Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang
trong quá trình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội. Việt
Nam là một trong những quốc gia luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và coi đó
chính là mục tiêu mang tính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nói
chung và quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình nói riêng. Đặc biệt
là sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Chính vì vậy, trong các văn kiện của Đảng và
trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, quyền bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng luôn được quan tâm sâu sắc. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình (sau đây viết tắt là HN&GĐ), nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng,
đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập
khá cụ thể và chi tiết trong các quy định của pháp luật và ngày càng có xu
hướng hoàn thiện hơn. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước
và của toàn xã hội đến vấn đề này đồng thời góp phần vào mục tiêu chung là
bình đẳng giới của toàn thế giới. Song các quy định đó vẫn còn nhiều bất cập,
chưa hoàn thiện trong từng trường hợp cụ thể khi chia tài sản của vợ chồng dẫn
đến việc chia tài sản còn nhiều sai sót và chưa đảm bảo quyền bình đẳng cho các
bên.
Hơn thế nữa, trong điều kiện kinh tế đang phát triển theo hướng thị trường
hóa hiện nay, khi khối lượng tài sản của công dân tăng lên, nhu cầu riêng cũng
nhiều hơn, ý thức, tâm lý tài sản riêng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, nghề
nghiệp, sinh hoạt cá nhân được chủ động hình thành và phù hợp với tâm lý dân
tộc, mong muốn tạo lập cho mình một khoản tài sản độc lập không bị phụ thuộc
bất cứ ai kể cả giữa vợ và chồng cùng với tình trạng ly hôn ngày một gia tăng thì
việc chia tài sản giữa vợ chồng là một yêu cầu hợp lý. Và vấn đề phải đảm bảo
quyền bình đẳng giữa vợ chồng là một nhiệm vụ cần thực hiện.
Trước tình hình thực tế về chia tài sản giữa vợ chồng trong những năm
qua mặc dù đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện
1
vợ chồng như luận văn tốt nghiệp cao học luật khóa I của Th¹c sü Hoàng Ngọc
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Huyên với nội dung “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình”
và gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005. Đây thực sự là những công trình có giá trị về
khoa học và thực tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu tập trung đi vào
phân tích những khía cạnh chế độ tài sản của vợ chồng theo luật HN&GĐ hiện
hành chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ bình đẳng giới. Chính vì vậy vấn đề
“Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân
và gia đình hiện hành” mặc dù đã được nghiên cứu và trình bày trong giáo trình
Luật HN&GĐ Việt Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội và trong các giáo
trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta, nhưng việc
trình bày đó chỉ dừng lại ở một số vấn đề mang tính nguyên tắc mà không đi sâu
vào giải quyết toàn diện vấn đề liên quan, đặc biệt là dưới khía cạnh bình đẳng
giới.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ quyền bình đẳng giữa vợ chồng
trong các trường hợp chia tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ Việt
Nam và đưa ra những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm
đảm bảo cho quyền bình đẳng đó được triệt để tuân thủ trong thực tế.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề
chia tài sản của vợ chồng dưới góc độ bình đẳng giới theo pháp luật Việt Nam.
Đề tài không bao gồm việc nghiên cứu những vấn đề chia tài sản của vợ chồng
có yếu tố nước ngoài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khãa luận nhất quán dựa trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí
mặt xã hội, mong muốn về những đặc điểm và năng lực xã hội coi là thuộc về
đàn ông hoặc thuộc về đàn bà (bé trai hay bé gái) trong một xã hội hay một nền
văn hóa cụ thể nào đó. Đó cũng là các mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới: ai
nên làm gì, ai là người ra quyết định, tiếp cận nguồn lực và các lợi ích. Thông
thường mọi người phải chịu rất nhiều áp lực buộc phải tuân thủ các quan niệm
xã hội này.
Đặc điểm giới và các mối quan hệ giới là các khía cạnh quan trọng của
một nền văn hóa bởi chúng quyết định lối sống trong một gia đ×nh, ngoài cộng
đồng và nơi làm việc. Điều quan trọng là – các xã hội, các nền văn hóa, vai trò
và mối quan hệ giới liên tục được tái tạo và thay đổi. Nó sẽ thay đổi theo thời
gian, chịu tác động của nhiều nhân tố: xã hội, kinh tế, pháp lý, chính sách và đời
sống dân sự. Trong tiến trình đó, một số giá trị được tái khẳng định như quyền
bình đẳng giữa vợ chồng, trong khi một số khác bị xem xét lại không còn phù
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hợp nữa. Và tất nhiên khi giới đã có sự bình đẳng thì trong quan hệ vợ chồng
cũng sẽ có xu hướng bình đẳng hơn.
