MỤC LỤC
L I M UỜ ỞĐẦ 2
I. KINH T H TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRI N NÔNG NGHI P VÀ Ế Ộ Ể Ệ
NÔNG THÔN N C TA HI N NAYƯỚ Ệ 3
1. Các khái ni mệ 3
2. C s s n xu t kinh t VACơ ở ả ấ ế 3
3. Vai trò kinh t h , mô hình s n xu t kinh t VACế ộ ả ấ ế 5
4. c i m c a kinh t h gia ình v VACĐặ để ủ ế ộ đ à 6
II. N NG L C KINH DOANH C A H GIA ÌNH THEO MÔ HÌNH VACĂ Ự Ủ Ộ Đ 8
1. Khái ni m n ng l c kinh doanh v nâng cao n ng l c kinh doanh c a hệ ă ự à ă ự ủ ộ 9
2. Các nhân t nh h ng n n ng l c kinh doanh c a h gia ình l m VACốả ưở đế ă ự ủ ộ đ à 9
Bi u II: H phân theo quy mô t nông nghi pể ộ đấ ệ 11
3. Cách th c ti n h nh xây d ng mô hình VAC v m t s i n hình tiên ti nứ ế à ự à ộ ốđể ế 21
III. TH C TR NG N NG L C KINH DOANH C A H THEO MÔ HÌNH Ự Ạ Ă Ự Ủ Ộ
VAC 27
1. Nh ng k t qu ã t cữ ế ảđ đạ đượ 27
Bi u III- 2: Hi n tr ng s d ng t n m 2000ể ệ ạ ử ụ đấ ă 32
2. Thách th c t ra i v i vi c nâng cao n ng l c kinh doanh c a h theo mô hình ứ đặ đố ớ ệ ă ự ủ ộ
VAC 34
Bi u III-3: S li u u t cho nông nghi pể ố ệ đầ ư ệ 34
Ngu n: T ng c c th ng kêồ ổ ụ ố 38
IV. BI N PHÁP NÂNG CAO N NG L C KINH DOANH C A H :Ệ Ă Ự Ủ Ộ 40
1. T o v s d ng v n:ạ à ử ụ ố 41
C ng c , phát tri n các h p tác xã tín d ng nông thôn huy ng các ngu n v n ủ ố ể ợ ụ ở để độ ồ ố
nh n r i trong nông dân, c bi t l nh ng h gi u v khá có m t s v n t m th i à ỗ đặ ệ à ữ ộ à à ộ ố ố ạ ờ
nh n r i có th huy ng u t m t ph n nhu c u vay ng n h n c a các h nông dânà ỗ ể độ đầ ư ộ ầ ầ ắ ạ ủ ộ
42
2. M r ng th tr ng tiêu th nông s nở ộ ị ườ ụ ả 46
3.Quy ho ch s d ng tạ ử ụ đấ 47
4. Nâng cao trình v n hoá, khoa h c k thu t v trình s n xu t kinh doanh độ ă ọ ỹ ậ à độ ả ấ
cho ch hủ ộ 48
vật lịch sử; đọc sách, báo, trao đổi với bạn bè cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô
trong khoa. Tuy nhiên, do vấn đề lựa chọn có nội dung rộng, trình độ còn hạn chế
nên có những vấn đề còn chưa rõ, cần tiếp tục hoàn thiện.
Công trình này bao gồm lời nói đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và những phần chính sau:
I. Kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn nước ta
hiện nay.
II. Năng lực kinh doanh của hộ gia đình theo mô hình VAC .
III. Thực trạng năng lực kinh doanh của hộ gia đình theo mô hình VAC.
IV. Biện pháp nâng cao năng lực kinh doanh của hộ.
2
I. KINH TẾ HỘ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ
NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Các khái niệm
Để tìm hiểu mô hình kinh tế VAC chóng ta xem xét một số khái niệm:
Hé gia đình: là một nhóm xã hội gồm tập hợp những người sống chung với
nhau trên cơ sở có quan hệ huyết thống, cùng sống chung và có kinh tế chung.
VAC là một hệ sinh thái bao gồm ba yếu tố làm vườn (V), nuôi trồng thuỷ sản
(A), chăn nuôi (C) được kết hợp chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và hỗ trợ cho
nhau dưới sự điều khiển của con người nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mối
quan hệ giữa 3 yếu tố này đảm bảo cho toàn bộ hệ thống VAC tồn tại và phát triển
bền vững.
