi hệ số
biến thiên của thời gian lưu rất thấp (< 1%) cho thấy thiết bị có độ ổn định đáp ứng yêu cầu.
3.2.2. Xây dựng quy trình chiết hóa chất bảo vệ thực vật từ một số dược liệu và sản phẩm
dược liệu
3.2.2.1. Nền mẫu dược liệu tươi
- Lựa chọn dung môi chiết: So sánh 3 quy trình phân tích sử dụng các dung môi acetonitril
(quy trình 1), acetonitril với đệm citrat (quy trình 2) và acetonitril với đệm citrat (quy trình 3).
Các kết quả cho thấy hầu hết các HCBVTV cho hiệu suất cao hơn khi xử lý bằng quy trình 2,
chỉ có azoxystrobin và edifenphos cho hiệu suất cao với quy trình 1 và có 3 chất cho hiệu suất
cao với quy trình 3 (imidachloprid, aldicarb, abamectin). Đa số các chất cho hiệu suất cao trên
60% khi phân tích bằng quy trình 2. Do đó, quy trình 2 đã được lựa chọn để thực hiện các
khảo sát tiếp theo.
- Ảnh hưởng của GCB: GCB được thêm vào d-SPE để tăng khả năng loại tạp do GCB có
khả năng hấp phụ các hợp chất hữu cơ có cấu trúc phẳng, các chất diệp lục. Mẫu mã đề và bồ
công anh được cho thêm chuẩn ở nồng độ 0,1 mg/kg (n = 2) và phân tích bằng hai quy trình.
Một quy trình không sử dụng GCB và một quy trình có thêm 7,5 mg GCB trong d-SPE. Kết
quả cho thấy khi sử dụng GCB dịch chiết đã được loại các chất diệp lục, trong khi độ thu hồi
của các chất tương đương với khi không sử dụng GCB, một số chất có độ thu hồi cao hơn hẳn
như imidachloprid, aldicarb, carboxin Do đó, việc sử dụng GCB trong bước chiết d-SPE với
lượng 7,5 mg là cần thiết và phù hợp.
3.2.2.2. Nền mẫu dược liệu khô
- Độ ẩm của mẫu khoảng 80% có thể cho hiệu suất chiết cao nhất khi xử lý bằng phương
pháp QuEChERS. Do đó, mẫu khô được bổ sung thêm nước với tỷ lệ mẫu:nước (1:5) và khảo

lượt là 40 mg và 7,5 mg.
3.2.2.4. Nền mẫu chè
Nền mẫu chè có sự khác biệt so với các loại dược liệu khác do thành phần chè có nhiều hợp
chất như cafein, polyphenol và đặc biệt là tannin có thể gây ảnh hưởng lớn đến hiệu suất
chiết. Để loại các tạp chất, muối chì acetat ((CH
3
COO)
2
Pb) được thêm vào hỗn hợp muối
chiết để kết tủa tannin, cafein. Khảo sát các lượng muối chì acetat từ 0 đến 2,0 g. Khi sử dụng
chì acetat, hiệu suất chiết các HCBVTV đều tăng rõ rệt. Càng tăng lượng muối sử dụng, hiệu
suất chiết càng tăng. Tuy nhiên, nếu lượng muối tăng quá 1,5 g cho thấy hiệu suất chiết giảm
với đa số các HCBVTV nghiên cứu. Do đó, lượng muối chì acetat được sử dụng trong quy
trình xử lý mẫu này là 1,5 g.
3.2.2.5. Đánh giá ảnh hưởng nền và vai trò của nội chuẩn
Để đánh giá ảnh hưởng nền, thực hiện so sánh hệ số góc của hai đường chuẩn xây dựng
trên nền dung môi và trên nền mẫu trắng (mẫu trắng được chiết theo quy trình để thu lấy dịch
chiết, sau đo pha chuẩn trên dịch chiết thu được). Đường chuẩn sử dụng gồm 5 điểm chuẩn có
nồng độ là 5, 10, 50, 100 và 200 µg/mL. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của nền mẫu khá khác
nhau tuỳ từng HCBVTV thực vật và tuỳ thuộc vào nền mẫu. Do đó, đối với phương pháp
phân tích đa dư lượng áp dụng trên nhiều đối tượng khác nhau thì cần phải có biện pháp để
loại bỏ các ảnh hưởng nền này.
Các kết quả cho thấy, nếu không sử dụng nội chuẩn ảnh hưởng nền khá lớn, có đến 14/25
hợp chất có ảnh hưởng nền lớn hơn ±20%. Khi định lượng theo nội chuẩn ảnh hưởng nền
giảm rõ rệt, 23/25 hợp chất có ảnh hưởng nền nằm trong khoảng 20%, trong đó có khoảng
50% số chất có ảnh hưởng nền thấp dưới 5%. Trên nền mẫu chè, ảnh hưởng nền cũng thấp khi
sử dụng nội chuẩn. Do đó, việc sử dụng nội chuẩn rất cần thiết nhằm loại trừ các sai số do nền
mẫu.
-10-