1.1.2. Khái niệm giới tính
Giới tính là “những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với
giống cái”
(1)
“Giới tính là phạm trù chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và
phụ nữ, thể hiện các đặc điểm bẩm sinh mà khi con người sinh ra đã có. Ví dụ,
nam giới có thể làm thụ thai, nữ giới có thể sinh con và cho con bú”
(2)
Các đặc điểm giới tính là tự nhiên và là đặc điểm sinh học. Vì vậy, đặc
điểm đó sẽ là thống nhất (ở mọi nơi đều giống nhau) và không thể thay đổi (dù ở
châu Á hay châu Âu chỉ phụ nữ mới có thể sinh con). Từ những đặc điểm là tự
nhiên ấy của giới tính cũng đã ít nhiều chi phối sự bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng nói chung. Bởi lẽ, khi các yếu tố sinh học của giới tính tác
(3)
Bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được xem là một khía
cạnh của bình đẳng giới. Công nhận và bảo vệ quyền bình đẳng về việc chia tài
sản giữa vợ chồng bằng pháp luật là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền bình
đẳng về kinh tế giữa vợ và chồng trong thực tiễn. Đây cũng là cơ sở để phụ nữ
có thể tiếp cận, kiểm soát, tham gia và ra quyết định với nguồn lực kinh tế này.
1.2. Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Theo Khoản 1 §iều 8 Luật HN&G§ n¨m 2000 thì “Thời kỳ hôn nhân là
khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng kí kết hôn đến ngày
chấm dứt hôn nhân”.
(4)
Thời kì hôn nhân bắt đầu từ khi vợ chồng kết hôn và kết thúc khi hôn
nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn, do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố
là đã chết. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố
là đã chết thì hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án hoặc quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật.
Việc xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp đặc biệt: Nam nữ chung
sống như vợ chồng thì theo Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Luật
HN&G§ và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 35/2000 đã quy định như sau:
3
Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. “Giáo trình dành cho giảng viên về lồng ghép giới trong
hoạch định và thực thi chính sách”, Hà Nội 2004. Tr41
4
Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2002. Tr.13.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 sau đó họ mới đăng
Tr. 884
6
Bộ luật dân sự 2005. Điều 163. Tr.83
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Vật chính là đối tượng của thế giới vật chất có thể đáp ứng được nhu cầu
nào đó (vật chất) của con người, nằm trong sự chiếm hữu của con người và có
đặc trưng giá trị để con người sử dụng.
- Tiền và giấy tờ có giá được xác định là những loại tài sản có tính chất là
các phương tiện thanh toán có giá trị với con người.
- Quyền tài sản: Đây là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện
các quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tài sản. Đó là các quyền đòi nợ, quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hóa. Các quyền này phải giá trị được bằng tiền và có thể chuyển
giao trong giao lưu dân sự.
1.3.2. Khái niệm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Dưới góc độ pháp lý, tài sản của vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng bao gồm các quy định về
căn cứ xác lập tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản
chung, tài sản riêng, căn cứ thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của
vợ chồng.
Dưới góc độ pháp luật HN&G§ thì quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
được hiểu là quyền sở hữu đối với tài sản chung và quyền sở hữu đối với tài sản
riêng của vợ chồng.
Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng: Tài sản chung của vợ
chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản được tặng cho chung, được thừa kế
chung hoặc tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất
mà vợ chồng có sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng (Điều 27
thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn
nhân, đồ dùng tư trang cá nhân… (Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000). Vợ,
chồng có toàn quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng
của mình phù hợp với quy định của pháp luật. Vợ, chồng có quyền tặng, cho,
mua bán, trao đổi tài sản riêng của mình với bất cứ chủ thể nào một cách độc lập
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và bình đẳng. “Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối
tài sản chung”
(7)
.
Quyền “tự định đoạt” của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình chính
là sự bình đẳng mà pháp luật đã thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Nó cho phép
người có tài sản riêng nhập hay không nhập tài sản đó vào khối tài sản chung mà
không bên nào có quyền ép buộc bên nào. Mặc dù “Tài sản riêng của vợ, chồng
cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài
sản chung không đủ đáp ứng” (Khoản 4 Điều 33 LuËt HN&G§ n¨m 2000) thực
chất đã hạn chế quyền sở hữu tài sản riªng của vợ chồng, nhưng quy định đó
không làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của vợ chồng trong sở hữu tài sản
riêng vì nó nhằm đảm bảo nhu cầu đời sồng chung của gia đình.
