Pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ông cha ta có câu “Tấc đất tấc vàng”. Từ xưa đến nay, đất đai luôn là
nguồn tài nguyên vô cùng quý giá cần được bảo vệ và quản lý. Hiến pháp
năm1992 quy định : « Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả » (Điều 18).
Cụ thể hoá quy định này, Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993 và Luật
đất đai năm 2003 đều có các quy định về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở
nước ta. Hệ thống cơ quan quản lý đất đai được thành lập theo 4 cấp đơn vị hành
chính : cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Chính phủ và UBND các
cấp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước và từng
địa phương. Bên cạnh đó, hệ thống cơ quan quản lý đất đai chuyên ngành cũng
được thành lập theo 4 cấp đơn vị hành chính có nhiệm vụ tham mưu, giúp Chính
phủ và UBND các cấp thực hiện tốt chức năng quản lý đất đai. Kể từ năm 1986
đến nay, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai không ngừng được củng
cố và kiện toàn đã góp phần đắc lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, đưa công
tác quản lý đất đai đi vào nền nếp;
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lý đất
đai vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như tình trạng chồng chéo trong quản lý, nạn
tham nhũng... mà một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là hệ
thống cơ quan quản lý đất đai được tổ chức chưa hợp lý, cồng kềnh, hoạt động
chưa hiệu quả. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý đất
đai trong điều kiện tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đặc biệt là
khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO). Đây là lý do để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thực
trạng hệ thống cơ quan quản lý đất đai; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp
nhằm củng cố và hoàn thiện để hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta có đủ
khả năng hoàn thành nhiệm vụ mà đất nước đã giao phó. Với ý nghĩa đó, em lựa
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, khoá luận đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, đánh giá, bình luận; phương pháp so
sánh luật học; phương pháp tổng hợp; phương pháp lịch sử v.v trong quá trình
nghiên cứu đề tài.
5. Kết cấu của khóa luận
Bố cục của đề tài gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung, phần
kết luận. Trong đó phần nội dung là phần quan trọng nhất chứa đựng các vấn đề
cơ bản của khoá luận được chia làm 3 chương
Chương I: Tổng quan những vấn đề lý luận về hệ thống cơ quan quản lý
đất đai ở nước ta.
Chương II: Pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta
Chương III: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hệ thống
cơ quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay
Là một sinh viên lần đầu tiên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học
nên không tránh khỏi những khó khăn, bỡ ngỡ . Hơn nữa, do sự hạn chế về thời
gian, nguồn thông tin, tài liệu tham khảo và sự hạn chế về khả năng bản thân;
nên mặc dù đã rất cố gắng trong nghiên cứu song Khoá luận vẫn không tránh
khỏi những hạn chế, thiếu xót; tác giả vô cùng cảm ơn mọi ý kiến đóng góp của
thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên cùng những ai quan tâm đến đề tài này
để nội dung của bản Khoá luận được ngày càng hoàn thiện hơn.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1. Sự cần thiết của việc Nhà nước quản lý đất đai
1.1. Vị trí và vai trò của đất đai với con người
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành quả đấu tranh dựng

