Đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trogn hoạt động xây dựng pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 13

VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

ĐẢM BẢO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CNĐT: NGUYỄN VĂN ĐỘNG 8226

(CS&BVSKND), bình đẳng giới (BĐG), VH, giáo dục (GD), khoa học - công
nghệ (KH-CN), AN-QP, ĐN và đánh giá sâu sắc, khách quan, đầy đủ, toàn
diện thực trạng của việc vận dụng đó; xây dựng (XD) các giải pháp đảm bảo
yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PTBV và
hội nhập quốc tế (HNQT).
1.1.2. MỤC TIÊU CỤ THỂ CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong
HĐXDPL ở nước ta trong điều kiện đổi mới, PTBV và HNQT. Cụ thể là tìm
hiểu quan điểm PTBV của Liên hiệp quốc (LHQ), các tổ chức QT và của các
nhà khoa học (KH) trên thế giới; các quan điểm cơ bản của Đảng, NN và của

2
các nhà KH Việt Nam về PTBV và việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong
HĐXDPL; nghiên cứu làm rõ sự cần thiết khách quan của việc đảm bảo yêu
cầu PTBV trong HĐXDPL, lý luận về HĐXDPL của NN ta trong điều kiện
đảm bảo yêu cầu PTBV, như khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nội
dung, quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện đảm bảo,…
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề vận dụng lý lu
ận vào thực tiễn đảm bảo
yêu cầu PTBV trong HĐXDPL về các lĩnh vực KT, TC-NG, ĐĐ, MT, LĐ-
VL, ASXH, CS&BVSKND, VH, GD, KH-CN, AN-QP, ĐN nhằm thấy được
những đặc điểm chung và đặc điểm riêng về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc,
nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục lồng ghép nội dung PTBV vào các giai
đoạn của quá trình HĐXDPL về những lĩnh vực ấy; phân tích, đánh giá thực
trạng HĐXDPL trong t
ừng lĩnh vực đó xét từ góc độ đảm bảo yêu cầu PTBV
trên các mặt: mục tiêu, nội dung, quy trình, thủ tục, nhằm nêu ra những ưu
điểm, nhược điểm và thấy rõ được nguyên nhân khách quan, chủ quan của ưu
điểm, nhược điểm đó.
- Luận giải để XD nên một hệ thống các giải pháp cơ bản có tính khả thi

cho Hội thảo về PT và MT của Liên hiệp quốc và Diễn đ
àn toàn cầu hoá được
tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazin) (1992) và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về
PTBV tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002. Theo Brundtland, "PTBV là sự
PT thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đó là quá trình PTKT dựa vào
nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự
đa dạng sinh học và những hệ
thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của
con người, động vật và thực vật". Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm
này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố
sinh thái mà còn đi vào các nhân tố XH, con người, nó hàm chứa sự bình
đẳng (BĐ) giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm chí nó
còn bao hàm sự cần thiết phải giải trừ quân b
ị, coi đây là điều kiện tiên quyết
nhằm giải phóng nguồn TC cần thiết để áp dụng khái niệm PTBV. Như vậy,
khái niệm PTBV được đề cập trong Báo cáo Brundtland với một nội hàm
rộng, nó không chỉ là sự nỗ lực nhằm hoà giải KT và MT, hay thậm chí PT
kinh tế - xã hội (KT-XH) và bảo vệ môi trường (BVMT). Nội dung khái niệm
này còn bao hàm những khía cạnh chính trị - XH, đặc biệt là bình đẳng xã hội
(BĐXH). Với ý nghĩ
a này, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác
là "tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại.
Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự
quan tâm của toàn nhân loại (các tổ chức QT, tổ chức phi CP, đảng phái chính
trị, các nhà tư tưởng, các phong trào XH, và đặc biệt là giới KH với việc làm

4
dấy lên các tranh luận về khái niệm này mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ). Một
số quan điểm cho rằng khái niệm PTBV mới chỉ dừng lại ở cấp độ lý thuyết

các thành phố, 7. Tăng cường sự phối hợp QG, 8. Những vấn đề toàn cầu và các
mối quan ngại địa phương, 9. Con đường đi tới một tương lai bền vững. Trong
sách này, phần liên quan trực tiếp đến Đề tài là Chương 3. Khái niệm "thể chế" ở
đây được hiểu là "những quy tắc, tổ chức và các chuẩn mực XH tạo
điều kiện
cho sự phối hợp hành động của con người" (tr. 76). Tư tưởng xuyên suốt trong