1.3.3. Khái niệm chia tài sản của vợ chồng
Chia tài sản của vợ chồng theo Luật HN&G§ là tổng hợp các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành quy định về nguyên tắc phân chia, căn cứ phân
chia, phương thức ph©n chia cũng như hậu quả pháp lý của việc chia tài sản vợ
chồng nhằm đảm bảo nhu cầu và lợi ích chính đáng của các bên vợ chồng.
Chia tài sản của vợ chồng được xác định trong các trường hợp: Chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân; Chia tài sản khi ly hôn; Chia tài sản khi một
bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Ngoài ra luật còn quy
định một số trường hợp chia tài sản đặc biệt nhằm thỏa mãn yêu cầu và phù hợp
với thực tế cuộc sống khi giải quyết các vụ án liên quan đến vấn đề chia tài sản
2.2. Ý nghĩa về xã hội
Từ thực tế cuộc sống cho thấy, do bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng lạc
hậu, phong kiến nên vẫn tồn tại trong xã hội sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng. Sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệ
thuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của mình. Quyền bình
đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản được khẳng định và thể hiện là
một nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của người vợ, đẩy lùi tư tưởng
lạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bình
đẳng ở nước ta.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển theo hướng thị
trường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏ
tới vấn đề tài sản của vợ chồng. Đó là, khi họ muốn kinh doanh riêng cần phải
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sử dụng một phần tài sản chung mà không muốn ly hôn hay vì một lý do nào
khác thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản giữa vợ chồng là hoàn
toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn.
Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản là một trong
những cơ sở góp phần triển khai các chương trình bình đẳng về giới, tránh bạo
lực trong gia đình như: Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam đã phát động phong
trào “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, “Vì sự tiến bộ của phụ nữ”. Tất cả
những ý nghĩa xã hội đó đều hướng tới sự bình đẳng giữa vợ chồng, sự bình
đẳng trong xã hội – cái mà xã hội ta đang vươn tới.
3. Sơ lược sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng giữa
vợ chồng trong việc chia tài sản
3.1. Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản theo pháp
luật thời kỳ phong kiến
Trong cổ luật Việt Nam – ngay từ thời Lý – Trần (Thế kỉ XI – Thế kỉ
XIV) đã có quy định liên quan đến HN&G§ nhưng sử liệu ghi chép không toàn
diện nên rất khó cho việc tìm hiểu và nghiên cứu. Vì vậy, Bộ Quốc Triều Hình
Tuy nhiên, bên cạnh sự bất bình đẳng ấy thì chúng ta còn tìm thấy một số
quy định tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ
trong việc chia tài sản giữa vợ chồng. Về nguyên tắc, chỉ vợ chồng được xác
định là những chủ thể trong việc chia tài sản chung. Việc phân định thê điền sản,
phu điên sản và cho phép người vợ khi ly hôn có thể lấy lại thê điên sản được
coi là một bước tiến bộ đặc biệt của pháp luật thời kỳ này, quyền sở hữu tài sản
của người vợ đã được thừa nhận.
Điều 375 Bộ Quốc Triều Hình Luật quy định: “Tài sản của vợ chång làm
ra thì chia làm hai, vợ chồng mỗi người được một phần nếu một trong hai người
chết mà chưa có con”, và khi ly hôn thì người vợ giữ lại tài sản của mình, kể cả
những gì trước đây đã được chồng tặng… Đó là một quan điểm tiến bộ ghi nhận
sự bình đẳng tương đối trong hai bộ luật mang sắc thái Việt Nam thuần túy. Đó
cũng là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hướng nho và phong tục tập quán
dân tộc bản địa. Sự tiến bộ ấy là một trong những cơ sở quan trọng để hình
thành nên quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được quy định
trong pháp luật hiện hành.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.2. Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật
thời kỳ pháp thuộc
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Việt Nam là một nước thuộc địa nửa
phong kiến. Với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến thì nền kinh tế, xã hội
của đất nước luôn ở trình độ lạc hậu đi liền với những hủ tục đã ăn sâu từ nhiều
thế kỷ trước. Thực dân pháp và giai cấp địa chủ phong kiến đã lợi dụng chế độ
HN&GĐ phong kiến đang tồn tại ở nước ta để củng cố nền thống trị của chúng.
Sau khi đề ra chính sách “chia để trị” thực dân pháp đã tiến hành chia
nước ta làm ba miền với ba sự cai quản riêng: Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo hộ
của pháp, Nam kỳ là thuộc địa của pháp, cùng với đó thực dân pháp đã cho ban
hành ba bộ dân luật ở ba miền:
- Ở Bắc kỳ theo Bộ Dân Luật 1931
thống trị thì sự bất bình đẳng với người vợ là điều khó tránh khỏi.
