Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
PHầN Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết và mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài ngời với những công cụ bằng đồng, đá
cho đến những thành tựu khoa học kỹ thuật ngày nay là cả một quá trình phấn đấu,
tìm tòi phát triển không ngừng của mỗi con ngời trong xã hội. Các Mác đã nói
Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó còn con ngời thì tái sản xuất ra toàn bộ giới
tự nhiên.[1, tr.358] Quả thực nh vậy, vì hoạt động con vật chỉ phục vụ nhu cầu
trực tiếp của nó, còn hoạt động con ngời gắn liền với xã hội, phục vụ cho xã hội.
Nhng cũng phải nhận thấy rằng để sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên, con ngời phải
lao động để duy trì cuộc sống, phát triển xã hội và vì vậy con ngời chính là lực lợng
sản xuất chủ yếu, không có con ngời thì không có xã hội loài ngời.
Thực tế, chúng ta đều có thể nhận thấy là khi lao động sản xuất con ngời
luôn luôn phải đối mặt với tai nạn, rủi ro, bệnh tật, đe doạ đến cuộc sống, tính
mạng của con ngời. Để khắc phục đợc tình trạng đó, có rất nhiều biện pháp đề
phòng, hạn chế tai nạn rủi ro xảy ra, nhng đó là cha đủ bởi vị trí và tầm quan trọng
của con ngời nói riêng và xã hội loài ngời nói chung thì cần có những biện pháp
khác nữa để khắc phục hậu quả đó. Vì vậy, bảo hiểm con ngời đã ra đời. Bảo hiểm
con ngời giúp mỗi ngời khi tham gia ổn định cuộc sống, khắc phục khó khăn, tạo
ra chỗ dựa tinh thần để họ an tâm học tập, lao động sản xuất. Trong chiến lợc phát
triển kinh tế xã hội 2000-2010, Đảng và nhà nớc ta đã xác định tổ chức và vận
hành an toàn, hiệu quả thị trờng bảo hiểm trong nớc mở rộng quy mô và phạm vi
hoạt động, kể cả việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài.[2] Bảo hiểm nói chung, bảo
hiểm con ngời nói riêng đang đợc sự quan tâm của Đảng, nhà nớc và của toàn xã
hội.
Đối với nớc ta hiện nay là một nớc đang phát triển, vừa là thành viên của Tổ
chức thơng mại thế giới (WTO), cùng với việc các nớc tăng cờng hợp tác thì việc
phát triển kinh tế để hội nhập là tất yếu và vì vậy, vấn đề bảo hiểm con ngời càng
đợc quan tâm hơn bao giờ hết.
1
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Chơng 2: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng
bảo hiểm con ngời
Chơng 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con ngời.
Em xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc tới cô Vũ Thị Hồng Yến Giảng viên
khoa Luật Dân Sự - Trờng Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành
khóa luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy, cô giáo khoa Dân Sự cùng các
bạn sinh viên và sự động viên của gia đình trong suốt thời gian qua.
Với ý nghĩa là một đề tài khoa học khoá luận đòi hỏi nhiều kiến thức và
kinh nghiệm thực tế. Là sinh viên lần đầu tiếp xúc với đề tài khoa học nên không
thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận đợc sự thông cảm và những ý
kiến đóng góp, chỉ bảo của thầy cô giáo và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn!
3
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng
bảo hiểm con ngời
1.1. Một vài nét khái quát cơ bản về lĩnh vực bảo hiểm con ngời
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm con ngời
* Các nớc trên thế giới
Trớc hết, chúng ta phải khẳng định rằng, bảo hiểm con ngời ra đời do nhu
cầu khách quan của đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi. Đó là nhu cầu đợc bảo vệ, đợc
giúp đỡ, đợc chia sẻ hoạn nạn rủi ro khi tổn thất xảy ra. Trở lại với thời lịch sử xa
xa khi loài ngời sống bằng nghề săn bắt, hái lợm; ngay lúc đó, họ đã biết cách dự
trữ những con vật săn bắt đợc. Đến một giai đoạn phát triển khá hơn, con ngời biết
chăn nuôi trồng trọt, nhng sản xuất nông nghiệp rất bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào
tự nhiên và lúc đó nhà nông họ đã biết dự trữ lơng thực khi mất mùa.
Quả thật, những hành động dự trữ những con vật rồi cả lơng thực khi mất
mùa nó không mang tính đảm bảo chắc chắn cho cuộc sống nhng nó phần nào đã
thể hiện đợc ý thức đợc bảo vệ của con ngời. Và đây cũng là hình thức sơ khai của
bảo hiểm.
u. Chính các hình thức này là tiền thân của loại hình bảo hiểm con ngời ngày nay.
Do có một chiều dài lịch sử phát triển nên ngày nay Anh vẫn là một trong những
thị trờng bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới với các công ty bảo hiểm nhân thọ
xuyên quốc gia điển hình nh Prudential
ở Mỹ:
Bảo hiểm ở Hoa Kỳ đợc xây dựng trên mô hình bảo hiểm Anh. Vào năm
1735 công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Chaleston. Năm 1759 hội
nghị giáo hội trởng lão PhiladenPhia đã quyết định bảo trợ cho tập đoàn bảo hiểm
nhân thọ đầu tiên của Hoa Kì. Ngày 22-5-1761, tập đoàn này đã kí kết đợc HĐBH
nhân thọ đầu tiên với công chúng Mỹ. Mãi đến 80 năm sau dịch vụ bảo hiểm nhân
thọ Mỹ mới thực sự phát triển. Chìa khoá dẫn đến thành công chính là nhờ các
công ty bảo hiểm đã hạn chế đợc những sự chống đối từ các nhóm tôn giáo.
Năm 1835 ở New York đã xảy ra một vụ hoả hoạn đầy tai tiếng. Vụ hoả
hoạn này khiến ngời dân ở đây lu tâm nhiều hơn đến nhu cầu phải có nguồn dự trữ
5
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
để bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng không thể lờng trớc đợc. Hai năm sau
Massachusetts trở thành bang đầu tiên ở Mỹ sử dụng luật pháp buộc các công ty
phải tích luỹ nguồn dự trữ này.
Từ đó đến nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế ngành bảo
hiểm của nớc này cũng phát triển mạnh theo hớng từ một vài công ty ban đầu trở
thành ngành công nghiệp có quy mô lớn. Mặc dù bảo hiểm Hoa Kỳ chịu ảnh hởng
sâu sắc bởi vơng quốc Anh nhng thị trờng bảo hiểm nớc này lại phát triển theo h-
ớng có phần khác với Anh. Và ngày nay lĩnh vực bảo hiểm ở Mỹ phát triển nhất
thế giới.
* ở Việt Nam:
Luật KDBH 2000 ghi nhận thuật ngữ bảo hiểm con ngời, trớc đó trong
các nghị định, thông t ghi nhận thuật ngữ bảo hiểm nhân thọ mà không hề nhắc
đến khái niệm bảo hiểm con ngời. Vì vậy, chúng ta nghiên cứu sự phát triển của
bảo hiểm con ngời từ loại hình chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ cho đến Luật KDBH
không thể đáp ứng các nhu cầu của con ngời và các vụ tranh chấp sẽ xảy ra do
những quy định không rõ ràng của pháp luật. Từ thực tế đó, để đáp ứng nhu cầu
đảm bảo cho tơng lai của con ngời, Luật KDBH 2000 ra đời với mục đích để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy
mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển
bền vững của nền kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cờng hiệu lực
quản lí nhà nớc đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.[7] Nội dung chủ yếu và
quan trọng của luật là quy định về HĐBH (từ Điều 12 đến Điều 57), và cũng từ
luật này đã ghi nhận HĐBH con ngời (từ Điều 32 đến Điều 39). Với cha đầy 10
điều nhng luật đã có qui định về đối tợng, số tiền, quyền và nghĩa vụ của các bên,
các trờng hợp không trả tiền bảo hiểm trong HĐBH con ngời. Những điều khoản
này là căn cứ để ký kết và thực hiện HĐBH con ngời.