MS/MS.
3.2.3.4. Độ lặp lại và độ thu hồi
Độ lặp lại và độ thu hồi của phương pháp được đánh giá bằng cách phân tích các mẫu trắng
thêm chuẩn ở ba mức nồng độ 2; 20 và 200 ng/mL đại diện cho ddierm đầu, giữa và cuối
khoảng tuyến tính, phân tích lặp lại 6 lần cho mỗi nồng độ (n = 6). Nồng độ tính tương đương
trên mẫu cụ thể như sau:
- Đối với mẫu dược liệu tươi: 0,002; 0,02 và 0,2 mg/kg
- Đối với mẫu dược liệu và sản phẩm dược liệu khô: 0,01; 0,1 và 1 mg/kg.
Các kết quả cho thấy CV% và R% dao động tuỳ từng HCBVTV và tùy từng loại nền mẫu;
đa số các trường hợp đều có CV% dưới 15% và R% trong khoảng 80-110%. Điều này khẳng
định phương pháp có độ lặp lại và độ thu hồi tốt, đáp ứng yêu cầu hiện nay của AOAC.
-11-

Ngoài ra, để đánh giá độ thu hồi, thực hiện thêm chuẩn trên nền mẫu thực (mẫu đã phát
hiện có HCBVTV) gồm trinh nữ hoàng cung, cỏ ngọt, mã đề. Thêm các chuẩn của các
HCBVTV đã được phát hiện vào mẫu, phân tích lặp lại 3 lần đối với cả mẫu trắng và mẫu
thêm. Độ thu hồi đạt được trên nền mẫu thực khá tốt, tất cả các kết quả đều trên 70% với các
khoảng nồng độ thêm chuẩn khác nhau từ 0,05 đến 0,5 mg/kg.
3.3. Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên một số dược liệu và sản phẩm từ dược liệu
3.3.1. Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong dược liệu tươi
Dược liệu tươi được lấy tại vườn của một số vùng trồng dược liệu ở Hà Nội và Hưng Yên.
Thời điểm lấy mẫu là ngay giai đoạn thu hoạch hoặc sau khi vừa thu hoạch xong. Số lượng
mẫu đã lấy gồm 22 loại dược liệu, trong đó chủ yếu là các loại dược liệu lấy lá. Các kết quả
cho thấy có 8/22 mẫu (khoảng 36%) đã được phát hiện có HCBVTV vượt MRL (0,01 mg/kg).
Carbendazim và azoxystrobin là các HCBVTV được phát hiện nhiều nhất trong 3 mẫu và
carbendazim cũng là hợp chất có hàm lượng cao nhất (0,39 mg/kg).
3.3.2. Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong dược liệu khô
Các mẫu được liệu khô được lấy tại 3 địa điểm, với tổng số mẫu là 30 mẫu. Đa số các mẫu
dược liệu đều không có nguồn gốc, được bày bán tại chợ thuốc Ninh Hiệp (Hà Nội) và các
quầy thuốc đông y tại Lãn Ông (Hà Nội). Một số mẫu được lấy ở Hải Hậu (Nam Định) trong

nhiều loại TPCN được chế biến từ dược liệu nhập khẩu, đa số là từ Trung Quốc.
3.3.4. Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong trà xanh
Các mẫu trà xanh được lấy tại các cửa hàng ở Hà Nội, tổng số mẫu là 20 mẫu. Có 10/20
mẫu có phát hiện HCBVTV, tuy nhiên hàm lượng khá thấp, dao động từ 0,004-0,15 mg/kg.
Các HCBVTV nhóm neonicotinoid được phát hiện nhiều nhất bao gồm cả imidacloprid,
acetamiprid và thiamethoxam.