3.3. Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật
thời kỳ từ Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay
3.3.1. Giai đoạn 1945 – 1954
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời, đồng thời với đó là sự ra đời của Hiến pháp năm 1946. Với tính chất là đạo
luật cơ bản tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật
khác nhau điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội, trong đó có các quan
hệ về HN&GĐ.
Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông
về mọi phương diện” nhưng vào thời điểm đất nước đang gặp khó khăn trong
tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” với ba thứ giặc tràn lan thì chúng ta chưa xây
dựng ngay được một văn bản Luật HN&GĐ để thể chế hóa quy định tại Điều 9
Hiến pháp năm 1946.
Đến năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh
quan hệ HN&GĐ, đó là Sắc lệnh 97- SL ngày 22/2/1950 về sửa đổi một số quy
lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159- SL ngày 17/11/1950 quy định
về vấn đề ly hôn. Một trong những nội dung của hai sắc lệnh này là phản ánh
nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” và nguyên tắc “ người chồng và người vợ có địa
vị bình đẳng trong gia đình”.
Rõ ràng đây là những quy định mới và tiến bộ trong pháp luật về
HN&GĐ đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc
hậu, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ khỏi chế độ đó, thúc đẩy sự phát
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Tuy nhiên cả hai sắc lệnh này vẫn chưa thể hiện đầy đủ và chặt chẽ về chế độ tài
sản cũng như vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng nên quyền bình đẳng giữa vợ
chồng trong việc chia tài sản cũng chưa được thể hiện một cách rõ nét.
3.3.2. Giai đoạn 1954 – 1975
phần nào tránh được việc kết hôn vì mục đích kinh tế. Tuy nhiên, điều này cũng
cho thấy việc quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm
1959 là chưa hoàn toàn phù hợp, chưa thể hiện được triệt để nguyên tắc vợ
chồng bình đẳng, đặc biệt là bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng.
Ở miền Nam, sau năm 1954 Đế Quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp
thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, tiến hành cuộc chiến tranh xâm
lược kiểu mới. Các văn bản pháp luật HN&G§ do Nhà nước tay sai phản động
của ngụy quyền Sài Gòn ban hành như:
- Luật Gia đình ngày 2/1/1959 (Luật số 1-59) dưới chế độ Ngô Đình
Diệm.
- Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 về Giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng.
- Bộ dân luật 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Cả ba văn bản pháp luật này tuy đã hủy bỏ chế độ đa thê song vẫn duy trì
quyền gia trưởng của người chồng. Những quy định về chế độ tài sản cũng chỉ
nghiêng về bảo vệ quyền lợi cho người chồng. Người vợ có toàn quyền quản lý
tài sản khi người chồng không thể bày tỏ ý chí được vì thất tung hoặc đi xa
vắng. Tuy về mặt quản lý tài sản thì người vợ không được bình đẳng như người
chồng nhưng khi ly hôn hoặc ly thân thì người vợ sẽ được nhận lại phần tài sản
riêng của họ (Điều 204, Dân Luật Sài Gòn). Và ngay cả trong khi hôn nhân đang
tồn tại thì cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chế độ biệt
sản, nhưng đều phải có lý do theo luật định và phải được Tòa án công nhận bằng
một án biệt sản. (Điều 165 - Dân Luật Sài Gòn).
Như vậy, vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập đến trong
những văn bản pháp luật này nhưng cũng còn rất khái quát, mờ nhạt, chưa thể
hiện được quyền bình đẳng giữa vợ chồng thậm chí vẫn là sự bất bình đẳng vốn
đã tồn tại lâu đời ở nước ta.
3.3.3. Giai đoạn 1975 – 2000
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi (30/4/1975), cả nước
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chia tài sản. Thể hiện ở quy định sự “chia đôi” tài sản của vợ chồng khi ly hôn
và việc chia tài sản, sử dụng, quản lý tài sản khi một bên vợ chồng chết. Điều đó
đã khẳng định đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giải phóng người phụ
nữ, là cơ sở pháp lý để Luật HN&G§ n¨m 2000 tiếp tục kế thừa, phát triển và
đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được thực hiện
trong thực tế đời sống hiện nay.
3.3.4. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1986, bước đầu quyền bình
đẳng giữa vợ chồng đã được khẳng định và thực thi. Tuy nhiên thực tiễn áp
dụng Luật HN&GĐ năm 1986 cho thấy những quy định còn mang tính khái
quát, định khung, chưa cụ thể. Việc áp dụng luật để giải quyết các tranh chấp từ
các quan hệ HN&GĐ đặc biệt là vấn đề chia tài sản vợ chồng gặp nhiều vướng
mắc. Tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta phải sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm
1986 một cách toàn diện. Theo đó, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 chính thức
thông qua dự luật HN&GĐ năm 2000 vào ngày 9/6/2000.