Khi có những cơ sở pháp lý để cho việc thực hiện HĐBH con ngời thì cũng
cần phải có đờng lối chiến lợc đúng đắn, để đáp ứng đợc yêu cầu đó Thủ tớng
Chính Phủ đã ra quyết định Quyết định 175 / 2003 về phê duyệt Chiến lợc phát
triển thị trờng bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu
bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân c, bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân đợc
7
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
thụ hởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế, thu hút các nguồn lực
trong nớc và nớc ngoài cho đầu t phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực tài
chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng
yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế.[9] Giải pháp đợc đề cập đến đó là: Nhà
nớc có chính sách khuyến khích ngời dân tham gia bảo hiểm nhân thọ, u tiên phát
triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu t dài hạn. Bảo hiểm con
ngời với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là chủ yếu đã, đang và sẽ đợc đợc chú trọng,
quan tâm của Đảng và Nhà nớc.
Sau khi luật KDBH ra đời chính phủ ban hành Nghị định 42/2001 NĐCP
ngày 1/8/2001nhằm quy định chi tiết thi hành Luật KDBH để các quy định này đi
vào cuộc sống.
thể trong HĐBH con ngời. Theo Điều 12 Luật KDBH thì HĐBH là sự thoả thuận
giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm theo đó bên mua bảo hiểm phải
đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ h-
ởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Rõ ràng Luật KDBH không chỉ quy định chung chung là DNBH phải trả
một khoản tiền cho bên mua bảo hiểm nh Bộ luật dân sự mà chỉ rõ DNBH phải trả
tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi nghiên cứu các quy định của
HĐBH con ngời trong các phân tích tiếp theo.
Khác với Việt Nam, Thái Lan là một nớc có nền kinh tế phát triển khá trong
khu vực nên lĩnh vực bảo hiểm cũng đợc chú trọng từ sớm. Các quy định của pháp
luật về bảo hiểm đợc quy định chủ yếu trong Bộ luật dân sự và thơng mại Thái
Lan. Ngay từ năm 1992 Thái Lan có đạo luật bảo hiểm nhân thọ nhằm điều chỉnh
hoạt động của công ty bảo hiểm nhân thọ. Do vậy nếu so sánh chúng ta sẽ thấy đ-
ợc điểm khác biệt trong các quy định về luật bảo hiểm giữa hai nớc.
Điều 861 Bộ luật dân sự và thơng mại Thái Lan có khái niệm: HĐBH là
hợp đồng trong đó một ngời đồng ý bồi thờng hoặc trả một số tiền trong trờng hợp
mất hàng hoặc xảy ra bất cứ sự cố nào trong tơng lai quy định trong HĐBH và ng-
ời kia đồng ý trả cho việc đó một số tiền gọi là phí bảo hiểm. Theo khái niệm trên
thì ở Thái Lan việc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra bất cứ sự cố nào trong tơng lai quy
định trong HĐBH (Việt Nam là khi có sự kiện bảo hiểm do các bên thoả thuận
9
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
hoặc theo quy định của pháp luật), nên phạm vi trả tiền bảo hiểm của Thái Lan mở
rộng hơn.
Đó là HĐBH còn HĐBH con ngời cũng là HĐBH nhng đối tợng của nó chỉ
liên quan đến tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn con ngời; vì thế theo tác giả:
HĐBH con ngời là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH để bảo
hiểm cho tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn của ngời tham gia bảo hiểm hoặc
ngời đợc chỉ định trong hợp đồng; theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo
DNBH khác nhau thì họ có quyền nhận đầy đủ các khoản tiền từ các DNBH đó
theo thoả thuận trong hợp đồng, chứ không bị giới hạn về giá trị thiệt hại giống
nh bảo hiểm tài sản.
Trong HĐBH con ngời cũng không áp dụng nguyên tắc thế quyền. Điều đó
có nghĩa là ngời bảo hiểm sau khi đã thanh toán, chi trả số tiền bảo hiểm, không đ-
ợc phép thế quyền ngời tham gia bảo hiểm hay ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm
để khiếu nại ngời thứ ba truy đòi số tiền bảo hiểm tơng ứng. Hay nói cách khác,
một ngời có thể đồng thời nhận nhận đợc khoản chi trả thanh toán của công ty bảo
hiểm và khoản bồi thờng của ngời thứ ba gây thiệt hại. Đặc điểm này mang lại lợi
ích cho khách hàng khi tham gia HĐBH con ngời
* Hợp đồng bảo hiểm con ngời đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau
của ngời tham gia bảo hiểm.