ý nghĩa khẳng định chủ quyền, tính độc lập và toàn vẹn lónh thổ quốc gia. Mặt
khác, hiện nay nước ta còn khoảng gần một nửa diện tích đất chưa sử dụng
(khoảng 10.027.265 ha), chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc. Việc xác lập đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý cũn là cơ sở để Nhà
nước xây dựng các chương trình và kế hoạch cụ thể nhằm từng bước đưa diện
tích đất này vào sử dụng góp phần phát huy tiềm năng, thế mạnh của đất đai với
vai trò là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước;
Với vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng như vậy, đất đai luôn đòi hỏi phải
có sự quản lý chặt chẽ, thống nhất và đồng bộ nhằm bảo đảm SDĐ đúng mục
đích, tiết kiệm và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Nhà nước quản lý đất đai
Luật đất đai 2003 đã quy định rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu. Vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai được thực hiện
bằng việc Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua
các chính sách tài chính về đất đai; trao quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho người
SDĐ thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ đối với người
SDĐ ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người SDĐ … Việc Nhà nước
quản lý toàn bộ vốn đất đai dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, xét về bản chất chính trị, Nhà nước ta (Nhà nước CHXHCN
Việt Nam) là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân. Về cơ bản, lợi ích của Nhà nước là
đồng nhất với lợi ích của nhân dân. Mặt khác ở nước ta đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, để quản lý toàn bộ vốn đất đai thuộc quyền sở hữu của mình, nhân dân
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với tư cách một cộng đồng xã hội không thể tự mình đứng ra thực hiện các nội
dung cụ thể của hoạt động quản lý đất đai mà phải cử người thay mặt mình đứng
ra làm nhiệm vụ này. Người đó chính là Nhà nước CHXHCN Việt Nam ;
Thứ hai, xét về nguồn gốc ra đời và chức năng của Nhà nước, Nhà nước là

vốn đất đai như ngày nay. Mặt khác, Việt Nam vẫn còn là nước chậm phát triển
« đất chật, người đông » ; diện tích đất canh tác bình quân một đầu người vào
loại thấp trên thế giới (chưa bằng 1/6 mức trung bình của thế giới), trong khi đó
tốc độ phát triển dân số ở mức cao. Vì vậy để quản lý chặt chẽ, khai thác, sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả đất nông nghiệp vì lợi ích của các thế hệ người Việt
Nam hiện tại và tương lai thì không thể thiếu được sự quản lý của Nhà nước đối
với đất đai nói chung và đối với đất nông nghiệp nói riêng ;
Thứ sáu, đối với một nước nông nghiệp có khoảng 80% dân số làm nông
nghiệp như nước ta. Để xây dựng và củng cố quyền lực của nhà nước trung
ương tập quyền thì Nhà nước phải nắm và quản lý được toàn bộ đất đai. Đây là
cơ sở kinh tế đảm bảo sự thống nhất, tập trung quyền lực vào tay chính quyền
trung ương.
1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
1.3.1. Khái niệm
Theo Từ điển Luật học: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền
lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn
định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi;
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động
của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một
thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý
hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế
của Nhà nước »
1
;
Trên cơ sở khái niệm về quản lý nhà nước nói chung được đề cập trên
đây, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học đã đưa ra khái niệm về quản lý đất
đai và quản lý nhà nước đối với đất đai cụ thể như sau:
- "Quản lý đất đai là hoạt động bao gồm việc thiết lập các cơ chế, các
chính sách và các công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và việc vận hành cơ
1

Thứ ba, phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai là lãnh thổ
của từng cấp đơn vị hành chính và toàn bộ vốn đất đai nằm trong đường biên
giới quốc gia. Hoạt động quản lý nhà nước về đất đai mang tính vĩ mô thể hiện ở
việc xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách về quản lý và SDĐ chứ không
hướng vào các hoạt động SDĐ mang tính tác nghiệp cụ thể.
2. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta
2
Trường Đại học Luật Hà Nội: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp
quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội -1999, tr.54.
3
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc tế), Sdd, tr.54.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Theo Từ điển tiếng Việt, hệ thống được hiểu là: “Tập hợp nhiều yếu tố,
đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt
chẽ, làm thành một thể thống nhất”
4
;
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ra đời gắn liền với sự xuất
hiện của một hình thức quản lý đất đai của con người: Quản lý nhà nước về đất
đai. Hệ thống cơ quan này được Nhà nước thành lập và bằng pháp luật, Nhà
nước quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm giúp Nhà
nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong cả nước theo quy hoạch, kế
hoạch chung. Tuy nhiên, hiện nay khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai chưa được các sách từ điển luật học, sách giải thích thuật ngữ luật học
ở nước ta định nghĩa một cách chính thống. Vì vậy nghiên cứu, tìm hiểu các quy
định về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan
quản lý nhà nước về đất đai và dựa trên khái niệm về hệ thống dưới góc độ ngôn
ngữ, chúng ta có thể quan niệm về hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai

ở nước ta: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; Luật
đất đai 2003, xác định rõ thẩm quyền của cơ quan đại diện cho nhân dân là Quốc
Hội và HĐND các cấp (HĐND cấp tỉnh, HĐND cấp huyện, HĐND cấp xã)
trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Các cơ quan
này không làm thay chức năng quản lý nhà nước về đất đai của cơ quan quản lý
mà tham gia hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với tư cách giám sát. Hoạt
động giám sát của Quốc hội và HĐND các cấp trong lĩnh vực quản lý đất đai
được thực hiện thông qua các phương thức chủ yếu sau đây:
- Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch
SDĐ của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và SDĐ
trong phạm vi cả nước;
- HĐND các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất
đai tại địa phương (khoản 1, 2 Điều 7 Luật đất đai năm 2003);
2.2.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền chung
Với chức năng quản lý Nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
(trong đó có lĩnh vực quản lý đất đai), Chính Phủ và UBND các cấp có vai trò
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rất quan trọng trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Theo
đó:
- Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch SDĐ của tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch SDĐ vào mục đích quốc phòng, an
ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước;
- UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản
lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này
(khoản 2, 4 Điều 7 Luật đất đai năm 2003);
2.2.3. Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được thành
lập thống nhất từ trung ương đến địa phương theo 4 cấp đơn vị hành chính: (i)
Cấp trung ương: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở trung

về tài nguyên và môi trường.
2.2.4. Các tổ chức dịch vụ công trong quản lý về SDĐ
Tổ chức sự nghiệp công và tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai là
những khái niệm lần đầu tiên được đề cập trong Luật đất đai năm 2003. Các tổ
chức này ra đời nhằm phúc đáp yêu cầu của công cuộc cải cách các thủ tục hành
chính trong quản lý và sử dụng đất; góp phần đẩy nhanh sự hình thành thị
trường bất động sản (BĐS) có tổ chức và làm "lành mạnh hóa" các giao dịch
liên quan đến BĐS. Hơn nữa, sự ra đời của tổ chức sự nghiệp công và tổ chức
dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai đánh dấu sự chuyển đổi nền hành chính công
mang nặng tính chất quan liêu "cai trị, quản lý" sang nền hành chính mang tính
chất gần dân, tính chất "dịch vụ, phục vụ";
Khái niệm tổ chức sự nghiệp công được Luật đất đai năm 2003 định nghĩa
như sau: "Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng
thực hiện các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả" (khoản 28
Điều 4). Với quan niệm này thì Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (Văn
phòng ĐKQSDĐ) là cơ quan dịch vụ công có chức năng tổ chức thực hiện đăng
ký sử dụng đất và biến động về sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính và giúp cơ
quan tài nguyên và môi trường trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản
lý, sử dụng đất đai; Việc Văn phòng ĐKQSDĐ ra đời với chức năng, nhiệm vụ
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được xác định cụ thể trên đây chính là Nhà nước đã xác lập mô hình "một cửa"
thực hiện cải cách các thủ tục hành chính về đất đai; giúp cho cơ quan quản lý
nhà nước về đất đai giảm áp lực từ nhu cầu thực hiện các thủ tục về đất đai từ
phía người dân và xã hội;
Bên cạnh đó, một loạt các tổ chức mới có một trong những chức năng là
thực hiện dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp ... trong lĩnh vực đất đai được
Luật đất đai năm 2003 cho phép thành lập; đó là: Tổ chức phát triển quỹ đất và
tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai;

