Giáo trình văn học dân gian 1 - Pdf 26

Chương 1 : NHỮNG ÐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
I. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN :
1. Văn học dân gian là gì ?
Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng,
phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.
Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương : Văn học dân gian, sáng tác
nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ ( folkore văn học ).
Một số khái niệm xuất hiện trước những năm năm mươi như văn học (văn chương)
bình dân , văn học (văn chương) truyền khẩu (truyền miệng),văn học (văn chương) đại
chúng. Những khái niệm nầy nay không dùng nữa.
2.Về khái niệm folklore :
Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông William Thoms dùng trong
bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22/8/1846, với ý nghĩa là những di tích của nền văn
hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục , đạo đức, tín
ngưỡng , những baì dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng. Sau khi xuất hiện, thuật
ngữ nầy được hiểu với ngiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khoa học.
Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau :
a.Nghĩa rộng : bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk
culture). Theo cách hiểu nầy, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng
nghiên cứu của văn hoá học
b.Nghĩa hẹp : Những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Theo nghĩa hẹp,
văn hóa dân gian gồm ba thành tố : Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian),
nghệ thuật tạo hình dân gian , nghệ thuật diễn xướng dân gian.
c.Nghĩa chuyên biệt : folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore là hình
thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch do tập thể dân chúng sáng tác.Cũng có thể dùng thuật
ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác
cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá văn dân gian .
II.ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN :
1.Tính nguyên hợp của văn học dân gian :

chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay
không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác
phẩm
Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập
thể. Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốngiùp nghệ nhân dân gian ứng
tác( sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui
định khuôn khổ cho việc sáng tác. Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu
cho truyền thống
- Hai đặc trưng cơ bản vừa nêu trên có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn
học dân gian như : tính khả biến ( gắn với việc tồn tại các dị bản của tác phẩm ) , tính
truyền miệng , tính vô danh .

3.Văn học dân gian - một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân :
Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân
dân. Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian. Tác phẩm văn
học dân gian có tính ích dụng .Baì hát ru gắn với việc ru con ngủ- một hình thức sinh hoạt
gia đình; Ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru. Tương tự, những bài
dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội Từ đặc trưng nầy mà văn học
dân gian có tính đa chức năng , trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành sinh hoạt
III.VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN :
1.Văn học dân gian và văn học thành văn ( văn học viết )
Ðiểm chung : Văn học dân gian và văn học viết cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ.
Từ điểm chung nầy mà khoa học về văn học dân gian có thể sử dụng những nguyên tắc và
phương pháp nghiên cứu văn học để nghiên cứu văn học dân gian ở một mức độ nào đó.
Chẳng hạn, có thể miêu tả các thành phần của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, cấu trúc
Những đặc trưng loại biệt của văn học dân gian so với văn học viết :
+ Văn học dân gian là sáng tác tập thể. (văn học viết là sáng tác của cá nhân)
+ Văn học dân gian chỉ tồn tại thực tế khi diễn xướng nên có khả năng biến đổi, do vậy, nó có
các dị bản. (văn học viết cố định trong văn bản và chỉ có một bản duy nhất)
+ Văn học dân gian là thành phần hữu cơ của các hình thức sinh hoạt của nhân dân.

c.Loại kịch :
Bao gồm ca kịch và trò diễn dân gian: chèo sân đình , tuồng đồ, những trò diễn có
tích truyện.

2.Hệ thống thể loại :
Hệ thống thể loại văn học dân gian là một chỉnh thể. Ðây là một hệ thống chịu sự chi
phối của mỹ học dân gian để cho các tác phẩm thuộc mọi thể loại của nó đều mang " tính
dân gian ". Mặt khác , giữa các thể loại của hệ thống lại có quan hệ với nhau .
V . KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC
1.Khoa học về văn học dân gian :
Khoa học về văn học dân gian nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian, sinh hoạt văn
học dân gian, tác giả và công chúng văn học dân gian. Trong đó, tác phẩm văn học dân
gian là đối tượng chính. Tác phẩm văn học dân gian ở đây là một chỉnh thể gồm lời, nhạc,
điệu bộ Khoa nghiên cứu văn học dân gianï gồm các phân môn sau :Lý luận văn học dân
gian, Lịch sử văn học dân gian, Phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian.Và bộ
phận đặc thù là công tác sưu tầm văn học dân gian.

2.Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học :
Văn học dân gian, một thành tố của văn hóa dân gian là đối tượng nghiên cứu của dân
tộc học.
Nhiều thể loại văn học dân gian phát sinh từ xã hội công xã nguyên thủy và ngay cả
văn học dân gian ở các giai đoạn phát triển sau này luôn bị quy định bởi các hình thức sinh
hoạt văn hóa dân gian. Do vậy cần dựa vào dân tộc học để nghiên cứu. Chẳng hạn truyện
Sao Hôm, sao Mai, Sự tích trầu cau là tiếng vọng xa xôi của chế độ quần hôn trong xã hội
công xã thị tộc đồng thời chúng cũng cho thấy chế độ phụ quyền với vị trí của người con
trưởng được khẳng định
Chương 2 : THẦN THOẠI
I.THẦN THOẠI VÀ THẦN THOẠI VIỆT :

1.Khái niệm :

4.Quá trình hình thành và diễn biến của thần thoại Việt :
Thần thoại Việt hình thành trước hết do nhu cầu nhận thức và lý giải các hiện tượng
tự nhiên (Thần Trụ Trời, Thần Sét, Thần Biển ). Nó cũng hình thành do nhu cầu nhận
thức và lý giải xã hội (Họ Hồng Bàng, Sơn Tinh Thủy Tinh).
Thần thoại Việt xuất hiện khá sớm cùng với nghề nông (Nữ Thần Lúa) thời đại đồ đá
giữa (văn hóa Hòa Bình) hoặc đầu thời đại đồ đá mới (văn hóa Bắc Sơn).
Thần thoại Việt phát triển rực rỡ vào thời kỳ chuyển sang thời đại đồ đồng ( từ xã hội
thị tộc mẫu hệ, bộ tộc riêng lẻ tiến tới thành lập quốc gia Văn Lang ).
Về mặt lý luận, thần thoại phải được hệ thống hóa trong sử thi dân gian, nhưng ngày
nay hình thức sử thi này không còn.
Thần thoại Việt bị truyền thuyết hóa : Một bộ phận thần thoạiViệt có sự xâm nhập của các
yếu tố lịch sử trở thành truyền thuyết. Nổi bật trong số này là chuỗi truyền thuyết về thời
các vua Hùng (vốn là những thần thoại).
Thần thoại còn biến tướng trong Phật thoại, Tiên thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ
ngôn và cả truyện cười. Nhóm thần thoại này rất khó nhận. Chúng là những truyện thuộc
các thể loại trên nhưng chứa đựng các motif thần thoại (Cóc Kiện Trời, Chử Ðồng Tử )
hoặc mang dấu ấn của xã hội nguyên thủy (Trầu Cau, Ðá Vọng Phu, Sao Hôm Sao Mai ).

II.NỘI DUNG THẦN THOẠI VIỆT :
Cho dù tác phẩm thần thoại thuộc nhóm nào, cho dù sự tích về các vị thần có hoang
đường đến đâu thì thần thoại vẫn chứa đựng những hiểu biết, những kinh nghiêm của
người cổ đại.
Những hiểu biết, những kinh nghiệm này thể hiện qua những câu trả lời về những hiện
tượng trong tự nhiên và xã hội. Những câu trả lời nầy có thể là sai lầm so với tư duy ngày
nay, nhưng những vấn đề ñ được người cổ đại đặt ra đôi khi vẫn còn nguyên ý nghĩa đối
với chúng ta. Chẳng hạn, câu hỏi về nguồn gốc trái đất và nhân loại là câu hỏi lớn của
triết học, tôn giáo và khoa học.

1.Nhóm thần thoại suy nguyên :
Thần thoại giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và nguồn gốc loài người , các tộc người.