Chương 4. BÀN LUẬN
4.1. Về việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong trồng cây thuốc và chế biến dược
liệu
Qua nghiên cứu ở một số vùng dược liệu ở phía Bắc cho thấy đã có sự thay đổi về loại
HCBVTV thường được sử dụng so với các nghiên cứu trước đây. Các HCBVTV nhóm
neonicotinoid, macrocyclic lacton được sử dụng bên cạnh các HCBVTV nhóm lân hữu cơ,
pyrethroid và carbamat.
4.1.1. Về loại hoá chất bảo vệ thực vật được kinh doanh
4.1.1.1. Địa điểm khảo sát
Địa điểm được lựa chọn để khảo sát là các địa phương có vùng trồng cây thuốc và kinh
doanh dược liệu phổ biến ở phía Bắc. Một số địa phương có vùng trồng dược liệu lớn như ở
Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định. Một số địa phương có vùng trồng chè xanh lớn gồm Phú
Thọ, Thái Nguyên. Ngoài ra, một số cửa hàng ở Hà Giang được khảo sát thêm với mục đích
tìm hiểu các HCBVTV được nhập khẩu theo con đường tiểu ngạch từ Trung Quốc. Hà Nội
cũng là địa điểm được lựa chọn vì có nhiều địa điểm trồng cây thuốc và kinh doanh dược liệu
tươi và khô.
4.1.1.2. Hoá chất bảo vệ thực vật được kinh doanh
- Có 75 loại HCBVTV được kinh doanh tại các địa chỉ đã khảo sát, trong đó có 9 loại có
thành phần gồm 2 hoạt chất, và 2 loại có thành phần gồm 3 hoạt chất. Các loại HCBVTV
được nhiều cửa hàng kinh doanh có thành phần chủ yếu thuộc nhóm neonicotinoid
(imidacloprid, acetamiprid), nhóm macrocyclic lacton (abamectin, emamectin), nhóm
phosphor hữu cơ (chlorpyrifos) và nhóm pyrethroid (cypermethrin). Kết quả này cho thấy xu
hướng sử dụng HCBVTV hiện nay, đó là sử dụng các HCBVTV ít độc hơn và phối hợp nhiều

Những hoạt chất này (trừ acid giberellic là chất tăng trưởng) được ưu tiên lựa chọn để đưa vào
nghiên cứu phân tích.
- Trong số các HCBVTV được sử dụng, nhóm phosphor hữu cơ được dùng nhiều nhất
(25% số thuốc và 18% số hoạt chất). Kết quả này phù hợp với kết quả khảo sát tại các cửa
hàng kinh doanh HCBVTV nhưng thấp hơn so với nghiên cứu trước đây của Trần Việt Hùng
(36% số thuốc và 37% số hoạt chất). Sự khác biệt là do xu hướng sử dụng các HCBVTV mới
thuộc các nhóm neonicotinoid (14% số thuốc và 13% số hoạt chất) và macrocyclic lacton
(18% số thuốc và 9% số hoạt chất). Các nhóm khác bao gồm nhóm pyrethroid, nhóm
carbamat, nhóm strobin…
- Trong số các hoạt chất được sử dụng, không có hoạt chất nằm trong danh mục cấm sử
dụng hay danh mục hạn chế sử dụng ở Việt Nam. So với kết quả phân tích HCBVTV, có 2
mẫu phát hiện HCBVTV trong danh mục cấm sử dụng (endosulfan sulfat) và 5 mẫu phát hiện
HCBVTV trong danh mục hạn chế sử dụng (carbofuran). Có thể thấy rằng, bên cạnh việc sử
dụng các HCBVTV có nguồn gốc rõ ràng, còn tồn tại những loại HCBVTV được truyền tay
và chưa được kiểm soát.
- Các HCBVTV đã được sử dụng cho 24 loại dược liệu khác nhau, đa số đều là thân thảo
với các bộ phận dùng chính là lá và hoa. Có 21/28 loại HCBVTV được sử dụng để trừ sâu hại.
Điều này phù hợp với nguy cơ bị sâu hại của các bộ phận dùng nói trên.
-14-

4.2. Về phương pháp phân tích dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong dược liệu và sản
phẩm dược liệu
Luận án đã đóng góp một phương pháp phân tích mới áp dụng để phân tích HCBVTV
trong dược liệu và sản phẩm từ dược liệu. Phương pháp dựa trên kỹ thuật chiết QuEChERS và
phân tích bằng sắc ký lỏng và sắc ký khí khối phổ hai lần có thể áp dụng để phân tích đồng
thời nhiều HCBVTV hơn các phương pháp thông thường hiện nay. Hơn nữa, phương pháp
mới cũng có nhiều ưu điểm hơn các phương pháp hiện nay theo Dược điển của các nước, đó
là giảm thời gian phân tích, quy trình đơn giản dễ thực hiện, giảm chi phí phân tích, giảm ảnh
hưởng đến môi trường và sức khoẻ của kiểm nghiệm viên, đồng thời vẫn đạt được độ chính
xác theo yêu cầu.

-15-

Dược liệu rất đa dạng về chủng loại, tuy nhiên để phù hợp với các đối tượng có nguy cơ
nhiễm HCBVTV nhất, các loại dược liệu có bộ phận dùng chính là lá, thân thảo được lựa
chọn. Hai loại dược liệu tươi được sử dụng để thẩm định phương pháp là mã đề và bồ công
anh.
Hơn nữa, quy trình chiết HCBVTV trên mẫu dược liệu tươi và các mẫu khô có sự khác
biệt, dược liệu khô được khảo sát riêng. Để đánh giá ảnh hưởng của pH nền mẫu đến quy
trình chiết, hai loại dược liệu khô là dây thìa canh (môi trường trung tính) và lá giang (môi
trường acid) được lựa chọn để khảo sát.
Sản phẩm từ dược liệu được nghiên cứu này là thực phẩm chức năng có thành phần thảo
dược. Trong các loại TPCN, sản phẩm dạng trà thảo dược chứa nguy cơ nhiễm HCBVTV lớn
nhất do có quy trình sản xuất đơn giản (chủ yếu là xay nhỏ và đóng gói). Trà mướp đắng đã
được sử dụng để thẩm định phương pháp.
Ngoài ra, để đánh giá khả năng áp dụng phương pháp trên các nền mẫu dược liệu chứa
nhiều tannin hay polyphenol, chè xanh (khô) đã được sử dụng.
Việc lựa chọn các đối tượng mẫu rất đa dạng cho thấy khả năng áp dụng rộng của phương
pháp QuEChERS được nghiên cứu trên dược liệu.
4.2.2. Về phương pháp xử lý mẫu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát và lựa chọn được các điều kiện tối ưu của
phương pháp xử lý mẫu theo QuEChERS áp dụng trên các nền mẫu dược liệu và sản phẩm
dược liệu. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, phương pháp QuEChERS được nghiên cứu để xác
định dư lượng HCBVTC trên nền mẫu dược liệu. Các kết quả cho thấy phương pháp có nhiều
ưu điểm so với các phương pháp hiện nay được quy định tại Dược điển Việt Nam:
- Phương pháp có thể áp dụng trên dải rộng nhiều loại HCBVTV trên nhiều loại nền mẫu
dược liệu có bản chất khác nhau. Theo các kết quả thu được ở chương 3, độ thu hồi của hầu
hết các HCBVTV nghiên cứu nằm trong khoảng từ 80-110%; độ thu hồi của tất cả các
HCBVTV nghiên cứu đều trong khoảng 70-120%. Do đó, phương pháp có thể ứng dụng để
sàng lọc nhiều HCBVTV trong cùng một lần phân tích.
- Bên cạnh việc sàng lọc, phương pháp đã được ứng dụng để định lượng HCBVTV trong