năm chống thực dân Pháp. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,
miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,
miền Nam tiếp tục đấu tranh thống nhất đất nước. Thời kỳ đó, ở miền Bắc, Nhà
nước chú trọng ưu tiên quản lý đất nông nghiệp nhằm góp phần thực hiện phong
trào "hợp tác hóa". Tổng cục khai hoang được thành lập nhằm chỉ đạo và quản
lý diện tích đất khai hoang. Đất canh tác được giao cho Bộ Canh nông, sau này
là Bộ Nông nghiệp quản lý. Các loại đất khác như đất xây dựng, đất ở, đất lâm
nghiệp v.v được giao cho các bộ, ngành khác nhau quản lý: Bộ Quốc phòng
quản lý đất quốc phòng, Bộ Xây dựng quản lý đất xây dựng và đất ở, Bộ Lâm
nghiệp quản lý đất lâm nghiệp. Tiếp đó để tăng cường công tác quản lý ruộng
đất trong cả nước, ngày 1/7/1980 Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban
hành Quyết định số 201/CP; theo đó, giao Tổng cục Quản lý ruộng đất chịu
trách nhiệm quản lý đất nông nghiệp. Các loại đất khác vẫn do các bộ, ngành
chức năng quản lý, sử dụng;
Luật đất đai năm 1987 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thống nhất
quản lý đất đai và giao nhiệm vụ này cho Tổng cục Địa chính. Hệ thống cơ quan
quản lý nhà nước về đất đai được thành lập thống nhất từ trung ương xuống địa
phương bằng việc thành lập Tổng cục Địa chính vào năm 1991. Ở các tỉnh, Ban
quản lý ruộng đất hoặc Sở Đo đạc và quản lý ruộng đất được thành lập. Các cơ
quan quản lý đất đai cũng được thành lập ở hầu hết các huyện trong cả nước.
Đội ngũ cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn cũng được thành lập với nhiệm vụ
giúp UBND cấp xã thực hiện công tác quản lý nhà nước ở cơ sở;
Tiếp đó, Luật đất đai năm 1993 ra đời ngày 14/7/1993 thay thế cho Luật
đất đai năm 1987 đã quy định rõ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và những nội dung cụ thể của quản lý nhà nước về đất đai. Trên cơ sở đó, hệ
thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai tiếp tục được củng cố và kiện toàn;
đặc biệt ở cấp địa phương: Ở cấp tỉnh, Sở Địa chính được thành lập; ở cấp huyện
Phòng Địa chính hoặc bộ phận quản lý đất đai nằm trong Phòng Nông - Lâm

15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chớnh phủ về chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Như vậy, so với giai
đoạn trước đây một ngành mới được thành lập ở nước ta; đó là ngành tài nguyên
và ra đời. Việc ra đời ngành tài nguyên và môi trường nhằm tách bạch rạch ròi
giữa chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường với chức năng sử
dụng các thành phần của tài nguyên và môi trường; đồng thời, gắn kết và lồng
ghép sự quản lý tổng hợp vấn đề đất đai với vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát
triển bền vững. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành tài nguyên và môi
trường được mở rộng hơn so với ngành địa chính trước đây: Ngành tài nguyên
và môi trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai mà còn
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ. Hơn nữa, hệ thống cơ
quan tài nguyên và môi trường còn được kiện toàn, củng cố ở cấp địa phương:
(i) ở cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường được thành lập trên cơ sở Sở Địa
chính và sát nhập bộ phận bảo vệ môi trường từ Sở Khoa học, Công nghệ và
môi trường sang; (ii) Ở cấp huyện, thành lập mới Phòng Tài nguyên và Môi
trường trên cơ sở Phòng Địa chính hoặc Phòng Địa chính - Nông, lâm nghiệp
hoặc Phòng Địa chính - Xây dựng; (iii) Ở cấp xã, đội ngũ cán bộ địa chính xã
được củng cố và kiện toàn về vị trí, vai trò; theo đó, cán bộ địa chính cấp xã là
công chức cấp cơ sở, là cán bộ chuyên môn giúp UBND cấp xã quản lý nhà
nước về đất đai ở địa phương. Cán bộ địa chính cấp xã do Chủ tịch UBND cấp
huyện bổ nhiệm và miễn nhiệm;
Bên cạnh đó, cỏc cơ quan dịch vụ về đất đai cũng được thành lập với
nhiệm vụ giúp cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trong việc giải quyết các thủ
tục hành chính về đất đai của người dân và phúc đáp các yêu cầu của xã hội về
thực hiện dịch vụ liên quan đến lĩnh vực đất đai;
Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam đang hoạt
động tương đối hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số vấn đề chưa được

Bộ phận quản lý đất đai, tài nguyên ở chính quyền các cấp phụ trách công
tác quản lý đất đai, tài nguyên trong địa hạt hành chính cấp đó.
4.2. Khái quát về mô hình hệ thống cơ quan quản lý đất đai của Cộng hòa
liên bang Đức
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cộng hoà liên bang Đức tồn tại hai hình thức sở hữu đất đai: (i) Đất đai
thuộc sở hữu tư nhân chiếm 95% diện tích đất đai, trong đó thành phần chính là
đất nông nghiệp. Tuy nhiên quyền sở hữu cũng có hạn chế quy định việc sử
dụng đất phải tuân thủ quyền lợi của quốc gia; (ii) Diện tích đất còn lại thuộc sở
hữu Nhà nước chủ yếu là đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng, đất nhà thờ, đất
của các công trình giáo dục;
Mô hình hệ thống cơ quan quản lý Đất đai ở Đức rất khác với Việt Nam
với hai hệ thống cơ quan chính là Toà án hành chính các cấp và Cơ quan quản lý
đất đai;
- Về cơ quan quản lý đất đai thì không có sự thống nhất chung trên toàn
đất nước mà ở mỗi bang lại có các cơ quan quản lý khác nhau, có nơi là UBND
(vùng Baravia), có nơi là Hội đồng Nhân dân quận và thành phố (Nhiznhei
Sacsonhi) ...;
- Về toà án hành chính các cấp thì ở Đức thành lập Toà án Nông nghiệp
bao gồm Chánh án toàn án và hai luật sư về các vấn đề chung. Nhiệm kỳ của
Chánh án Toàn án Nhân dân Tối cao về đất đai được ấn định trong thời gian 4
năm (Toà án Nhân dân Tối cao của Liên bang về đất đai được coi là cấp bậc thứ
2 ở Cộng hoà Liên bang Đức). Trong quá trình làm việc của mình, những luật sư
về nông nghiệp điều hành công việc bằng các chính sách, pháp luật hiện hành,
Luật dân sự, và các điều khoản trong Hiến pháp dân sự của Cộng hoà Liên bang
Đức
4.3. Khái quát về mô hình hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở Vương quốc
Thái Lan
Đất đai ở Thái Lan được chia làm bốn loại chính: (i) Đất rừng do Cục

lý theo hệ thống liên ngành. Có rất nhiều các cơ quan ở nhiều lĩnh vực khác
nhau đồng thời tham gia quản lý:
- Tổng cục thuế quản lý về thuế đất đai và địa chính. Địa chính là công
việc thuộc hành chính quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng. Nó định giá các
tài sản trên đất, kiểm kê biến động thuế đất, xác định cơ sở đánh thuế. Về nhiệm
vụ pháp lý và đất đai của địa chính chủ yếu nhất là nhiệm vụ thông tin dựa trên
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp vụ chuyên môn về công tác đo đạc và xây dựng các loại bản đồ lớn, nhỏ.
Hiện nay, Pháp đã dần hình thành một hệ thống lưu trữ địa chính có tính chính
xác cao và dễ tiếp cận, khai thỏc thụng tin, cơ sở dữ liệu;
- Cơ quan quốc gia thực hiện nhiệm vụ xõy dựng, quản lý quy hoạch; lập
quy hoạch phát triển đất đai;
- Viện địa lý quốc gia thực hiện việc đo đạc, lập bản đồ;
- Sở Đất đai quản lý việc đăng ký đất đai công khai;
- Sở quản lý tài sản thế chấp quản lý về việc thế chấp đất vay vốn;
- Trung tâm thông tin đất đai và thuế có chức năng quản lý, cung cấp
thông tin về đất đai, địa chính và thuế;
4.5. Bài học kinh nghiệm rỳt ra đối với Việt Nam từ việc nghiên cứu mô
hình hệ thống cơ quan quản lý đất đai của một số nước trên thế giới
Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu mô hình hệ thống cơ quan quản lý đất đai
của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm
có giá trị tham khảo cho quá trình xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ
quan quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm
vụ quản lý, sử dụng đất đai trong giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; cụ thể:
- Đất đai được giao cho một cơ quan chức năng của Nhà nước thống nhất
quản lý theo mô hình tập trung và quản lý theo ngành dọc;
- Tổ chức và quản lý tốt thị trường bất động sản; nhanh chóng hình thành
hệ thống cơ quan định giá đất đai, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan quản lý hệ

các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính Phủ.
1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường
1.1.1. Nhiệm vụ và quyền hạn chung
Theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và
Môi trường thì Bộ Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi tắt là Nghị định số
91/2002/NĐ-CP) có trách nhiệm thực hiện, nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại
Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và
những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
(i) Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm
pháp luật khác về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi
trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ;
(ii) Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn,
năm năm và hàng năm về các lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, cỏc cụng
trỡnh quan trọng của ngành;
(iii) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các tiêu chuẩn, quy
trình, quy phạm, các định mức kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên đất,
tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ thuộc
thẩm quyền;
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(iv) Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt và các tiêu chuẩn, quy trình,
quy phạm, các định mức kinh tế- kỹ thuật của ngành; tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật và thông tin về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên
khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ.
Bên cạnh nhiệm vụ, quyền hạn chung, Nghị định số 91/2002/NĐ-CP còn
quy định cho Bộ Tài nguyên và Môi trường những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể

tài nguyên nước và xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước;
(iii) Quy định và chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện các biện pháp bảo vệ tài
nguyên nước;
(iv) Thường trực Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước;
- Về tài nguyên khoáng sản
(i) Trình Chính phủ quy định việc phân công, phân cấp điều tra cơ bản địa
chất về tài nguyên khoáng sản; lập bản đồ địa chất trong phạm vi cả nước; quy
định và công bố khu vực cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, khu vực
hạn chế, khu vực đấu thầu hoạt động khoáng sản; chỉ đạo và kiểm tra việc thực
hiện sau khi được phê duyệt;
(ii) Trình Chính phủ quy định thẩm quyền cấp, gian hạn, thu hồi giấy
phép hoạt động khoáng sản và thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại giấy
phép hoạt động khoáng sản, cho phép chuyển nhượng, để thừa kế quyền hoạt
động khoáng sản, đăng ký hoạt động khoáng sản;
(iii) Xác định khu vực có tài nguyên khoáng sản chưa khai thác; khoanh
định khu vực có khoáng sản độc hại; thẩm định, phê duyệt theo thẩm quyền các
đề án, báo cáo về điều tra cơ bản tài nguyên khoáng sản, khảo sát, thăm dò trong
hoạt động khoáng sản;
(iv) Quy định và chỉ đạo, kiểm tra thực hiện các biện pháp bảo vệ tài
nguyên khoáng sản;
(v) Tổng hợp số liệu, quản lý kết quả điều tra cơ bản địa chất về tài
nguyên khoáng sản, khảo sát, thăm dò khoáng sản; thống kê, kiểm kê, đánh giá
chất lượng, trữ lượng tài nguyên khoáng sản, tổ chức lưu trữ, quản lý tài liệu,
mẫu vật và bảo mật nhà nước về số liệu, thông tin về địa chất và tài nguyên
khoáng sản;
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(vi) Thường trực Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản nhà nước;
- Về môi trường
(i) Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các quy định, biện pháp bảo vệ môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status