5
Chương này là các thể chế phải bảo vệ được người dân trước những thách thức
là tăng trưởng KT nhưng không quan tâm đến bảo đảm tiến bộ xã hội (TBXH),
CBXH và cải thiện, nâng cao chất lượng và BVMT; các thể chế vừa phải ổn
định, vừa có tính năng động, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong
vòng 50 năm tới như đô thị hoá, đổi mới công nghệ, tă
ng trưởng KT, thay đổi về
giá trị XH và mức độ khan hiếm tài nguyên môi trường (TNMT) và tự nhiên, các
mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các QG; cần có thể chế mới để thích ứng với
những thay đổi đó. Cuốn sách nói chung, Chương 9 nói riêng, mặc dù không
trực tiếp đề cập những vấn đề tổ chức - kỹ thuật của việc lồng ghép nội dung
PTBV trong quá trình XDPL, nhưng đã đưa ra những đị
nh hướng tư tưởng quý
báu cho việc XDPL có chứa đựng nội dung PTBV ở các QG trên thế giới.
- Trong tác phẩm "Living with Environmenttall Change", Publishing house
Taylor & Francis, ISBN: 978041527224, hai tác giả là P. Mick Kelly và
Nguyen Huu Ninh Neil Adger cho rằng, Việt Nam và các nước quanh Việt
Nam ở Đông Nam Á đang gặp phải những thách thức đa dạng do quá trình
phát triển nóng đã tác động đến hệ thống KT, XH, MT và nguồn lực. Bằng
cách tiếp cận nghiên cứu đa ngành, các tác giả cuốn sách đã phân tích sâu tình
hình Việt Nam, xác định các yếu tố
định hình những ảnh hưởng và sự bàng
quang của quá trình hoạch định chính sách đối với sự thay đổi MT và cân

(2004) được giới học thuật đánh giá cao. Sách này đã phân tích một cách khá
chi tiết khái niệm PTBV và các kết quả của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về

PTBV tại Johannesburg. Công trình nghiên cứu này cũng đã nhấn mạnh đến
ba nền tảng cơ bản của PTBV ở mọi cấp độ và nỗ lực quyết tâm chung để
xóa đói, giảm nghèo, thay đổi mô hình tiêu dùng và sản xuất (SX) và QL, bảo
vệ nguồn TNTN. Đặc biệt, sách đã tập trung vào việc phân tích vấn đề PL và
PTBV trên bình diện QT ở sáu lĩnh vực được coi là phù hợp với yêu cầu
PTBV, đó là: PL về thươ
ng mại (TM), đầu tư và cạnh tranh, PL về nguồn
TNTN, PL về quyền con người và chống đói nghèo, PL về bảo vệ sức khỏe
(BVSK), PL về đa dạng sinh học, và PL về biến đổi khí hậu; b) Nhóm công
trình nghiên cứu thứ hai đi sâu vào phân tích yêu cầu PTBV trong việc XD và
thực hiện PL ở từng lĩnh vực chuyên biệt cụ thể trên bình diện QT hoặc ở
từng QG, đưa ra những kiến giải hướ
ng tới việc đảm bảo thực hiện yêu cầu
PTBV ở từng lĩnh vực cụ thể này. Trong số các công trình nghiên cứu đó phải
kể đến PL về sử dụng đất cho mục tiêu PTBV [Land use law for sustainable
development] do Nathalie J Chalifour, Patricia Kameri-Mbote, Lin Heng Lye
và John R. Nolon biên tập, Nxb. Đại học Cambridge, 2007, 652 tr.; PTBV
trong luật thương mại thế giới [Sustainable development in world trade law]
do Markus W. Gehring và Marie-Claire Cordonier Segger biên tập, Nxb.
Kluwer International, 2005, 735 tr.; PL bảo vệ rừng và vấn đề PTBV: sáng tỏ

7
những thách thức hiện tại từ hoạt động cải cách PL [Forest law and
sustainable development: addressing comtemporary challenges through legal
reform] của Lawrence C Christy và các cộng sự, Nxb.Ngân hàng thế giới,
2007, 256 tr.; PL về năng lượng và vấn đề PTBV [Energy law and sustainable
development] do Andrian J Bradbrook và Richard Ottinger biên tập do IUCN