2.Motif thần thoại.
Có thể tìm thấy một số motif trong thần thoại Việt: Motif cột chống trời ( Thần Trụ
Trời ), motif căp vợ chồng đầu tiên(Nữ Oa- Tứ Tượng), motif bọc trăm trứng (Lạc Long
Quân-Âu Cơ).
Chương 3 : TRUYỀN THUYẾT
I.KHÁI NIỆM VỀ TRUYỀN THUYẾT :

1.Khái niệm :
Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch
sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện
pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu
tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

2.Phân biệt truyền thuyết với thần thoại và cổ tích :
a. Truyền thuyết và thần thoại :
Tiêu chí nhân vật chính:
Nhân vật chính trong thần thoại là thần hoặc bán thần. Nhân vật chính trong truyền thuyết
giàu nhân tính hơn.
Tiêu chí nội dung:
Thần thoại nêu lên khát vọng hiểu biết, khám phá những hiện tượng của vũ thụ, loài người
mang tính suy nguyên. Truyền thuyết thuyết tập trung vào những vấn đề xã hội.
Thời kỳ ra đời:
Thần thoại ra đời từ thời nguyên thủy. Truyền thuyết ra đời ở xã hội giai đọan sau.
b.Truyền thuyết và cổ tích
Về cốt truyện và nhân vật:
Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện và nhân vật cổ tích là tính hư cấu, tưởng tượng. Cốt truyện
và nhân vật truyền thuyết có xu hướng bám sát lịch sử.
Về nội dung:
Truyện cổ tích phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội, đặc biệt là trong gia

mở mang bờ coĩ của người Văn Lang.
Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng : Lạc
Long Quân - Âu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng.
Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng
lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng ( Hùng Vương thứ sáu, Hùng
Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia,vị vua có uy tín
với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang.
Yếu tố thần kỳ còn khá đậm đặc trong truyền thuyết thời kỳ nầy. Tuy nhiên, từ Lạc
Long Quân đến Thánh Gióngphương pháp sáng tác thần thoại đã thay đổi một mức độ nhất
định: Vai trò của thần linh cũng như tính chất siêu nhiên giảm xuống trong khi tính chất
trần thế tăng lên.Lạc Long Quân là một vị thần, cuộc hôn phối của Lạc Long quân với Âu
Cơ cũng mang tính chất phi thường. Khác với Lạc Long Quân, cho dù nhân vật Thánh
Gióng còn mang những nét thần kỳ nhưng vẫn gần guĩ với con người bình thường( có mẹ,
sinh ra ở làng Phù Ðổng, ăn cơm, cà) Mặt khác, từ Lạc Long Quân đến Thán h Gióng,
truyền thuyết thời kỳ nầy cũng có sự thay đổi về đề taì, chủ đề: từ đề taì đấu tranh chinh
phục thiên nhiên đến đề taì đấu tranh chống xâm lược. Nói tóm laị , từ " Sơn Tinh Thuỷ
Tinh " cho tớiThánh Gióng, truyền thuyết thời kỳ Văn Lang đã có sự biến đổi.

2.Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc :
Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257tcn-208tcn) .Sở dĩ
ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử Âu Lạc cũng như truyền thuyết An
Dương Vương mang tính chất bi hùng. Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207tcn-938) là
thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu dành độc lập của dân tộc ta.Trong hơn một ngàn năm bị
nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó
là điều hết sức phi thường.
Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh
của dân tộc Việt Nam. Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc ta đã vượt qua
thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài.
Truyền thuyết phản ánh cả lịch sử chiến thắng và lịch sử chiến bại của dân tộc.
Nhiều truyền thuyết thời kỳ nầy mà trong đó truyện An Dương Vương là tiêu biểu, có kết

dân không có yếu tố thần kỳ(Truyền thuyết về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi ).
Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống
ngoại xâm và truyền thuyết về anh hùng nông dân. Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước
nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân. Ðây là những nhân vật
có tài năng phi thường, mang vẻ kỳ vĩ, siêu nhiên.

4.Ý nghĩa của truyền thuyết :
Về mặt lịch sư:íTruyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học tham khảo về các giai
đoạn lịch sử dân tộc.
Về mặt ý thức xã hộiTruyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.
Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà thơ
sáng tác.
. III.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT :

1.Cốt truyện và nhân vật:
Truyền thuyết không có kiểu cốt truyện hay như cổ tích. Cốt truyện thường gồm ba
phần: hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính, sự nghiệp của nhân vật, chung cục thân thế của
nhân vật.
Nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư
cấu, sáng tạo trên nền lịch sử (thường là lý tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca
ngợi)
Nhân vật trong truyền thuyết cũng là hành động của nó như trong cổ tích và có số
phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là nhân vật trung
tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.