Trớc hết đặc điểm này thể hiện ngay trong các loại HĐBH, bởi mỗi đối tợng
của bảo hiểm con ngời: tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn đều có thể làm nên
một hợp đồng riêng và trong mỗi loại hợp đồng có nhiều sản phẩm khác nhau ví
dụ trong HĐBH nhân thọ thì có bảo hiểm sinh kỳ, tử kỳ,..
Không giống nh bảo hiểm tài sản chỉ góp phần khắc phục hậu quả khi đối t-
ợng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, bảo hiểm con ngời đáp ứng đợc rất nhiều mục
đích khác nhau của ngời tham gia bảo hiểm nh HĐBH hu trí sẽ đáp ứng yêu cầu
tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng. Bảo Việt - tập đoàn tài chính
bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Việt Nam đã ghi nhận mục đích của các sản phẩm bảo
hiểm hu trí là mang đến sức khoẻ và an nhàn cho tuổi già, đảm bảo khoản lơng h-
u ổn định cho tất cả mọi ngời, cả nguời đã có và cha có bảo hiểm xã hội. Thể hiện
11
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
lòng hiếu thảo đối với những ngời thân yêu hoặc quan tâm đến chính bản
thân.[23] Còn bảo hiểm tử kỳ sẽ giúp ngời tham gia bảo hiểm để lại cho gia đình
một số tiền khi họ bị tử vong. HĐBH tai nạn con ngời giúp ngời tham gia khắc
phục khó khăn khi gặp tai nạn. Chính vì đặc điểm này của HĐBH con ngời làm
cho hợp đồng này chiếm khối lợng lớn trên thị trờng bảo hiểm, thu hút nhiều ngời
* Theo hình thức bảo hiểm
HĐBH con ngời cũng đợc chia ra làm hai loại:
+HĐBH con ngời bắt buộc: Là hợp đồng mà theo pháp luật bắt buộc các đối
tợng phải tham gia ví dụ nh bảo hiểm tai nạn hành khách.
+HĐBH con ngời tự nguyện: Là hợp đồng mà theo đó ngời đợc bảo hiểm
hoặc ngời tham gia bảo hiểm có thể đa ra rất nhiều nhu cầu bảo hiểm, còn ngời
bảo hiểm có thể chấp nhận hay không chấp nhận là tuỳ theo sự thoả thuận và cam
kết. Tính tự nguyện khiến ngời bảo hiểm phải phục vụ tốt hơn, cung cấp các dịch
vụ tốt hơn đến khách hàng.
* Theo rủi ro bảo hiểm
HĐBH con ngời có các loại sau:
+HĐBH nhân thọ: Là hợp đồng bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro liên quan
đến tuổi thọ của con ngời và đợc chia ra làm các loại sau:
. HĐBH tử kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu ngời đợc bảo hiểm chết
trong thời hạn thoả thuận thì doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm
cho ngời thụ hởng.
. HĐBH sinh kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu ngời đợc bảo hiểm sống
đến hết thời hạn thoả thuận, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm
cho ngời thụ hởng.
. HĐBH hỗn hợp: Là loại HĐBH kết hợp cả hai loại nghiệp vụ bảo hiểm đó
là: bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ.
+HĐBH phi nhân thọ: Là loại hợp đồng chỉ liên quan đến các rủi ro nh
bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong. Đặc điểm này không liên
quan đến tuổi thọ của con ngời.
1.2.4. ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con ngời
13
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Để tồn tại và phát triển thì HĐBH con ngời phải đáp ứng đợc các mục đích
của ngời tham gia trong hiện tại cũng nh nhu cầu đảm bảo cho tơng lai sau này.
Thực tế khi ký kết HĐBH con ngời có vai trò không chỉ đối với ngời tham gia bảo
ngời làm công, việc này không những đảm bảo cuộc sống ổn định cho ngời lao
động mà còn tạo nên sự gắn bó giữa chủ sử dụng và ngời làm công ăn lơng (đây là
điều kiện thúc đẩy sản xuất).