Luật HN&G§ năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật
HN&GĐ, nguyên tắc “vợ chồng bình đẳng” tiếp tục được khẳng định là nguyên
tắc cơ bản của Luật. Theo Luật này, việc chia tài sản của vợ chồng được quy
định ở các Điều 29, 30, 31, 32, 95. Ngoài sù ghi nhận việc chia tài sản của vợ
chồng khi ly hôn thì Luật còn quy định cả việc chia tài sản vợ chồng khi hôn
nhân đang tồn tại cũng như khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố
là đã chết. Hơn thế cách chia mà Luật HN&GĐ năm 1986 áp dụng còn quá
chung chung, chưa cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản cũng như phương thức chia
tài sản khi một bên vợ, chồng chết và khi vợ chồng ly hôn. Bởi vậy, quyền bình
đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo Luật HN&GĐ năm 2000 quy
định là phù hợp với thực tế, đáp ứng được nhu cầu, tâm lý của mỗi cá nhân trong
xã hội. Đã góp phần xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu của xã hội phong
kiến Việt Nam, xóa bỏ quyền gia trưởng, bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ
cũng như bảo vệ quyền bình đẳng cho cả hai vợ chồng khi chia tài sản trong thời
(10)
. Bình đẳng trước
pháp luật còn bao hàm cả nội dung bình đẳng nam nữ, bình đẳng vợ chồng. Đó
là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ tiến bộ của một xã hội
là mức độ giải phóng phụ nữ, giải phóng vị trí lệ thuộc của người vợ trong gia
đình.
1.1.2. Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật
Xuất phát từ Điều 57 Hiến Pháp năm 1992 công nhận: “Công dân có
quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Cụ thể hóa quyền này, Bé
Luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp và một số văn bản pháp luật khác đã quy định
cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh có các quyền như:
“thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, hình thức đầu tư, kinh doanh
những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Nền kinh tế thị trường mở ra nhiều
cơ hội làm giàu cho nhiều người, nhưng với sự vận động và những quy luật
riêng thì kinh tế thị trường đòi hỏi những người tham gia phải nắm bắt các cơ
hội, nhạy bén với thị trường và phải chủ động về vốn, có như vậy mới tồn tại
được. Do vậy, việc quy định của pháp luật HN&G§ về quyền bình đẳng trong
việc chia tài sản của vợ chồng để vợ chồng chủ động hơn trong việc tham gia
9
Hiến Pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2004, Tr.32.
10
Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến Pháp Việt Nam, Nxb Công An Nhân Dân 2004. Tr.283.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoạt động đầu tư, kinh doanh là hoàn toàn phù hợp với những quy định của Hiến
pháp, làm cho các quyền của công dân được thùc thi trong cuộc sống.
1.1.3. Nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội
Điều 63 Hiến pháp n¨m 1992 quy định: “Công dân nữ và nam có quyền
ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”. Đây là sự
1.2.2. Nguyên tắc quyền bình đẳng của vợ chồng
Điều 40 Bộ Luật Dân Sự năm 2005 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với
nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ
dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền
vững”
(11)
. Quy định đó đã thể hiện sự bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong
gia đình, cũng như phải có sự bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng. Có
như vậy thì mới xây dựng được một gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc và bền
vững. Đồng thời hạn chế được các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống vợ chồng
và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên.
1.3. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật HN&GĐ năm 2000
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng đã được quy định tại Điều 19 Luật
HN&GĐ năm 2000: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang
nhau về mọi mặt trong gia đình”. Có nghĩa vợ chồng không chỉ được bình đẳng
trong quan hệ nhân thân mà còn được bình đẳng trong quan hệ tài sản: chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt cũng như phân chia tài sản. Đây là nguyên tắc cơ bản
của Luật HN&GĐ, đã được Luật HN&GĐ năm 2000 kế thừa và tiếp tục phát
triển ngày một hoàn thiện hơn trên cơ sở của Hiến Pháp năm 1992 cũng như của
Bộ Luật Dân Sự và các Luật HN&GĐ trước đó. Nghiên cứu về quyền bình đẳng
giữa vợ chồng trong việc chia tài sản chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc chung về
quyền bình đẳng giữa vợ chồng.
2. Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong các trường hợp chia tài sản
11
Bộ Luật Dân Sự, Nxb Chính Trị Quốc Gia Hà Nội, 2006. Tr.24
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1. Quyền bình đẳng giữa vợ chồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân
2.1.1. Căn cứ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân