Tóm tắt luận ngữ của Khổng tử
1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Luận ngữ của Khổng tử ra đời từ thời Xuân thu Chiến Quốc, các giã
sử Trung Hoa chia thời Đông Chu thành hai thời kỳ là thời Xuân thu (722-
497), Thời Chiến Quốc (479-221) trước Tây lịch, nhưng đã có người chia
lại thời Xuân thu (770-403), thời Chiến Quốc (403-221).
Thời đó Trung Quốc chia nhỏ đến trên một trăm ngàn chư hầu, tới
đầu Đông Chu chỉ còn trên một trăm nước, nhiều nước nhỏ bị nước lớn
thôn tính, thời Xuân Thu chỉ còn 14 nước là đáng kể: Tấn, Tần, Tề Ngô,
Việt, Sở, Lỗ, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần, Thái, Trịnh. Sau đó là ngũ bá: Tề,
Tần, Tấn, Tống, Sở.
Khổng Tử thấy cảnh tranh giành ngôi báu, chiến tranh chém giết
lẫn nhau, ông cũng khen một vài ông vua là tạm được, còn thì là một
phường dâm loạn. tuy nhiên thời Xuân thu cũng có một số chính trị gia như
Quản Trọng, An Anh ở Tề…
Về kinh tế và xã hội, thời Xuân thu người Trung Hoa đã biết nấu sắt
và có thể có lưỡi cày bằng sất, họ đã biết trồng trọt và làm thủy lợi đã có
một số thương nhân làm giàu.
Về văn hóa, ngoài những thể chế lễ nghi, tế tự thời Xuân thu đã cải
thiện chữ viết, dùng thẻ tre tiện hơn mai rùa và xương thú để ghi những
điều muốn nhớ. Sau đó biết dùng cây nhọn nhúng vào sơn viết lên thẻ tre
hoặc lụa nhanh hơn khắc nhiều. Nhờ vậy nhà vua và chư hầu nào cũng có
sử quan chép sử của triều đình và tương truyền trước Khổng tử đã có
những kinh, thư, lễ, nhạc, dịch.
Các học giả ngày nay cho rằng các sách thời Xuân thu mà Khổng
được đọc chỉ có Ýt bộ sử của một số nước (nhất là Lỗ có thể Chu nữa),
kinh thi, mươi thiên trong kinh thi, một số thiên trong kinh lễ (không biết
1
những thiên nào) kinh nhạc và bộ sách bói tức kinh dịch, di sản thời Tây
Chu để lại. Ông còn san dịch các kinh đó thì chưa có gì chắc chắn cả.
2. Tiểu sử tác giả
khấu. Theo Định Công đi hội kiến vơi vua Tề ở Giản cốc, làm á tướng
nước Lỗ, khuyên vua lỗ phá ba thành của ba họ: Mạnh, Quý, Thúc. Chỉ phá
được hai thành của họ Quý, thóc.
Giết Thiếu Chính Mão, vua Lỗ và họ Quý không trọng dụng ông
nữa, ông bỏ quê hương sang Vệ ở mươi tháng. Bị giam ở thành Khuông.
Ông qua Bồ một tháng rồi về Vệ, vào yết kiến ở Nam Tứ, lai bỏ Vệ qua
Tào, Tống.
Ở Tống Hoàn Khôi muốn hại ông, ông phiêu bạt sang Trịnh, qua
Tần. Tần và Sở tranh nhau ngôi bá, thường xâm lấn Trần, ông trở về Bồ, bị
nạn ở Bồ, về Vệ rôi lại rơiVệ.
Bật Thật ở Tấn mời ông tới ông định đi rôi nghe lời tử Lộ can lại
thôi. Ông định qua Tấn để gập đại phu tấn là Triệu Giản tử, tới sông Hoàng
Hà lại quay về Vệ. Vệ Linh Công hỏi về chiến trận có thể vào lúc này. Lúc
ong 60 tuổi đang ở Trần, có tin Lỗ Đinh Công chết rồi Quý hoàn Tử chết.
Con Hoàn Tử là Khang tử mời Nhiễm Cầu về Lỗ giúp mình. Qua Diệp (Sở)
Diệp Công hỏi về chính trị, trở về Thái, dọc đường gặp mấy Èn sĩ trường
thư, Kiệt Nịch…thầy trò Khổng tử bị vây và tuyệt lương ở trần, Thái, Sở.