(v/v). So với một số nghiên cứu tương tự trên các nền mẫu khô, các tác giả cũng bổ sung thêm
nước vào một lượng mẫu nhất định (từ 2-3 g) và với tỷ lệ mẫu : nước thông thường là 1 : 5
(v/v).
Về thời gian ngâm các mẫu khô trong nước, kết quả cho thấy sau 15 phút từ khi lắc mẫu
với nước, hàm lượng HCBVTV có xu hướng giảm dần. Nguyên nhân của hiện tượng này có
lẽ do một số HCBVTV bị chuyển hoá trong môi trường nước hoặc do nước làm hoà tan nhiều
hợp chất khác từ nền mẫu gây ảnh hưởng đến khả năng chiết HCBVTV.
4.2.2.2. Dung môi chiết và loại dung dịch đệm
Acetonitril là dung môi cho hiệu quả tốt nhất trong QuEChERS do có nhiều ưu điểm hơn
một số dung môi khác như aceton và ethyl acetat. Thứ nhất, acetonitril có thể trộn lẫn với
nước nhưng có thể tách lớp với nước khi thêm các muối. Thứ hai, acetonitril không kéo theo
nhiều tạp chất như lipid hoặc protein, muối nên dịch chiết mẫu sạch hơn. Hơn nữa, acetonitril
là dung môi phù hợp với cả sắc ký lỏng và sắc ký khí.
Nói chung, đa số các HCBVTV có thể chiết được bằng acetonitril theo phương pháp
QuEChERS. Tuy nhiên, đối với các HCBVTV phụ thuộc pH hoặc kém bền trong môi trường
kiềm hoặc acid lại cho độ thu hồi thấp khi không sử dụng đệm. Có thể dùng đệm acetat hoặc
citrat. Các kết quả trong nghiên cứu này cho thấy, cần phải sử dụng đệm để đảm bảo có được
hiệu suất chiết cao trên các nền mẫu có tính acid. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên
cứu trước đây, điển hình là kết quả của Lehotay và cộng sự khi nghiên cứu trên nền rau quả.
4.2.2.3. Nội chuẩn
Các nghiên cứu cho thấy, phương pháp QuEChERS cho kết quả tốt mà không cần sử dụng
nội chuẩn. Tuy nhiên, để tránh những ảnh hưởng chưa biết trong quá trình chiết, nội chuẩn đã
được sử dụng trong nghiên cứu này.
Trong kỹ thuật sắc ký khối phổ, nội chuẩn tốt nhất là nội chuẩn đồng vị của từng
HCBVTV. Trong thực tế, không thể dùng đồng vị cho tất các các HCBVTV.
-17-

Triphenylphosphat (TPP) qua khảo sát có thể được dùng để làm nội chuẩn do chất này có
những tính chất tương tự phần lớn các HCBVTV. Với các kết quả thu được, TPP có thể được
sử dụng làm nội chuẩn trong phương pháp QuEChERS.

và NaCl cũng được giữ cố định 4:1.
Natri acetat được thêm vào muối chiết, tuy nhiên vai trò thực sự của nó là tạo hệ đệm với
acid acetic có trong thành phần của dung môi acetonitril. Hệ đệm acetat này có vai trò đảm
bảo pH của dịch chiết ban đầu (dịch chiết acetonitril) trong khoảng từ 4,5-5,0 là pH tối ưu để
chiết phần lớn HCBVTV.
4.2.2.5. Làm sạch bằng chiết phân tán pha rắn
Chiết phân tán pha rắn (d-SPE) là bước làm sạch tạo nên hiệu quả của phương pháp
QuEChERS. Trong đó, chất hấp phụ PSA đóng vai trò quan trọng trong quá trình làm sạch.
PSA là một chất hấp phụ trao đổi anion yếu trên nền silica dùng để hấp phụ các acid béo, acid
hữu cơ. Vì có chứa nhóm amin bậc hai, PSA có tác dụng tốt hơn aminopropyl trong việc làm
sạch.
Theo kết quả thu được, lượng PSA được sử dụng là 40 mg cho nền mẫu dược liệu và sản
phẩm dược liệu. Khi tăng PSA có thể làm tăng hiệu quả chiết nhưng để tiết kiệm chi phí,
lượng PSA 40 mg đã được chọn. Kết quả này không có nhiều khác biệt so với các nghiên cứu
trước đây. Lượng PSA sử dụng trong phương pháp QuEChERS ban đầu là 25 mg với mỗi
mililit dịch chiết. Sau đó, Lehotay tăng PSA lên 50 mg trên mỗi mililit dịch chiết. Đối với các
mẫu chứa nhiều acid béo như ngũ cốc, Mastovska còn sử dụng lượng PSA đến 150 mg cho
mỗi mililit dịch chiết.
Trong bước d-SPE, MgSO
4
khan có vai trò loại lượng nước còn dư trong dịch chiết
acetonitril. Lượng MgSO
4
được sử dụng là 150 mg cho mỗi mililit dịch chiết. Theo nghiên
cứu của Lehotay, lượng nước có chứa trong dịch chiết acetonitril khoảng 8%. Nếu sử dụng
150 mg MgSO
4
khan, lượng nước trong dịch chiết cuối cùng khoảng 1-2%. Đây là tỷ lệ chấp
nhận được khi phân tích trên GC.
Việc sử dụng thêm GCB có tác dụng làm sạch các sterol, clorophyl và các chất có cấu trúc