Đó là đối với doanh nghiệp nói chung còn đối với DNBH nói riêng việc
tham gia HĐBH con ngời của khách hàng sẽ góp phần tăng doanh thu, mở rộng
quy mô hoạt động để cung cấp thêm nhiều sản phẩm cho con ngời. Đây là yếu tố
quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trờng cạnh
tranh nh ngày nay.
* Đối với sự phát triển kinh tế
Thông qua HĐBH con ngời (có đối tợng tham gia đông đảo) các nhà bảo
hiểm thu phí bảo hiểm để hình thành nên quỹ bảo hiểm. Quỹ này chủ yếu đợc sử
dụng vào mục đích bồi thờng, khi nhàn rỗi nó sẽ là nguồn vốn đầu t hữu ích góp
phần phát triển kinh tế.
Một đặc điểm nữa của hợp đồng bảo hiểm con ngời thờng là hợp đồng dài
hạn nên số vốn của các công ty bảo hiểm thờng rất lớn. Tính đến năm 2002 toàn
ngành bảo hiểm Việt Nam đã đầu t 8000 tỷ đồng vào sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân.[12, tr.10] Bên cạnh đó nếu chúng ta nhìn nhận từ khía cạnh con ngời
thì chúng ta không thể phủ nhận rằng con ngời là nhân tố phát triển kinh tế. Việc
tham gia hợp đồng bảo hiểm con ngời giúp cho mỗi ngời an tâm sản xuất phục vụ
cho sự phát triển kinh tế.
Cuối cùng HĐBH con ngời là công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn
tièn mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp nhân dân để thực hiện tiết kiệm góp phần chống
lạm phát.
* Hợp đồng bảo hiểm con ngời tạo cơ hội việc làm cho ngời lao động
Các DNBH ra đời cung cấp các sản phẩm đến ngời dân đồng thời tuyển
dụng ngời lao động vào làm việc. Thực tế hiện nay các DNBH trong nền kinh tế
thị trờng đang sử dụng số lợng lớn các đại lý tiếp thị bán sản phẩm. Theo số liệu
thống kê thì ở Mỹ có gần 2 triệu ngời lao động làm việc trong ngành bảo hiểm.
Hồng Kông 20.000 ngời làm việc ở các công ty bảo hiểm (dân số là 6 triệu ngời).
15
16
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Theo Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ của Hiệp hội bảo
hiểm Việt Nam có định nghĩa: doanh nghiệp ngời tham gia bảo hiểm là các tổ
chức cá nhân chuyển giao rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm, đóng phí bảo
hiểm. Vì vậy bên mua bảo hiểm có thể là tổ chức, cá nhân yêu cầu bảo hiểm và
đóng phí bảo hiểm để đảm bảo cho cuộc sống hiện tại cũng nh tơng lai sau này
(đó là sự đảm bảo cả về vật chất lẫn tinh thần).
Ngời đợc bảo hiểm
Theo khoản 7 Điều 3 Luật KDBH ngời đợc bảo hiểm là các tổ chức, cá
nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng đợc bảo hiểm theo hợp đồng bảo
hiểm. Ngời đợc bảo hiểm có thể đồng thời là ngời thụ hởng
Với khái niệm trên thì ngời đợc bảo hiểm trong HĐBH con ngời là chủ thể
có tính mạng đợc bảo hiểm theo hợp đồng. Khái niệm này cha thể hiện hết đợc các
đối tợng của HĐBH con ngời vì ngoài tính mạng còn có sức khoẻ, tuổi thọ, tai nạn
con ngời cũng là đối tợng của HĐBH con ngời.
Ngời đợc bảo hiểm có thể là những ngời đã trởng thành có đủ năng lực chủ
thể để tự ký hợp đồng cho mình và cũng có thể là những ngời cha đủ tuổi thành
niên phải do ngời khác (có thể là cha mẹ hoặc ngời giám hộ) đứng ra ký HĐBH.
17
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Ngời thụ hởng
Theo khoản 8 Điều 3: Ngời thụ hởng là các tổ chức, cá nhân đợc bên mua
bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con ngời. Khái
niệm này đã khẳng định rõ chủ thể là ngời thụ hởng chỉ có trong HĐBH con ngời,
còn HĐBH tài sản hay HĐBH trách nhiệm dân sự không có chủ thể này. Để có thể
là ngời thụ hởng thì điều kiện bắt buộc là phải đợc bên mua bảo hiểm chỉ định (thể
hiện ý chí chủ quan của bên mua bảo hiểm).