Chiêu cho quân lại giải vây cho ông, ông qua Sá vua Sở tính dùng ông, bị
quần thần cản lại thôi. Ông chán nản muốn đi cưu di có lẽ vào lúc này.
Trở về vệ, bàn về thuyết chính danh, Quý Khang tử mời về Lỗ, ông
về nhưng không tham chính. Lỗ Ai Công và Quý Khang Tử hỏi về chính
trị, năm này có lẽ Bá Ngư chết. Ông cự chính hành vi chính trị của Nhiễm
Cầu trong việc thu thuế và đánh nước chuyên Du.
Nhan Hồi chết vào năm này, từ khi về nước ông lo sửa nhạc và viết
bộ xuân thu. Ông chấm dứt bộ xuân thu ở việc bắt được con kỳ lân, ông
buồn về việc đó, môn sinh thân tín của ông chỉ còn lại Tử Cống ở gần ông,
ông mất ở Lỗ thọ 73 tuổi.
3
3. Cơ sở triết học tư tưởng chính trị của tác giả
Thuyết của ông tuy đã ra đời cách đây trên 2500 năm nhưng nó vẫn
+ Nhân: Chính là lòng người, lòng thương người, nhân là thương
người, nhân là ái nhân, yêu người. Nó được thể hiện rõ căn bản ở 3 điểm
sau " người nhân là mình muốn lập thân thì cũng muốn giúp cho người lập
thân, mình muốn thông đạt thì cũng giúp người thông đạt và điều gì mình
không muốn thì cớ đem đến sử với người khác". Theo ông thì điều đầu tiên
con người phải mang cái bản chất chân chính của con người, vứt bỏ điều
nhân đâu còn là quân tử, nhân mang tính phổ biến trong mọi người, trong
mọi người nó là cầu nối đẻ thực hiện mọi sự tập hợp và liên kết mọi người
trong xã hội.
Theo ông người nhân cũng là người quân tử mà quân tử là làm cho
cái đẹp, cái thiện nảy nở trong mỗi người, không khoi dậy cái ác, theo ông
nhân là nền móng, là gốc từ đó nảy sinh ra phẩm chất đạo đức khác. Người
nhân tất có trÝ, dùng hiếu, đễ. Người quân tử khi gặp nạn thì bình tĩnh,
người tiểu nhân khi gạp nạn thì làm liều. Ông cũng cho rằng người quân tử
có thể làm điều bất nhân do không rèn luyện tu dưỡng… nhưng kể tiểu
nhân thì không thể làm được điều nhân, nhân để làm gì theo ông nhân là để
khôi phục lễ.
+Lễ: Vừa là hình thức vừa là nội dung, cơ chế phương thức, để điều
chỉnh tất cả cả các quan hệ xã hội. Lễ theo nghĩa rộng là không thể bao
quát các chuẩn mực đạo đức giữa con người với con người mà bao gồm cả
các hoạt động tế lễ. Lễ theo nghĩa hẹp là những chuẩn mực đạo đức giữa
người với người thực chất là quy tắc hoá chữ nhân.
Các quan hệ cụ thể là:
-Quan hệ vua tôi: Ông nhấn mạnh chữ trung, vua lấy lễ để sai khiến
bề tôi, bề tôi lấy trung để giải quyết công việc của vua, vua bảo bề tôi chết
là bề tôi phải chết nếu bề tôi không chết là bề tôi bắt trung.
-Quan hệ cha con: Lấy chữ hiếu làm đầu, cha với con phải nhân từ,
con thê cha phải theo đạo hiếu.
5
-Quan hệ vợ chồng, lấy chữ tiết hạnh làm đầu, người phụ nữ phải tu
khuyên con người ta sống đẹp và sống tốt hơn, sống có trên có dưới, có tôn
ty, trật tự. Triết lý của ông là triết lý hành động, học đi hành đạo giúp đời,
có tư tưởng về thé giới đại đồng, triết lý nhân sinh đúng đắn. Khổng Tử
quan tâm đến văn hoá, lễ giáo tạo ra truyền thông hiếu học, học không biết
chán, dạy không biết mỏi.
Về chính trị thì thuyết của ông cũng khuyên là cai trị phải thu phục
nhân tâm, thu phục lòng người, chứ không giết chóc đánh đập đây là tư
tưởng tiến bộ thời bấy giờ mà ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Hạn chế của tác phẩm
Thế giới quan của Khổng tử cũng không có thế giới quan chật chẽ
theo đúng nghĩa của nó, cũng khong hề đặt ra bản chất của vũ trụ, khởi
nguyên của thế giới, học thuyết của ông chỉ thi, thư, nhạc vấn đề vè chính
trị nhân sự. Ông dùng đức để trị là điều khó, ông tin vào mệnh trời, ông cho
rằng người ta có thể chữa được bệnh chứ không thể chữa được mệnh.