4.2.3. Về phương pháp phân tích bằng sắc ký khối phổ
Các phương pháp xác định HCBVTV hiện nay theo quy định của Dược điển Việt Nam chủ
yếu sử dụng phương pháp sắc ký khí với các detector NPD và ECD. Việc sử dụng đồng thời
cả hai kỹ thuật sắc ký khí và sắc ký lỏng khối phổ đã mở rộng rất đáng kể phạm vi áp dụng
trên nhiều loại HCBVTV hơn.
4.2.3.1. Sắc ký lỏng khối phổ
Quá trình phân tích bằng LC-MS/MS gồm hai giai đoạn: tách bằng LC và xác định bằng
MS/MS.
Trong nghiên cứu này, kỹ thuật sắc ký lỏng pha đảo đã được sử dụng với pha tĩnh là cột
C18 và pha động là hỗn hợp methanol và acid acetic 1% trong nước. Đây là các điều kiện
phân tích sắc ký lỏng rất cơ bản và có thể dễ dàng áp dụng. Chế độ gradient đã được nghiên
cứu nhằm tách được các chất phân tích khỏi nền mẫu đồng thời đưa điều kiện pha động về
trạng thái ban đầu để phân tích các mẫu tiếp theo. Với các điều kiện này, có nhiều HCBVTV
chưa tách khỏi nhau hoàn toàn. Tuy nhiên, việc sử dụng detector MS/MS có tính chọn lọc rất
cao đã giúp tách các HCBVTV về tín hiệu.
Trong MS/MS, mỗi HCBVTV khi được ion hoá, có thể tạo thành nhiều loại ion khác nhau
tuỳ thuộc vào kỹ thuật ion hoá và chế độ ion dương hay âm. Phương pháp nghiên cứu sử dụng
kỹ thuật ion hoá ESI, chế độ ion dương thông thường tạo được ion phân tử là [M+H]
+
ngoài
ra, có thể tạo thành một số ion khác như [M+CH
3
OH]
+
, [M+Na]
+
… Mỗi ion phân tử khi đi
qua tứ cực thứ hai lại được bắn phá để tạo thành các ion sản phẩm, hai ion được lựa chọn là
hai ion có cường độ cao nhất.
Khi sử dụng các detector thông thường như UV-VIS, FL thì hiệu quả tách của sắc ký lỏng

không thể phân tích trực tiếp được tất cả các HCBVTV. Đối với các chất khó bay hơi, các
chất bền nhiệt hay các hợp chất có độ phân cực cao rất khó để thực hiện phân tích bằng GC.
Trong nghiên cứu này, kỹ thuật GC-MS/MS với nguồn ion hoá EI, bộ phân tích khối ba tứ
cực được sử dụng cho thấy có thể phân tích khá nhiều HCBVTV.
Nhiều HCBVTV có thể phân tích đồng thời bằng cả LC-MS/MS và GC-MS/MS. So với
GC-MS/MS, kỹ thuật LC-MS/MS có thể cho độ nhạy tốt hơn ít nhất là 5 lần. Nếu áp dụng
trên các nền mẫu khô, cần phải làm giàu mẫu trước khi phân tích bằng GC-MS/MS để đáp
ứng được mức MRL 0,01 mg/kg (10 µg/kg). Trong nghiên cứu này đối với các HCBVTV có
thể phân tích được đồng thời bằng cả hai kỹ thuật, LC-MS/MS được ưu tiên lựa chọn do ưu
điểm về độ nhạy. Tuy nhiên, đối với các phòng thí nghiệm không được trang bị thiết bị LC-
MS/MS có thể sử dụng GC-MS hoặc GC-MS/MS đối với các HCBVTV này.
4.2.4. Về kết quả thẩm định phương pháp
4.2.4.1. Tính đặc hiệu, chọn lọc
Cả hai kỹ thuật LC-MS/MS và GC-MS/MS đều có tính đặc hiệu cao, sự có mặt của bất kỳ
HCBVTV nào cũng được khẳng định chắc chắn thông qua ion phân tử và hai ion sản phẩm.
-20-