ệp các Hội KH - kỹ thuật Việt Nam

8
thực hiện. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí PTBV của Brundtland và kinh
nghiệm các nước Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ
thể về PTBV đối với một QG là bền vững KT, bền vững XH và bền vững
MT, đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho
Việt Nam. Tiếp đến là "Quản lý MT(QLMT) cho sự PTBV" (2000) của Lưu
Đức H
ải và cộng sự, trong đó đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và
hành động QLMT cho PTBV. Công trình này đã xác định PTBV qua các tiêu
chí: bền vững KT, bền vững MT, bền vững VH; đã tổng quan nhiều mô hình
PTBV như mô hình 3 vòng tròn KT, XH, MT giao nhau của Jacobs và Sadler
(1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực KT, chính trị, hành chính, công nghệ,
QT, SX, XH của WCED (1987), mô hình liên hệ thống KT, XH, sinh thái của
Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu KT, XH, MT của World Bank. Chủ
đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội (KHXH). Trong
công trình "Đổi mới chính sách XH
(CSXH) - luận cứ và giải pháp" (1997),
tác giả Phạm Xuân Nam đã làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm PTBV:
PTXH, PTKT, BVMT, PT chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo
QT về PT. Bài "XH học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI" của tác giả
Bùi Đình Thanh (Tạp chí Xã hội học, 2003) cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản
về PTBV là chỉ báo KT, XH, MT, chính trị, tinh thần, trí tuệ, VH, vai trò của
phụ nữ và ch
ỉ báo QT. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một
điểm giống nhau là thao tác hoá khái niệm PTBV theo Brundtland. Tuy nhiên,
cũng cần nói thêm rằng những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích
ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương,
vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống XH vẫn chưa được làm

KH về MT và QLMT và PT. Ngoài các nội dung mang tính tổng luận chung
về vấn đề PTBV, sách dành một phần đáng kể phân tích vấn đề này trong bối
cảnh cụ thể của Việt Nam từ góc độ chính sách và QLMT. Đặc biệt, từ góc độ
QLMT, cuốn sách đã có những phân tích khá chi tiết (trang 437 - 475) về
hoàn thiện nội dung của pháp luật môi trường (PLMT)Việt Nam đảm bảo yêu
cầu PTBV. Tuy nhiên, c
ũng cần nhấn mạnh rằng, xét về phương diện luật
học, công trình nghiên cứu của PGS. TS Nguyễn Đắc Hy chỉ tập trung phân
tích về việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong việc XDPL về MT ở Việt Nam và
chưa có điều kiện phân tích yêu cầu này trong HĐXDPL ở các lĩnh vực quan
trọng khác. Ngay cả khi tập trung phân tích các yêu cầu về PTBV trong lĩnh
vực MT, cuốn sách này cũng chỉ đề cập đến khía cạnh n
ội dung của của các
quy định PL gắn với yêu cầu PTBV mà chưa nghiên cứu, phân tích, đánh giá
yêu cầu này gắn với các giai đoạn của quá trình XDPL về MT ở Việt Nam; 5)
Bộ khoa học và công nghệ (Bộ KH&CN). Dự án VIE/01/021. Kinh nghiệm XD
và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về PTBV của Trung Quốc (Tài liệu tham
khảo), tập thể tác giả, HN, tháng 10 năm 2003, 2003 tr. Sách nêu khó khăn của
Trung Quốc hiện nay là dân số tăng nhanh, thiếu tài nguyên và ô nhi
ễm MT; xác

10
định biện pháp ưu tiên để khắc phục tăng cường XD năng lực PTBV, đặc biệt là
tiêu chuẩn hoá việc thành lập các hệ thống CS, PL, các quy định và các chỉ số về
mục tiêu chiến lược; 6) Nguyễn Thị Hiên - Lê Ngọc Hùng, Nâng cao năng lực
PTBV. BĐG, giảm nghèo. Nxb. Lý luận chính trị, 2004, 235 tr. Các tác giả đề
xuất các giải pháp tạo dựng MT thể chế thuận lợi cho PTBV, trong đó đặc biệt
coi tr
ọng yếu tố PL (tr. 151 - 154); 7) CS, PL biển của Việt Nam và chiến lược
PTBV (Sách chuyên khảo), tập thể tác giả, chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Bá