2.Lời kể trong truyền thuyết:
Nhìn chung, lời kể trong truyền thuyết Việt Nam chưa có giá trị nghệ thuật cao như trong
cổ tích và sử thi. Lời kể của một số truyền thuyết rút ra từ thần tích không còn giữ được
chất dân gian.
Chương 4 : TRUYỆN CỔ TÍCH

gắn với quan niệm vạn vật hữu linh, vạn vật tương giao của người cổ đại thì trong truyện cổ
tích sự kế thừa tư duy thần thoại đó còn nhằm phản ánh xã hội loài vật. Ðối với truyện ngụ
ngôn, tác giả dân gian đã có ý thức dùng câu chuyện để diễn đạt ý niệm trừu tượng. Tuy nhiên
, cũng cần lưu ý đến hiện tượng 2-3 mangcủa một số tác phẩm. Chẳng hạn, truyện Cóc kiện
Trờivừa là thần thoại vừa là cổ tích loài vật, truyện Công và quạvừa là thần thoại, cổ tích vừa
là ngụ ngôn.
Trong kho tàng truyện dân gian Nam Bộ về loài vật, có thể tìm thấy thể loại truyền
thuyết( Tại sao có địa danh Bến Nghé, Sự tích rạch Mồ Thị Cư, Sự tích cù lao Ông Hổ ).
Ngoài ra, truyện loài vật còn bị hút vào chuỗi Truyện Bác Ba Phi (Cọp xay lúa).

2.Truyện cổ tích thần kỳ :
a.Ðặc điểm chung :
Cổ tích thần kỳ kể lại những sự việc xảy ra trong đời sống gia đình và xã hội của con
người.Ðó có thể là những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình phụ quyền, vấn đề
tình yêu hôn nhân , những quan hệ xã hội ( Tấm Cám, Cây khế, Sự tích con khỉ )Nói cách
khác, nội dung chính của truyện cổ tích thần kỳ là đời sống xã hội và số phận con người.
Ðối tượng chính của sự miêu tả, phản ánh là con người. Nhân vật thần kỳ không phải và
không thê ølà đối tượng chính ( Nếu vai trò của nhân vật thần kỳ lớn hơn con người thì
truyện kể sẽ trở thành thần thoại ) Tuy nhiên, cần nhớ rằng, lực lương thần kỳ cũng giữ
một vai trò quan trọng trong sự diễn biến và đi đến kết thúc của câu chuyện.
Thế giới trong cổ tích thần kỳ là thế giới huyền ảo và thơ mộng ,có sự xâm nhập lẫn
nhau giữa thế giới trần tục và thế giới siêu nhiên. Ở đó, con người có thể đi váo thế giới
siêu nhiên, thần linh có thể xuất hiện trong thế giới trần tục.
Do có sự giống nhau về cốt truyện nên có những kiểu truyện trong cổ tích thần kỳ
(kiểu truyện Tấm Cám, Thạch Sanh).
b.Nhóm truyện về các nhân vật tài giỏi, dũng sĩ :
Nhân vật có tài đặc biệt, phi thường về một lãnh vực nào đó (bắn cung, lặn, võ nghệ,
chữa bệnh ).
Nội dung kể lại những cuộc phiêu lưu ly kỳ của nhân vật chính. Cuối cùng nhân vật
chính lập chiến công, diệt cái ác, bảo vệ cái thiện, mưu cầu hạnh phúc cho con người