* Đối tợng của hợp đồng bảo hiểm con ngời
Theo khoản 1 Điều 31 Luật KDBH có nêu đối tợng của HĐBH con ngời
hợp sau đây:
a) Ngời đợc bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn hai năm, kể từ ngày
nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc từ ngày hợp đồng có hiệu lực;
b) Ngời đợc bảo hiểm chết hoặc bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn do lỗi cố ý
của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của ngời thụ hởng;
c) Ngời đợc bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.
Trong các hợp đồng có đối tợng là tuổi thọ, sức khoẻ.. con ngời đều đề cập
đến trờng hợp nếu xảy ra trờng hợp tử vong thì giải quyết quyền lợi nh thế nào. Có
quy định nh vậy là do tính mạng con ngời là vô giá không gì có thể bù đắp thay
thế đợc.
* Nội dung của hợp đồng bảo hiểm con ngời
Bao gồm các điều khoản mà thông qua đó các bên chủ thể thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình. Do HĐBH con ngời cũng là HĐBH nên theo Điều 13 Luật
KDBH nội dung của nó bao gồm các điều khoản chủ yếu sau:
Tên, địa chỉ của DNBH, bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm hoặc ngời
thụ hởng
Việc quy định này là rất cần thiết và đối với mỗi chủ thể nó có ý nghĩa khác
nhau. Đối với doanh nghiệp (tên, địa chỉ) thể hiện t cách pháp lý của doanh nghiệp
đã đợc pháp luật thừa nhận và bảo vệ cho hoạt động KDBH. Đối với các chủ thể
khác là điều kiện tiền đề để hợp đồng đợc thực hiện, đảm bảo quyền lợi của hai
bên.
Đối tợng của hợp đồng bảo hiểm con ngời
19
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Đây là yếu tố không thể thiếu của HĐBH nói chung và HĐBH con ngời nói
riêng. Nh trên chúng ta đã biết đối tợng của HĐBH con ngời là tuổi thọ, tính
mạng, sức khoẻ, tai nạn con ngời; ngời tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn các đối
tợng cho phù hợp với điều kiện và khả năng của mình để đạt đợc mục đích đảm
bảo cho cuộc sống, là chỗ dựa tinh thần nếu không may rủi ro xảy ra.
Số tiền bảo hiểm
Điều khoản bảo hiểm: Là điều khoản quy định các quyền và nghĩa vụ cơ
bản của các bên. Ngoài các điều khoản chính còn có các điều khoản bổ sung.
Theo Điều 17 và Điều 18 Luật KDBH quy định quyền và nghĩa vụ của
DNBH, bên mua bảo hiểm.
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
+Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:
a) Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng
Mục đích chính của KDBH là thu phí bảo hiểm để đảm bảo cho hoạt đông
sản xuất kinh doanh vì thế đây sẽ là quyền cơ bản của DNBH. Việc thu phí này là
cơ sở trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
b) Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên
quan đến việc giao kết và thực hiện HĐBH
Các thông tin của bên mua bảo hiểm là cơ sở để DNBH xem xét để đi đến
ký kết hợp đồng. Do những sự kiện bảo hiểm xảy ra trong tơng lai không ai có thể
biết đợc nên các thông tin mà bên mua bảo hiểm đa ra phải đầy đủ trung thực để
đảm bảo quyền lợi hai bên. Nếu có hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật
nhằm giao kết sẽ thuộc trờng hợp làm cho hợp đồng vô hiệu mà chúng ta nghiên
cứu ở phần sau.
c) Đơn phơng đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm con ngời theo các tr-
ờng hợp:
Khi bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật hoặc không thực
hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin (khoản 2 Điều 19).
Khi bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm vì có sự thay đổi
những yếu làm cơ sở để tính phí, dẫn đến tăng các rủi ro (khoản 2 Điều 20).