tr. 11 - 17. Tác giả luận giải để kết luận rằng phải cải tiến công tác hệ thống
hoá PL, đặc biệt là pháp điển hoá ở nước ta hiện nay. Tuy vậy, tác giả còn
chưa đề cập vấn đề lồng ghép nội dung PTBV vào quá trình XDPL; 2) TS.
Nguyễn Minh Đoan, PL với việc khắc phục những mặt trái của nền KTTT,
Tạp chí Luật học, số 5/2006, tr. 30 - 35. Bên cạnh nhiều ưu thế, nh
ững điểm
tích cực, nền KTTT cũng có rất nhiều điểm hạn chế, những mặt trái cần được
khắc phục. Việc đi sâu phân tích vai trò của PL trong việc khắc phục những
mặt trái của nền KTTT có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm rõ một số phương
hướng cơ bản trong sự PT của PL hiện nay. Tác giả phân tích vai trò của PL
biểu hiện trên những khía cạnh chủ y
ếu như chống cạnh tranh không lành
mạnh, sự phân hoá giàu nghèo; chống các hành vi tiêu cực xâm hại quyền, lợi
ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và của NN; tránh tình trạng bất ổn định
của nền KT - XH hay sự PT mất cân đối, thiếu hài hoà; 3) ThS. Nguyễn Hiền
Phương, KTTT và yêu cầu hoàn thiện PL ASXH, Tạp chí Luật học, số 4/2006,
tr. 40 - 47. Sau khi đề cập những tác động của nền KTTT đối với vấn đề
ASXH, thực trạ
ng PL về ASXH Việt Nam hiện nay, tác giả phân tích một số
định hướng, quan điểm và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện PL về
ASXH nước ta: Hạn chế đến mức tối đa bất BĐXH, kết hợp hài hoà các CS
KT - XH, XH hoá, đồng bộ; cần pháp điển hoá PL về ASXH, đẩy mạnh chiến
lược phát triển bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, hoàn thiện PL về cứu trợ XH
(CTXH), xoá đói giảm nghèo…; 4) PGS.TS. Nguyễn Nh
ư Phát, Đưa PL
chống cạnh tranh không lành mạnh vào cuộc sống, Tạp chí Luật học, số
6/2006, tr. 29 - 35. Tác giả phân tích đặc điểm, tính chất, cơ cấu chung của PL
cạnh tranh, khả năng phi thông lệ của PL hiện hành; đảm bảo sự hài hoà,
tương thích giữa các luật có liên quan. Cơ chế xử lí hành vi cạnh tranh không
lành mạnh; 5) ThS. Bùi Thị Đào, Văn bản quy phạm(VBQPPL) trái PL và xử

quả của luật trong thực tiễn áp dụng. Sau khi đi sâu phân tích các nhóm nội
dung đổi mới đó, tác giả tập trung kiến giải các định hướng hoàn thiện luật
hình sự Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Các hướng chính được đề cập là:
thay đổi quan niệm về nguồn của luật hình s
ự, bên cạnh các loại tội phạm
thông thường được quy định trong BLHS, các tội phạm gắn liền với lĩnh vực
cụ thể như MT, TC, công nghệ thông tin… nên quy định trong chính các đạo
luật đó; thay đổi quan điểm về chủ thể của trách nhiệm hình sự; v.v ; 8) Viên
Thế Giang, Hoàn thiện PL về cạnh tranh của các tổ chức có hoạt động ngân
hàng trước yêu cầu thực hiện các cam kết QT, Tạp chí Lu
ật học, số 11/2007,
tr. 21 - 26. Tác giả đánh giá PL hiện hành về cạnh tranh của các tổ chức có
hoạt động ngân hàng trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO; phân
tích các nguyên tắc và các giải pháp hoàn thiện lĩnh vực PL này; 9) PGS.TS.
Đào Thị Hằng, Vấn đề LĐ, việc làm, thu nhập của người lao động khi Việt
Nam là thành viên của WTO và một số giải pháp hoàn thiện PL, Tạp chí Luật
học số 11/2007, trang 27 - 35. Phân tích cơ hội, thách thức v
ề vấn đề LĐ, VL
và thu nhập của người LĐ khi Việt Nam là thành viên WTO; hướng hoàn
thiện PL điều chỉnh lĩnh vực này trên một số khía cạnh cụ thể; 10) ThS. Trần