Em bé thông minh ) Nhân vật dùng mẹo lừa để thể hiện trí thông minh (Cái chết của bốn
ông sư, Nói dối như Cuội ).
e.Nhóm truyện về người ngốc nghếch :
Nhân vật chính ngốc nghếch thực sự, hành động máy móc, đôi khi gặp may mắn
nên thành công, nhưng thông thường phải trả giá đắc cho hành vi ngu xuẩn của mình
( Chàng ngốc được kiện , Làm theo vợ dặn )
Nhân vật giả vờ ngốc để đạt được mục tiêu nào đó. Ðây là dạng đặc biệt của nhân
vật thông minh Nhân vật chẳng những không ngốc mà còn đóng vai chàng ngốc thành
công (Làm cho công chúa nói được).
III.NỘI DUNG TRUYỆN CỔ TÍCH :
1.Những xung đột cơ bản trong gia đình và xã hội :
Truyện cổ tích phản ánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình.
Những mâu thuẫn này mang tính chất riêng tư nhưng lại phổ biến trong toàn xã hội có giai
cấp : xung đột giữa anh em trai (Cây khế, Hầm vàng hầm bạc),xung đột giữa chị em gái
(Sọ Dừa, Chàng Dê).xung đột giữa dì ghẻ con chồng, giữa chị em cùng cha khác mẹ (Tấm
Cám),xung đột giữa con ruột và con nuôi (Thạch Sanh),xung đột có tính bi kịch về hôn
nhân, gia đình (Trầu cau, Ba ông Bếp, Sao hôm - sao mai, Ðá vọng phu).
Những xung đột xã hội diễn ra bên ngoài gia đình được phản ánh muộn hơn, ít tập
trung hơn. Do vậy ít tác phẩm tiêu biểu hơn (Cái cân thủy ngân, Của trời trời lại lấy đi ,
Diệt mãng xà).Một số truyện chứa đựng cả xung đột gia đình và xung đột xã hội (Thạch
Sanh).
Dù gắn với đề tài gia đình hay đề tài xã hội, ý nghĩa xã hội của truyện cổ tích cũng
rất sâu sắc. Nó phản ánh được những xung đột, mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, xung
đột giữa các tầng lớp trong một xã hội phân chia giai cấp. Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội
phụ quyền thể hiện qua xung đột giữa nhân vật bề trên và " bề dưới, đàn anh và đàn em.
Truyện cổ tích có khuynh hướng ca ngợi, bênh vực nhân vật bề dưới, đàn em , lên
án nhân vật " bề trên " , " đàn anh " (trong thực tế không phải người em, người con nào
cũng tốt , người mẹ ghẻ , người anh trưởng nào cũng xấu) nghĩa là chống cái bất công, vô
lý của xã hội phụ quyền nói chung (không đi vào từng số phận riêng) , thể hiện tinh thần
nhân đạo cao cả.


Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện cổ tích là tính chất bịa đặt của câu chuyện kể. Cần
nói thêm rằng, tính chất tưởng tượng của cốt truyện cổ tích ngoài nghĩa nói trên còn là tính
khác thường" của sự kiện và hành động cổ tích.
Cốt truyện cổ tích thường được xây dựng theo một vài sơ đồ chung,có thể tìm thấy các
kiểu cốt truyện quen thuộc như kiểudũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp, người xấu xí mà
có tài
2. Nhân vật
Nhân vật trong cổ tích là hành động của nó. Từ hành động của nhân vật ta có thể rút ra
tính cách. Nhân vật cổ tích chưa được cá thể hóa, tâm lý hóa.
Trong kho tàng truyện cổ tích có những kiểu nhân vật (nhân vật bất hạnh, nhân vật tài
giỏi ).
3. Các yếu tố cố định
Ðó là những motif trong truyện cổ tích: Những chi tiết nghệ thuật có mặt trong nhiều
truyện cổ tích của nhiều dân tộc (vật báu mang lại hạnh phúc, Cái mâm thần, chém chằn
tinh ). Các motif nầy là những đơn vị hợp thành của cốt truyện.
4. Thế giới cổ tích
Thế giới cổ tích có những yếu tố của thực tế hòa lẫn với yếu tố hư cấu tạo thành thế
giới huyền ảo, thơ mộng. Ðể giải mã thế giới cổ tích thường người ta dựa vào dân tộc học.
Chương 5 : TRUYỆN CƯỜI
I.ÐẠI CƯƠNG VỀ TRUYỆN CƯỜI :

1.Ðịnh nghĩa :
Truyện cười là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao
gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện
khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước

2.Hiện tượng cười và truyện cười :

Hiện tượng cười gắn với hai loại tiếng cười : tiếng cười sinh học và tiếng cười tâm

ai, Thấy dễ mà thèm, Ăn vụng gặp nhau ).
Tác dụng giải trí của truyện khôi hài căn bản lành mạnh xét từ phía người sáng tác
cũng như người thưởng thức.