21
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Khi phí bảo hiểm đợc đóng nhiều lần mà bên mua bảo hiểm đã đóng một
lần hoặc một số lần mà ngời mua không thể đóng đợc các khoản phí bảo hiểm tiếp
theo sau thời hạn 60 ngày (khoản 2 Điều 35).
Luật liệt kê các trờng hợp này để đảm bảo quyền lợi cho bên mua bảo hiểm
tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thời hạn và quy định trong hợp
đồng.
c)Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Bên bảo hiểm phải trả tiền hoặc bồi thờng trong thời hạn đã đợc xác định
trong hợp đồng. Trong trờng hợp cha có thoả thuận về thời hạn trả tiền thì bên bảo
hiểm trả tiền đó trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bên bảo hiểm đã nhận đợc đầy
đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm. Quy định trong vòng 15 ngày để đảm
bảo mục đích khắc phục khó khăn và là chỗ dựa tinh thần cho ngời tham gia bảo
hiểm.
d) Giải thích bằng văn bản lí do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi
thờng
Khi nhận đợc thông báo này của DNBH, ngời tham gia bảo hiểm sẽ không
nhận đợc một lợi ích gì, mục đích tham gia của hợp đồng không còn. Thực tế diễn
ra có nhiều trờng hợp khách hàng bị từ chối trả tiền bảo hiểm trong khi nguyên
nhân không phải do họ. Vậy trờng hợp này giải quyết thế nào? Cho nên văn bản
giải thích của DNBH là cơ sở để xem xét các nguyên nhân thực tế xảy ra có đúng
không, tránh tình trạng bên bảo hiểm cố ý không trả tiền bảo hiểm.
e) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
+Bên mua bảo hiểm có quyền
a) Lựa chọn DNBH đang hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm
Đảm bảo cho ngời mua bảo hiểm đợc quyền lựa chọn các DNBH có mức
phí thấp nhất đối với cùng một loại sản phẩm bảo hiểm, lựa chọn các DNBH có uy
tín không cần phân biệt doanh nghiệp trong nớc hay nớc ngoài miễn là hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam. Ví dụ ở VN hiện nay có các DNBH nhân thọ lớn nh: Bảo
23
Khoỏ lun tt nghip Lờ Th Võn
Việt, Prudential, AIA là các doanh nghiệp trong nớc và nớc ngoài mà ngời dân
có quyền lựa chọn sao cho có lợi nhất cho mình.
cầu của DNBH. Yêu cầu này thông thờng đó là các chi tiết về đặc điểm, tính chất
của đối tợng bảo hiểm. Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng là trung thực tuyệt đối
nên nếu có hành vi gian dối trong việc kê khai sẽ là yếu tố làm cho hợp đồng
không đợc thực hiện.
c) Thông báo những trờng hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh
thêm các trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện HĐBH theo yêu cầu
của DNBH. Vì việc tăng rủi ro là cơ sở để DNBH tính lại phí bảo hiểm cho thời
gian còn lại của hợp đồng và việc thông báo này thể hiện tính trung thực của
khách hàng.
d) Thông báo cho DNBH về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận
trong HĐBH. Bên mua bảo hiểm phải thông báo kịp thời cho bên bảo hiểm biết
khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và phải thông báo một cách trung thực. Nếu qua thời
hạn đã đợc xác định trong hợp đồng kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm mà bên
mua bảo hiểm không thông báo về việc đó thì DNBH có quyền từ chối thực hiện
hợp đồng.
đ) áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của luật
này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Quy định này thể hiện trách
nhiệm của bên mua bảo hiểm, tránh tình trạng bên mua bảo hiểm cố ý không thực
hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất để đợc nhận tiền bảo hiểm trong khi
có thể hạn chế đợc các tổn thất này. Mục đích của quy định này vừa đảm bảo
quyền lợi cho DNBH vừa hạn chế các hành vi trục lợi bảo hiểm của khách hàng.
e) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Trong HĐBH con ngời điều khoản này đợc coi là phần loại trừ trong đó liệt
kê các trờng hợp bên bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm. Phần loại trừ này thông thờng đợc luật quy định trớc với mục đích tránh tr-
ờng hợp ngời tham gia bảo hiểm lợi dụng HĐBH con ngời để trục lợi cá nhân và
qua đó bảo vệ cho các DNBH.
25