Theo quyết định 657/2002 của Uỷ ban Châu Âu, tính đặc hiệu có thể được đánh giá thông qua
số điểm nhận dạng (IP) và tỷ lệ các ion định tính và định lượng.
Số điểm IP cần phải đạt là 4 điểm. Trong đó, mỗi ion mẹ được tính là 1 điểm, mỗi ion con
được tính 1,5 điểm. Như vậy, theo các kết quả thu được số điểm IP có thể đạt được trong
phương pháp này là từ 4-5 điểm, đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Tỷ lệ các ion định tính và định lượng cũng được sử dụng để đánh giá tính đặc hiệu. Tỷ lệ
ion trên mẫu thử so với tỷ lệ ion trên chuẩn đã được sử dụng trong đánh giá phương pháp theo
phần mềm đi kèm từng thiết bị. Do đó, tính đặc hiệu của phương pháp phân tích được đảm
bảo tốt hơn.
4.2.4.2. Khoảng tuyến tính và đường chuẩn
Trong khoảng nồng độ từ 2 đến 200 ng/mL (tương đương trên các nền mẫu tươi là từ 2-200
µg/kg và nền mẫu khô là từ 10-1000 µg/kg), tất các các chất phân tích nghiên cứu đều cho
thấy độ tuyến tính đạt yêu cầu. Khoảng nồng độ này đã bao trùm được giá trị MRL của các

Các kết quả về độ lặp lại và độ thu hồi trên các nền mẫu khác nhau, tại 3 nồng độ thấp
(0,01 mg/kg), trung bình (0,1 mg/kg) và cao (1 mg/kg) cho thấy phương pháp có độ lặp lại tốt
và độ thu hồi đáp ứng được yêu cầu. Kết quả này khá tương đồng so với các nghiên cứu trước
đây. Kết quả so sánh độ lặp lại (thông qua RSD%) và độ thu hồi (R%) của phương pháp
-21-

nghiên cứu so với một số nghiên cứu gần đây sử dụng cùng kỹ thuật phân tích và phương
pháp xử lý mẫu theo QuEChERS cho thấy độ lặp lại và độ thu hồi của phương pháp
QuEChERS nghiên cứu rất tốt. Tuy nhiên đây là một phương pháp phân tích đa dư lượng, do
đó đối với một số HCBVTV vẫn còn cho độ thu hồi chưa đạt yêu cầu. Độ lặp lại và độ thu hồi
của phương pháp nghiên cứu khá tương đồng so với các kết quả của một số nghiên cứu trước
đây trên thế giới.
4.3. Về dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong dược liệu và sản phẩm từ dược liệu
Tỷ lệ phát hiện HCBVTV trên các mẫu dược liệu tươi được lấy tại một số vùng trồng lân
cận Hà Nội vượt giới hạn MRL 0,01 mg/kg là 36% (8/22 mẫu), trong khi đó tỷ lệ phát hiện
HCBVTV trên các mẫu dược liệu khô được lấy tại các chợ dược liệu chính ở Hà Nội là 30%
(8/27 mẫu). Dược liệu tươi có tỷ lệ phát hiện cao hơn do chưa trải qua quá trình chế biến gồm
việc phơi, sấy… Tuy nhiên, do nguồn gốc các mẫu dược liệu khô bao gồm cả dược liệu được
nhập khẩu từ nước ngoài (phần lớn là Trung Quốc), nên chưa đủ cơ sở để đánh giá mỗi liên
hệ giữa dư lượng HCBVTV trong dược liệu tươi và dược liệu khô. Tỷ lệ phát hiện trung bình
khoảng 30% cho thấy một tỷ lệ khá lớn dược liệu có chứa HCBVTV. Tuy nhiên, cỡ mẫu phân
tích còn nhỏ do đó chưa thể đánh giá toàn diện về chất lượng dược liệu trên thị trường hiện
nay.
Đây là lần đầu tiên một số nhóm HCBVTV mới đã được nghiên cứu và phân tích trong
dược liệu và sản phẩm dược liệu. Các nghiên cứu trước đây chỉ xác định các HCBVTV nhóm
clor hữu cơ, lân hữu cơ và pyrethroid. Nghiên cứu này đã cho thấy các HCBVTV được phát
hiện chủ yếu thuộc nhóm neonicotinoid (imidacloprid và acetamiprid). Ngoài ra
cypermethrin, chlorpyrifos, carbendazim và carbofuran cũng được phát hiện trên nhiều mẫu.
Kết quả này có sự khác biệt so với nghiên cứu trước đây của Trần Việt Hùng năm 2005, các
HCBVTV được phát hiện chính là DDT, cypermethrin và trichlorfon. Điều này cho thấy xu