Mệnh theo ông còn là cái gì đó giống như quy luật, ông cũng bảo vệ
chế độ bắt công bất bình đẳng, biến phi lý thành hợp lý. Ông coi vua là
thiên tử để trị dân, coi dân là tầng lớp ngu dốt càn chăn dắt. Nho giáo coi
thường phụ nữ. Tư tưởng Nho giáo duy trì quá lâu trong chế độ phong kiến
làm kìm hãm quan hệ tư bản phát triển. Nho giáo không phát triển khoa học
tự nhiên, nó làm cho quá trình cải tạo thế giới bị kìm hãm.
Chóng ta hiểu rằng học thuyết của ông tuy vẫn còn những hạn chế
đó là điều tất nhiên, bởi hạn chế lúc đó là do điều kiện lịch sử lúc dó quy
định. Nhưng với cái nhìn duy vật Mác xít thì đó là tư tưởng tiến bộ của
ông.
Ý nghĩa của tư tưởng Khổng tử trong cuộc đổi mới hôm nay: Nho
giáo hướng nhân dân vào con đường tu dưỡng đạo đức theo nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín, ảnh hưởng của nó là lập được kỷ cương trật tự xã hội. Ngày nay
Nho giáo vẫn còn giá trị về mặt đạo đức và nhân văn.
7
8
Ngoài nhưỡng vấn đề có tính nguyên tắc chung của việc cai trị theo
pháp luật, ông còn bàn bạc khá cặn kẽ về các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Những phát biểu của ông là những lý luận căn bản cho việc xây dựng
những thiết chế dân chủ và nhà nước pháp quyền, có tính cách không thể
điều hoà đói với sự chuyên chế của vua chúa và giáo hội lúc bấy giờ, nên
sách đã bị cấm lưu hành và tác giả đã phải sống lưu vong sang nước khác,
nhưng những tư tưởng chứa đựng trong tác phẩm thì ảnh hưởng ngày một
lan rộng và khi cuộc đại cach mạng Pháp kết thúc vào năm 1794 thì di hài
của ông đã được đưa về nơi chôn cất các vĩ nhân của nước Pháp.
Toàn bộ luận văn chia làm 4 phần mà tác giả gọi là quyển.
+Quyển thứ nhất gồm 9 chương mở ra những ý niệm chung về sự
hình thành một xã hội người từ trạng thái tự nhiên, chuyển sang trạng thái
dân sự và những ý niệm chung về việc thành lập "công ước xã hội". Nhận
xét của ông về con người xã hội là "người ta sinh ra tù do, nhưng ròi đâu
đâu con người cũng phải sống trong xiềng xích". Ông nói "khi nhân dân bị
áp bức mà họ cứ phục tùng, thế cũng là phải thôi. Nhưng nếu họ hất bộ
được cái ách áp bức đi thì còn hay hơn nữa, vì thế mà họ giành lại tự do mà
họ vẫn có quyền được hưởng."
Ông phê phán những người không dám đấu tranh "từ bỏ tự do của
mình là từ bỏ phẩm chất con người, là từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa
vụ làm người". " làm cho ý chí con người mất hết tự do, tức là tước bỏ đạo
lý trong hành động con người".
Kết thúc quyển thứ nhất Rousseau viết: " ông nói xã hội xây dựng
nên sự bình đẳng về tinh thần và pháp chế, để thay thế cái mà thiên nhiên
đã làm cho con người không bình đẳng về thế lực. Trên phương tiện công
ước và pháp quyền, con người tuy không đồng đều nhau về thân thể và trí
tuệ vẫn được hoàn toàn bình đẳng như nhau".
9 chương của quyển thứ nhất đó là:
Chương I: Chủ đề của quyển thứ nhất.
" II: Các xã hội đầu tiên.
quan hành pháp tức là chính phủ.
Với cái nhìn của Rouseau lực tổng quát của Chính phủ là lực quốc
gia, chính phủ mạnh thể hiện ở chỗ quốc gia mạnh, chứ không phải xây
dựng bộ máy cho đông người "Quan lại càng đông chính phủ càng yếu, đây
là một phương châm cơ bản" ông giải thích "chắc chắn là công việc càng
giao cho nhiều người thì càng chậm xong, làm ăn quá thận trọng thì khó
phát tài vì bỏ qua mất cơ hội và bàn cãi nhiều thì thường hỏng việc".