13
Thuý Lâm, PL ưu đãi xã hội (ƯĐXH) trong thời kì đổi mới và một số kiến
nghị, Tạp chí Luật học, số 5/2007, tr. 11 – 14, 33. Điểm lại quá trình PT của
PL về ƯĐXH từ thời điểm đổi mới đến trước và sau khi có Pháp lệnh ưu đãi
người có công năm 1994 đến nay, nêu một số kiến nghị hoàn thiện; 11)
Nguyễn Hiền Phương, Hoàn thiện PL về tr
ợ giúp XH (TGXH) trong HTPL
ASXH Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 11/2007, tr. 43 - 49. Theo tác giả, cần
hoàn thiện PL về TGXH theo những hướng chính như: cơ chế huy động


14
HĐXDPL; ngược lại, có nghiên cứu HĐXDPL nhưng cũng chưa gắn
HĐXDPL với PTBV.
1.3. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu Đề tài trở nên cấp thiết
bởi những lý do dưới đây:
Một là, PTBV đang là xu thế PT tất yếu của các QG trên thế giới nói
chung, của Việt Nam nói riêng mà bản chất, nội dung chủ y
ếu của nó là kết
hợp hài hoà, thống nhất giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH và bảo vệ,
cải thiện, nâng cao chất lượng MT. Sự bất cập trong PTKT, bảo đảm TBXH
và BVMT dẫn đến phá vỡ tính thống nhất hài hoà giữa ba thành tố tạo nên
khái niệm PTBV đó đã đẩy không ít nước đứng trước bờ vực thẳm. Ở nhiều
nước, nhất là các nước PT và
đang PT, mặc dù tốc độ PT KT của họ rất nhanh
mà người ta gọi đó là "nền KT nóng", nhưng họ đang phải gánh chịu nhiều
hậu qủa tai hại do chính họ gây nên như bất CBXH, nghèo đói, bệnh tật, tệ
nạn XH, gia tăng dân số, ô nhiễm MT, hiệu ứng nhà kính, tài nguyên kiệt quệ
và suy thoái, lũ lụt, hạn hán,…Chẳng hạn, Trung Quốc là nước có tốc độ tăng
trưởng KT nhanh nh
ất thế giới, Mỹ là nước có nền KT hùng mạnh nhất thế
giới nhưng cả hai nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức về XH và
có lượng khí thải gây ô nhiễm MT và gây hiệu ứng nhà kính nhiều nhất thế
giới. Theo Báo cáo phát triển Thế giới năm 2005 của Ngân hàng Thế giới
IMF, ESCAP, năm 2004, Trung Quốc có tốc độ tăng GDP là 8,5% so với năm
2000, nhưng thu nhập quốc dân bình quân đầu ng
ười thấp, mới chỉ là 5.530
theo tỉ giá USD theo sức mua tương đương
1

và PT công nghiệp tràn lan), 10% do tự nhiên. LHQ cũng công bố 10 nước
thải khí CO2 nhiều nhất vào bầu khí quyển làm phá vỡ tầng ô zôn gây hiệ
u
ứng nhà kính, trái đất nóng lên và băng tan ở Bắc cực, trong đó nổi bật nhất là
Mỹ (gần 2,8 tỉ tấn/năm), Trung Quốc (2,7 tỉ tấn/năm), Nga (661triệu
tấn/năm), Ấn Độ (583/năm), Nhật Bản (400 triệu tấn/năm),…Ngoài những
thảm hoạ ở trên, còn khoảng 20 - 30% các loài động thực vật sẽ bị diệt chủng,
nhiều cuộc tranh chấp về TNTN sẽ nổ ra, mùa màng th
ất bát, 500 triệu người
sẽ buộc phải rời bỏ quê hương, bản quán để di cư đến những vùng ít bị ảnh
hưởng bới biến đổi khí hậu,…
5