2.Tiếng cười phê bình giáo dục :

Tiếng cười trong truyện trào phúng (trào phúng bạn) phê bình thói hư tật xấu trong
nội bộ nhân dân. Nếu như bản chất cao quý của người nông dân là sự thật (truyện cổ tích,
ca dao ) thì tính chất dễ phạm sai lầm của họ cũng là một sự thật khác (truyện trào
phúng). Chúng ta có thể đọc những truyện như: Hội sợ vợ, Áo mới lợn cưới, Sợ quá nói
liều

3. Tiếng cười đả kích :

Tiếng cười trong truyện trào phúng (trào phúng thù) vạch trần cái ác, cái xấu có
tính bản chất của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến.
Truyện trào phúng đả kích từ vua chúa, quan lại đến địa chủ cường hào , thầy đồ,
thầy chùa, thầy pháp, thầy lang (Quan huyện thanh liêm, Thần bia trả nghĩa, Nó phải
bằng hai mày, Nam mô boong, Thầy đồ liếm mật, Chỉ có một con ma ).
Hệ thống truyện trạng (tiêu biểu là truyện Trạng Quỳnh , Truyện ông Ó ) có tính
phản phong cao, chĩa mũi nhọn thẳng vào tầng lớp chóp bu của chế độ phong kiến (vua,
chúa).
III.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỆN CƯỜI :

1. Kết cấu:
Nhằm phơi bày cái đáng cười - một hiện tượng có mâu thuẫn nên truyện cười
thường được cấu tạo như một màn kịch có 3 lớp:
Lớp 1: Giới thiệu hiện tượng chứa mâu thuẫn tiềm tàng.
Lớp 2: Mâu thuẫn phát triểu tới đỉnh điểm.
Lớp 3: Cái đáng cười phơi bày.

trong xã hội cũ: đó là thói ngang ngược của kẻ quyền thế ( Khi chúa sơn lâm ngọa bệnh )
tội cướp của hại người(Chèo bẻo và ác là ) thói đạo đức giả của chúng (Mèo ăn chay ) .

2 . Truyện ngụ ngôn phê phán thói hư tật xấu của mọi người.
Truyện ngụ ngôn cũng là tiếng nói giáo dục, phê bình nhắm vào các thói hư tật
xấu của con người như: thói huênh hoang đi kèm với bệnh chủ quan (Ếch ngồi đáy giếng) ,
tính tham lam vô độ (Người nông dân và con lừa , Thả mồi bắt bóng ) thói đoán mò của
người kém hiểu biết ( Cà cuống với người tịt mũi )

3.Triết lý dân gian trong truyện ngụ ngôn.
Truyện ngụ ngôn nêu lên những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cuộc sống.
Những kinh nghiệm nầy tuy chưa là ý niệm triết học đích thực nhưng là những bài học bổ
ích. Chẳng hạn, truyện ngụ ngôn khuyên con người nên đứng đúng vị trí của mình (Q ụa
mặc lông công ) , sống cần có lập trường (Ðẽo cày giữa đường ) tác hại của óc xa rời thực
tế (Chị bán nồi đất ) nêu lên sức mạnh của sự đòan kết ( Chuyện bó đũa )
Có những kinh nghiệm sống của nhân dân đã được truyện ngụ ngôn khái quát lên
thành những quan niệm triết học. Ðó có thể là quan niệm về tính tương đối của sự vật hiện
tượng trong tự nhiên và xã hội (Mèo lại hoàn mèo ) sự vận động và phát triển của thế giới
theo qui luật khách quan Chính vì vậy mà so với cổ tích và truyện cười thì truyện ngụ
ngôn thiên về giáo dục hơn.
III. MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỆN NGỤ NGÔN

1.Cốt truyện và kết cấu:
Truyện ngụ ngôn là câu chuyện kể có tính chất thế sự . Tuy nhiên cốt truyện của
truyện ngụ ngôn khác với cổ tích ở chỗ: Cuộc đời trong ngụ ngôn gần với hiện thực hơn
trong khicuộc đời trong cổ tích gắn với lý tưởng và ước mơ
Kết cấu truyện ngụ ngôn thường ngắn, ít tình tiết thường mỗi truyện chỉ một tình
tiết trong khi câu chuyện cổ tích thường có đầu có đuôi. Nét đặc biệt trong kết cấu của
truyện ngụ ngôn là phần truyện kể nổi lên còn phần ý nghĩa lắng đọng lại mà người đọc tự
rút ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status