Ông nêu ra 3 loại chính phủ:
- Chính phủ dân chủ.
- Chính phủ quý téc.
- Chính phủ quân chủ.
18 chương của quyển thứ ba đó là:
Chương 1: Chính phủ nói chung.
Chương XVIII: Biện pháp ngăn ngừa những vụ chính phủ cướp
quyền.
Quyển từ 4 gồm 9 chương bàn tiếp nhiều vấn đề trong đó nổi lên là
"cơ quan tư pháp".
Tác giả giành 4 chương đầu để làm rõ một nguyên lý "ý chí chung
của toàn dân là không thể phá huỷ" ngoài những hình thức bảo đảm dân
chủ như trên, còn phải có cơ chế thật hiệu lực đó là cơ quan tư pháp. Vấn
đề cuối cùng được tác giả bàn đến trong quyển thứ tư của tác giả là vÊn đề
"tôn giáo dân sự".
9 chương của quyển thứ 4 đó là:
Chương I: Ý chí chung là không thể phá huỷ.
Chương IX: Kết luận.
12
Tác phẩm của ông kiến giải hình thức tổ chức của nhà nước. Xuất
phát của ông là quyền lực của nhân dân.
Ý chí chung không thể phân chia, không thể nhượng bộ, quyền lực
được giao cho cơ quan đó là cơ quan lập pháp, cơ quan thể hiện ý chí
Điều đó làm cho các quan chức của chính phủ làm hoàn thiện ý chí
chung của nhân dân.
Thực tÕ Ýt có Chính phủ làm tốt việc này, cho đến nay nhà nước
nào cũng khẳng định Nhà nước thuộc về nhân dân. Như nhà nước ta chẳng
hạn quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng trình độ nhận thức về
pháp lý, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân ta còn hạn chế thì pháp
luật cũng bị hạn chế. Song những tư tưởng của ông thì trong công cuộc đổi
mới hiện nay của chúng ta vẫn còn rất giá trị.
Những tư tưởng của "Khế ước xã hội" đã lay động bao lớp người
không thỏa hiệp với chế độ quân chủ chuyên chế thời Êy. Mặc dù trên 200
năm đã trôi qua, kể từ ngày "khế ước xã hội" ra đời mà luồng ánh sáng do
tác phẩm dội ra vẫn còn ánh lên trước mắt chúng ta ngày nay và đó là
những tư tưởng tiến bộ để xây dựng một xã hội dân chủ và nhà nước điều
hành bằng pháp luật.
3. Mét số nhận xét
Các quan điểm của Rousseau về nhà nước và pháp luật tiến bộ hơn
nhiều so với các nhà tư tưởng trước đó. Ông coi nguyên tắc cơ bản trong
học thuyết của mình là tư tưởng chủ quyền nhân dân. Các quan điểm chính
trị xã hội của ông nổi bật ở tư tưởng dân chủ thị dân, thấm nhuần sự quan
tâm đến người dân bình thường, những người bị chế độ chuyên chế đè nén
hơn cả. Ông không chỉ phê phán các thiết chế phong kiến nào đó mà bác bỏ
toàn bộ hệ thống chế độ chính trị pháp quyền áp bức nhân dân. Các tác
phẩm của ông trong đó có cuốn "Bàn về khế ước xã hội" đều thấm nhuần
sự căm thù chế độ chuyên chế và bè lũ áp bức, tình yêu nhân dân bị áp bức
và đòi hỏi thay đổi hoàn cảnh tốt hơn cho họ.
Cũng như các nhà tư tưởng trước đó, Rousseau giải thích sự hình
thành xã hội và nhà nước trên quanđiểm của thuyết tự nhiên và thoả
14
thuận xã hội. Xuất phát từ giả thiết về trạng thái tự nhiên mà trong đó
mọi người đều bình đẳng, ở đó chỉ có một loại bất công là thể chất xuất
nhiên trong tác phẩm của ông vang lên khẩu hiệu vùng lên chống lại chế độ
chuyên chế. Cương lĩnh của ông là cương lĩnh cấp tiến của giai cấp tiểu tư
sản, là đỉnh cao mà cách mạng thế kỉ XVIII đã không thể vượt được Tư
tưởng của ông đã được ghi nhận trong "Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền" năm 1789 và 1793 cũng như trong các văn kiện cách mạng khác.