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, nhưng một trong những nguyên
nhân chủ yếu nhất là nhiều nước trên thế giới, khi hoạch định CS và XDPL
PTKT - XH đã không hoặc rất ít tính tới giải pháp bảo đảm kết hợp tăng
trưỏng KT với bảo đảm TBXH và BVMT. Cụ thể là họ không (hay rất ít) lồng
ghép yếu tố PTBV trong nội dung các chương trình, kế hoạch, CS, PL phát
triển KT - XH. Cũng có một vài nước, khi XD chính sách, PL cũng có đề
cập
yếu tố PTBV này nhưng không thực hiện đến nơi, đến chốn, không kiểm tra,
giám sát và đặc biệt là không có những biện pháp đủ mạnh để xử lý các
trường hợp phá hoại MTTN ảnh hưởng cuộc sống của con người. Đại hội X
của Đảng ta đã dự báo rằng, trong những năm sắp tới "Nhiều vấn đề toàn cầu
bức xúc đòi hỏi các QG và các tổ chứ
c QT phối hợp giải quyết: khoảng cách
chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia
tăng dân số cùng với các luồng di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng,
cạn kiệt tài nguyên, MT tự nhiên (MTTN) bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày
càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội

;
"Coi trọng việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ BVMT trong mọi hoạt động
KT, XH"
10
. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, QH đã ban hành nhiều đạo luật,
bộ luật về PT KT - XH và BVMT, trong đó có Luật BVMT ngày 29 - 11 -
2005. Đặc biệt, Thủ tướng CP đã ban hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg
ngày 17 - 8 - 2004 về Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương
trình nghị sự 21 của Việt Nam), trong đó nêu mục tiêu tổng quát PTBV ở
nước ta là "đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự
giàu có về tinh thần và VH, sự
bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của XH, sự hài hoà giữa con
người và tự nhiên; PT phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là
phát triển KT, phát triển XH và BVMT"; tám nguyên tắc PTBV là: coi con
người là trung tâm của PT, PTKT là nhiệm vụ trung tâm, bảo vệ và cải thiện
chất lượng MT phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình
phát triển, quá trình PT phải bảo đảm đáp
ứng một cách công bằng nhu cầu
của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương 6
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2006, tr. 74.
7
Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr. 162.
8
Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, sách đã dẫn, tr. 76.
9

phẩm và của cả nền KT tuy đã có bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; hiệu quả
đầu tư còn kém, chi phí sản xuất (SX) còn cao; SX và cung ứng điện chưa đáp
ứng kịp yêu cầu phát triển; công nghiệp gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công
nghiệp phụ trợ chưa có tiến bộ rõ nét. Cơ cấ
u KT chuyển dịch còn chậm";
"nhiều vấn đề XH bức xúc khắc phục còn chậm"; "Công tác bảo vệ môi
trường còn nhiều yếu kém. KT tăng trưởng cùng với quá trình đô thị hoá và
dân số tăng nhanh đã làm gia tăng ô nhiễm và gây áp lực lớn đối với MT
sống. Nhiều hệ thống sông, như sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải, sông Cầu,
sông Nhuệ, sông Đáy,…bị ô nhiễm nghiêm trọng; nhiều khu công nghiệp XD
trước đây v
ới công nghệ và máy móc lạc hậu, nhiều vùng khai thác khoáng

18
sản, làng nghề thủ công và khu đô thị bị ô nhiễm nặng, đang ở mức báo
động đỏ. Nhiều nơi, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ vẫn tiếp tục bị chặt
phá".
11
Một điều đáng lưu ý là Việt Nam là một trong những quốc gia sẽ chịu
những hậu qủa nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo nghiên cứu
của Tổ chức hợp tác và phát triển KT (OECD) thì thành phố Hồ Chí Minh
nằm trong danh sách những thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí
hậu (ngoài ra còn Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh,
Thượng H
ải, Quảng Châu của Trung Quốc, Bangkok của Thái Lan và
Yangon của Myanma). Báo cáo về phát triển con người năm 2007 - 2008 của
UNDP cho hay, nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2 độ C thì 22 triệu người
ở Việt Nam sẽ bị mất nhà ở và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long sẽ ngập chìm trong nước biển (biển lấy đất). Theo các
nghiên cứu gần đây của các nhà KH, bão, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn đang