chè Việt Nam không hoặc rất khó xuất khẩu được vào các thị trường khó tính như châu Âu,
Nhật Bản và Mỹ do chưa kiểm soát được dư lượng HCBVTV. Nhiều lô chè của Việt Nam đã
bị các nước này trả lại do nhiễm HCBVTV, do nhiễm hai HCBVTV là imidacloprid và
acetamiprid. Điều này phù hợp với các kết quả nghiên cứu này, khi phần lớn các HCBVTV
chính được phát hiện trên chè thuộc nhóm neonicotinoid gồm có imidacloprid, acetamiprid và
thiamethoxam. Các HCBVTV được người trồng chè sử dụng để diệt rầy xanh và bọ cánh đỏ
trên chè. Như vậy, các nhà quản lý cần có định hướng để điều chỉnh thói quen sử dụng các
HCBVTV trên chè.
Về giá trị MRL trên dược liệu và các sản phẩm dược liệu, hiện nay theo Dược điển Việt
Nam mới chỉ quy định cho 32 hợp chất, trong đó chủ yếu là các HCBVTV nhóm clor hữu,
phosphor hữu cơ và pyrethroid. Phần lớn các HCBVTV hiện nay không còn được sử dụng
nữa. Còn quy định 46/2007 của Bộ Y tế chỉ áp dụng đối với các sản phẩm rau quả, thực
phẩm. Trong nghiên cứu này, giá trị MRL mặc định (0,01 mg/kg) được chúng tôi sử dụng với
mục tiêu hướng đến sự hài hoà với các quy định hiện nay trên thế giới. Khi tham gia vào tổ
chức thương mại thế giới, Việt Nam cần đáp ứng được các yêu cầu của các nước. Do đó, việc
áp dụng một giá trị MRL mặc định theo như quy định của nhiều nước trên thế giới là cần thiết
và phù hợp. Mức MRL mặc định này khá thấp, do đó tỷ lệ phát hiện HCBVTV vượt MRL
trên các sản phẩm nghiên cứu khá cao.
Qua nghiên cứu về hàm lượng HCBVTV trong dược liệu và các sản phẩm dược liệu, luận
án đã có những đóng góp tuy còn khiêm tốn về hảm lượng HCBVTV trong dược liệu và các
sản phẩm từ dược liệu. Trong nghiên cứu này, lần đầu tiên một số nhóm HCBVTV mới như
neonicotinoid, macrocyclic lacton được phát hiện và định lượng. Việc phát hiện nhiều
HCBVTV mới trong dược liệu cho thấy cần tăng cường công tác hậu kiểm đối với các
HCBVTV này bên cạnh việc thiết lập mức MRL mặc định cho dược liệu và các sản phẩm
dược liệu.

-23-

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN

- Đã thẩm định phương pháp cho thấy phương pháp có tính đặc hiệu cao, có khả năng định
lượng các HCBVTV tại nồng độ thấp hơn MRL 0,01 mg/kg; có độ chính xác đạt yêu cầu với
độ lặp lại < 20% và độ thu hồi từ 70-120% cho tất cả các chất; trong đó phần lớn các chất có
độ lặp lại < 15% và độ thu hồi từ 80-110%.
3. Đã sơ bộ đánh giá dư lượng của 32 HCBVTV trên các nền mẫu gồm dược liệu tươi,
dược liệu khô, TPCN có thành phần thảo dược và chè. Có khoảng 30% số mẫu được phát hiện
thấy HCBVTV với hàm lượng vượt MRL 0,01 mg/kg. Các mẫu chè và mẫu TPCN dạng trà
túi lọc được phát hiện thấy tỷ lệ nhiễm cao hơn, lần lượt là 50% và 40%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status