Rousseau đã nêu lên những tư tưởng rất đặc sấc về quyền lực nhà
nước, về chủ quyền nhân dân, sự phụ thuộc của hành pháp và tư pháp và
một nền dân chủ trực tiếp. Mặc dù ông không thấy sự hình thành nhà nước,
không thấy các lợi Ých kinh tế đứng đằng sau các biến động chính trị, đằng
sau việc hình thành chính phủ cũng như sụ tha hoá của chính phủ. Song
trên thực tế, ảnh hưởng tư tưởng cuả Rousseau đã vượt qua giới hạn của cả
thế kỉ XVIII và vượt qua cả giới hạn tư tưởng dân chủ tư sản. các tư tưởng
của ông về con người sinh ra tự nhiên là như nhau, nghĩa vụ lao động đối
với tất cả mọi người, quyÒn lực nhà nước thuộc về nhân dân… đã làm ông
trở thành người tiên đoán những tư tưởng xã hội chủ nghĩa mặc dù bản thân
ông không phải là nhà xã hội chủ nghĩa.
16
TÓM TẮT TÁC PHẨM
"MẶC TỬ"
I. Tác giả - tác phẩm
-mặc Tử tên là Mặc Định, người nước Lỗ sinh vào cuối thời xuân
thu
-ông sinh ra và lớn lên trong gia đình tiểu thủ công khoảng 478-392
(TCN)
-Ông là người gần gũi thực tế xã hội với đời sống nhân dân lao
động
-tư tưởng chính trị của ông đối lập vớ tư tưởng Khổng – Minh.
-Học thuyết "Mặc Tử" đã nêu lên gồm 10 chủ trương lớn (mười
cương lĩnh chính trị của ông).
-Tư tưởng thể hiện rõ nét nhất của ông là "Kiêm ái". Ôngđi chu du
đẹp mà loài người đang phán đấu xây dựng xã hội đó.
Ông phản đối những nghi lễ phiền phức và sự sa hoa lãng phí của
bọn quý tộc, phản đối chiến tranh phi nghĩa giữa các tập đoàn phong kiến
các nước.
Ông cho rằng; "Chiến tranh không những phá hại của cải vật chất
nhiều, mà còn trực tiếp làm tổn hại số người lao động cho xã hội và nguy
hại rất lớn cho xã hội".
3. "Tôn trọng người hiền"và "Học tập người trên"
- Mặc Tử phản đối chế độ cha truyền con nối của bọn lãnh chúa
phong kiến, phê phán thuyết định mệnh của chúng và cho rằng "Không có
mệnh làm vua cha truyền con nối, cũng không có mệnh làm nô lệ, làm tôi
tớ mãi, hoạc con nhà nông cứ làm nông, con nhà thương cứ làm thương".
Do đó ông chủ trương "Thượng hiền".
18
"Thượng hiền"là nhân dân phải tuyển cử người hiền, người giỏi
đứng ra cùng việc nước, không phân biệt sang hèn, thứ bậc, dù là xuất thân
ở tầng lớp "tiện dân".
Theo ông người được nhân dân lựa chọn "đường đến chính trị"
không những phải tham gia lao động mà phải có kế hoạch sản xuất cung
cấp các thứ cần thiết cho đời sống và cải thiện đời sống cho toàn xã hội. Đó
là bậc thánh nhân, là "Thiên tử" mà nhân phải tuyệt đối phục tùng (Thượng
đồng) mệnh lệnh "người trên", song cũng có quyền phê phán, can ngăn nếu
người trên có sai lầm. đây là tiến bộ của ông …
- Mặc Tử cho rằng: Trong một nước nếu người hiền lương càng
nhiều thì nền chính trị của nước càng tốt, còn nếu Ýt người hiền thì nền
chính trị nước đó sẽ suy. Cho nên, nếu muốn trị an quốc gia, việc cấp thiết
đầu tiên là phải làm cho người hiền trong nước nhiều thêm.
- Mặc Tử phê phán và phủ nhận những quan điểm của Khổng Tử
như " nhân" "lễ"chính danh định phận "Thương yêu người thân" và phản
đối phân chia xã hội thành hai hạng người "Quân tử", "Tiểu nhân".
"Tinh thần pháp luật’của Mont squien xuất bản năm1748.
I. Tác giả: Mông tetkiơ (1689-1755)là một nhà tư tưởng lớn, nhà
khai sáng Pháp thế kỷ 18.