19
nhà KH pháp lý nước ta, suy nghĩ và hành động như thế nào để góp phần vào
sự nghiệp PTBV của đất nước.
Ba là, trong thời gian qua ở nước ta, nội dung củaPL về KT, XH, VH, GD, KH
- CN, MT, AN-QP, ĐN chưa chứa đựng yếu tố PTBV, tức là chưa có sự kết hợp
chặt chẽ, thống nhất, hài hoà giữa tăng trưởng KT với bảo đảm TBXH và
BVMT. Nhìn chung, những VBQPPL về KT còn thiên về tăng trưởng nhanh KT
mà ít chú ý tớ
i vấn đề TBXH và chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến tính bền
vững khi khai thác và sử dụng TNTN và BVMT; các VBQPPL về chính trị, XH,
AN-QP đối ngoại cũng chủ yếu thiên về ổn định XH, giữ vững AN chính trị,
TTATXH, tăng cường phòng thủ đất nước, mở rộng quan hệ ĐN về chính trị
chứ chưa thật sự chú trọng tới yếu tố thúc đẩy tăng trưởng KT và bả
o vệ, cải
thiện, nâng cao chất lượng MT; các VBQPPL về BVMT lại chú trọng việc giải
quyết các sự cố MT, phục hồi suy thoái MT, mà chưa định hướng PT lâu dài
nhằm đáp ứng những nhu cầu tương lai của XH, đặc biệt còn ít quan tâm tới kích
thích, thúc đẩy sự PTKT và làm lành mạnh MT XH, TBXH. Bởi thiếu yếu tố
PTBV trong nội dung, cho nên nhìn chung, PL nước ta hiện nay vẫn chưa đảm
bảo được tính toàn diện, tính đồng bộ, tính KH, tính th
ực tiễn và tính bền vững,
dẫn đến khó khăn và nhiều bất cập trong thực hiện trên thực tế. Những khiếm
khuyết nêu trên trong nội dung của PL nước ta hiện nay xét trên phương diện
đảm bảo yêu cầu PTBV, đã và đang đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ không chỉ cho
các CQ, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trực tiếp XDPL, mà còn cho cả giới KH
nước nhà, trước hết và đặc biệt là giới KH pháp lý. Mọi ng
ười suy nghĩ và hành
động như thế nào để khắc phục có hiệu qủa những hạn chế trong nội dung của
PL?

oạn
của quá trình HĐXDPL. Sự bất cập trong HĐXDPL, xét trên phương diện
đảm bảo lồng ghép nội dung PTBV vào toàn bộ quy trình XDPL, cũng đang
đặt ra nhiệm vụ của KH pháp lý nước nhà phải làm gì và làm như thế nào để
cung cấp kịp thời và đầy đủ những luận cứ KH cho việc đổi mới, cải tiến nội
dung, hình thức, phương pháp, quy trình HĐXDPL và tổ chức thực hiện quá
trình HĐXDPL đã
được đổi mới, cải tiến đó, nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo
nội dung PTBV trong từng giai đoạn của quá trình HĐXDPL.
Năm là, công tác nghiên cứu KH pháp lý để cung cấp những luận cứ KH
cho việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL thời gian qua chưa được
quan tâm đúng mức và đầy đủ, dẫn đến sự chậm trễ trong việc cung cấp
những luận cứ KH cho Đả
ng, NN hoạch định đường lối, CS, PL về PTBV,
đặc biệt cho NN trong việc đổi mới, cải tiến nội dung, hình thức, phương
pháp, quy trình HĐXDPL và tổ chức thực hiện quá trình HĐXDPL đã được
đổi mới, cải tiến đó. Một trong những hạn chế lớn nhất trong nghiên cứu KH
ở trong và ngoài nước về PTBV và HĐXDPL thời gian qua là có nghiên cứu
PTBV nhưng chưa gắn PTBV với HĐXDPL; có nghiên c
ứu HĐXDPL nhưng
cũng chưa gắn HĐXDPL với PTBV. Nhiệm vụ của KH pháp lý hiện nay là
nghiên cứu phối hợp giữa PTBV với HĐXDPL, trong đó trọng tâm nghiêng

21
về nghiên cứu quá trình HĐXDPL gắn với PTBV, phục vụ cho PTBV. Nhiều
vấn đề quan trọng và cấp bách liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc kết
hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng KT, bảo đảm TBXH với BVMT trong
HĐXDPL còn chưa được làm sáng tỏ về mặt KH, từ nhận thức KH về vấn đề
PTBV, sự cần thiết, nội dung, hình thức, cơ chế, đi
ều kiện bảo đảm của việc