Ông sinh ra trong mét gia đình quý tộc Pháp do vậy ảnh hưởng
truyền thống gia đình quý tộc. ông là một nhà học luật. Với tác phẩm "tinh
thần pháp luật’của ông là viên ngọc sáng trong kho tàng lý luận vè khoa
học pháp lý, nó đã phác hoạ những nét cơ bản về một xã hội công dân và
nhà nước pháp quyền để đảm bảo công bằng xã hội và phát triển đất nước
d]ới quyền cai trị của một ông vua sáng.
"Tinh thần pháp luật" ra đời là "Cái mốc’đánh vào chế độ phong
kiến. Nó như lời cảnh báo chế độ cũ sẽ sụp đổ.
II. Nội dung tác phẩm
Nội dung chủ yếu của tác phẩm là hình thức tổ chứ nhà nước, hình
thức quyền lực nhà nước.
Tác phẩm "Tinh thần phấp luật" gồm 31 quyển. Mông Tét xki ơ
chia các quyển đó thành 6 phần. Sau ông lại không chia như thế nữa.
Nhưng dù sao lối phân chia 6 phần của ông trước cũng còn quan hệ.
Trong phần thứ nhất (quyển I- VIII) ông xác định luật pháp là mối
tương quan phát sinh từ bản tính các sự vật, vật thể và ông nghiên cứu ngay
những nguyên nhân chính trị đã quyết định luật pháp.
Phần này tác giảđịnh nghĩa 3 loại chính thể.
- Dân chủ nguyên tắc là đạo đức
- Quân chủ nguyên tắc là danh dù
- Độc tài nguyên tắc lạ hãi
Và những chứng minh những quy tắc của nền đạo đức công dân,
những luật lệ dân sự và hình sự những quy luật liên quan đến những sự tiêu
21
pha phí phạn và thân phận của các người đàn bà thay đổi tuỳ theo những
nguyên tắc của chính thể.
. * Phần thứ hai (Quyển IX-XIII) ông tiếp tục nghiên cứu những
vực xã hội
Khi phân tích các hình thức nhà nước tử Arixitôt đến Loc cơ cũng
đã bàn về cấu trúc nhà nước. Nhưng Mongtexkiơ phân tích hai khái niệm
cơ bản đó là: bản chất nhà nước và nguyên tắc nhà nước.
Về bản chất của nhà nước: là các quy định nhà nước nó là nó mà
không phải là cái khác, nó được quy định là nhà nước.
Về nguyên tắc: cái mà làm cho chính thể đó hoạt động. Khi nhà
nước đã mang bản chất về nguyên tắc thì nó hoạt động có hiệu quả.
Nhà nước chính thể dân chủ: theo ông là dựa vào số lượng người
nắm quyền, quyền lực thuộc vÒ tay nhân dân, dân trực tiếp bầu chính phủ,
dân có quyền lựa chọn người cai trị mình.
Nguyên tắc của thể chế là đạo đức và đức hạnh chính trị, mọi người
phải có đạo đức yêu dân chủ, yêu pháp luật, yêu sự bình đẳng, để làm cho
dân ở đó tôn trọng pháp luật và yêu quý pháp luật.
Bình đẳng ông quan niệm: Tôi bầu ra anh làm quan nhưng bình
đẳng với nhau vì đều là công dân của một nước, đều sự chi phối phối và
điều hành của pháp luật, tránh bình đẳng cực đoan dẫn tới vô chính phủ.
Vì nền dân chủ bầu ra người đứng đầu nên phải có Luật Bầu cử,
ông đưa ra cách bầu cử, bỏ phiếu kín, bỏ phiếu trực tiếp công khai hay bốc
thăm.
Tại sao ông lại đề cao dân chủ, ông cho rằng quyền lực thuộc về tay
nhân dân, nhân dân không có khả năng lãnh đạo, cử người đại diện qua bầu
chọn người tài giỏi. Ông ví ngàn vạn đôi tay thì có thể lật đổ, ngàn vạn đôi
chân thì có thể chậm như sên.
Chính phủ quý tộc: Quyền lực nằm trong tay một nhóm người
nguyên tắc tồn tại thì nhóm người phải ôn hoà. Khi nhóm người này có
người mạnh hơn nắm quyền lực thì chuyển sang chính thể quân chủ.
23
Chính thể quân chủ là do một người cầm quyền làm theo hiến pháp
và pháp luật. Ông cho rằng tốt hơn chính phủ chuyên chế vì làm theo pháp
xét đúng hay sai bởi do điều kiện lịch sử lúc đó.
25