đây là những vấn đề cốt lõi cùng với mục tiêu nghiên cứu Đề tài quy định các

22
vấn đề mới về lý luận và thực tiễn mà Đề tài đặt ra cần nghiên cứu. Cũng cần
nói thêm rằng việc phân định các vấn đề lý luận và những vấn đề thực tiễn chỉ
mang ý nghĩa tương đối. Đảm bảo yêu cầu PTBV trong PTXH là đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành KH như triết học, KT học, XH học, luật học, MT
học,… Mỗi ngành KH xem xét vấn đề này t
ừ góc độ riêng của mình với các
phương pháp cụ thể đặc trưng cho ngành KH nhằm đạt được mục tiêu nghiên
cứu đã đặt ra. Luật học là một KHXH nghiên cứu vấn đề đảm bảo yêu cầu
PTBV cũng từ góc độ riêng của mình mà một trong những đặc trưng của góc
độ nghiên cứu ấy là gắn vấn đề được nghiên cứu với lĩnh vực PL, do đó, đối
tượng nghiên cứ
u của Đề tài là những vấn đề liên quan đến đảm bảo yêu cầu
PTBV trong lĩnh vực PL phục vụ việc PTBV của đất nước. Thế nhưng, đảm
bảo yêu cầu PTBV trong lĩnh vực PL lại là một vấn đề rất rộng và phức tạp
cần có nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu một cách toàn diện. Điều
này liên quan đến phạm vi nghiên cứu của Đề tài, theo đó,
Đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu vấn đề đảm bảo yêu cầu PTBV trong "HĐXDPL ở Việt Nam hiện
nay". Như vậy, việc nghiên cứu Đề tài sẽ được tiến hành không chỉ trong
phạm vi (giới hạn) nhất định của lĩnh vực hoạt động PL của NN mà còn trong
phạm vi (giới hạn) nhất định theo không gian và thời gian.

Trên cơ sở xác định rõ được đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài
như vậy, có thể thấy Đề tài đặt ra 3 vấn đề mới, cơ bản về lý luận và thực tiễn
cần nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, cơ sở lý luận của việc đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở
nước ta. Việc nghiên cứu những vấn đề này có giá trị to l

p độ riêng, theo quan niệm của
chúng tôi, là các giải pháp mang tính tổ chức - kỹ thuật XDPL được áp dụng
để lồng ghép nội dung PTBV vào các giai đoạn của quy trình XDPL (mà về
thực chất là các giai đoạn của quy trình XD các VBQPPL) và các thành viên
Đề tài sẽ phải tập trung nghiên cứu các giải pháp này.
1.5. CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT BA VẤN ĐỀ
CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1. CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI
Trong mục về tình hình nghiên cứu Đề tài, chúng tôi đã trình bày và đưa ra
kết luận rằng trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua, tuy đã có
nghiên cứu vấn đề PTBV nhưng chưa gắn PTBV với HĐXDPL; ngược lại,
cũng đã có nghiên cứu HĐXDPL nhưng cũng chưa gắn HĐXDPL với PTBV.
Do đó, có thể nói, cho tới nay trong KH pháp lý trong nước và ngoài nước,
đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL là một vấn đề hoàn toàn mới m

chưa được nghiên cứu. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề này như là một đề tài
KH độc lập ở cấp độ cao sẽ mang tính tổng thể, tính toàn diện, tính hệ thống,
tính thực tiễn và tính năng động hơn rất nhiều. Với lý do như vậy, cần có cách

24
tiếp cận chung và cách tiếp cận riêng từng vấn đề sau đây để việc nghiên cứu
Đề tài đạt được các mục tiêu đã đặt ra.
1.5.1.1. Cách tiếp cận chung đối với cả Đề tài
- Cách tiếp cận tổng thể, toàn diện và có tính hệ thống. Cách tiếp cận này
nhằm mục đích nghiên cứu kỹ lịch sử hình thành, PT, bản chất của quan điểm
PTBV với nộ
i dung là kết hợp tăng trưởng KT, bảo đảm TBXH với bảo vệ,
cải thiên, nâng cao chất lượng MT và đảm bảo yêu cầu PTBV trong
HĐXDPL trên thế giới và ở Việt Nam; nghiên cứu sâu sắc lý luận và thực
tiễn đảm bảo yêu cầu PTBV trong HĐXDPL ở ngoài nước và trong nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status