Như vậy, ta thấy: Vườn (V) bao gồm các hoạt động trồng trọt (ngoài vườn có
ruộng, nương rẫy, vườn rừng). Trong vườn có cây xanh, chúng sử dụng năng lượng
mặt trời với sự chăm bón của con người để tạo nên sản phẩm sống cho con người
(rau, lúa, hoa quả ) và thức ăn cho gia sóc, gia cầm (lá, củ, hạt ) và cho cá (lá
cây).
Ao (A): tượng trưng cho tất cả các hoạt động khai thác mặt nước gồm: cá, tôm,
cua và các thuỷ sản khác. Ao hồ là nguồn nước tưới cho vườn cây, cho trồng trọt,
hữu cơ, chất che phủ động vật; xử lý, tái sử dụng chất thải, áp dụng công nghệ sinh
học; phòng trừ dịch bệnh bằng phương pháp IPM; sử dụng hợp lý, đa dạng sinh
học.
- Trên cơ sở tái sinh năng lượng: Sử dụng phế thải của các cơ thể khác để tiết
kiệm năng lượng, đầu tư Ýt, hiệu quả cao.
Ví dụ: sự kết hợp giữa cơ sở truyền thống và cơ sở khoa học của mô hình
VAC.
Năng lượng Mặt trời
Động vật Cây trồng
Phế thải Khí đốt biogas
Nuôi cá
Hay mô hình: Cây trồng Nuôi lợn (cũi, chuồng) Nuôi cá
4
3. Vai trò kinh tế hộ, mô hình sản xuất kinh tế VAC
Kinh tế hộ: góp phần tận dụng sức lao động của nông dân trong sản xuất nông,
lâm, ngư; góp phần tạo thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân; tạo điều kiện để phát
huy tính năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh nhằm tận dụng tối đa các
tiềm năng sẵn có phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn góp phần phát triển toàn diện nền kinh tế đất nước.
Mô hình kinh tế VAC: Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển,
kinh tế VAC từng bước phát triển sản xuất hàng hoá theo nhu cầu của thị trường.
VAC là kết quả của những đổi mới trong nhận thức, của sự vận dụng nhiều hiểu
biết của đội ngũ cán bộ về thiên nhiên nước ta, của sự tổng kết kinh nghiệm làm
vườn của nông dân ta qua hàng nghìn năm phát triển, của sự vận dụng có kết quả
các thành tựu khoa học và công nghệ.
Một số vai trò của sản xuất VAC:
- VAC trong đời sống và phát triển kinh tế hộ:
VAC góp phần đa dạng hoá nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phá
chế độc canh, hình thành một số ngành sản xuất khác như: dịch vụ, chế biến, bảo
quản nông sản
- VAC góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường:
VAC sử dụng đầy đủ hơn, tiết kiệm hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
Ýt gây ô nhiễm môi trường. Đây là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, thống nhất các
khâu các thành phần. Trong hệ sinh thái này có mối quan hệ chặt chẽ giữa Vườn -
Ao - Chuồng. Chuồng phát huy và nâng cao hiệu quả cuả các sản phẩm lấy từ Vườn
- Ao. Các loại gia sóc tham gia tích cực và chu trình chuyển hoá các chất Làm cho
đất đai ngày càng trở nên màu mỡ, các chất thải từ trồng trọt và ao cá được sử
dụng tốt hơn tránh gây ô nhiễm môi trường sống.
4. Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình và VAC
a. Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình là một loại hình đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội: Hé gia
đình là chủ sở hữu hoặc chủ thể sử dụng đất đai và những tư liệu sản xuất chủ yếu
khác; là đơn vị độc lập tham gia vào phân công lao động chung của toàn xã hội. Hộ
gia đình là hình thức tổ chức sản xuất thích nghi với các ngành sản xuất nông
nghiệp.
6
Hé gia đình là đơn vị tiêu dùng của xã hội: Với khoản thu nhập của mình, họ
sẽ tự quyết định việc tiêu dùng sản phẩm xã hội cho nhu cầu của các thành viên
trong gia đình.
Hé gia đình với tư cách là tế bào xã hội: Là cơ sở để hình thành những mối
quan hệ xã hội trong cộng đồng, nơi giáo dục, gìn giữ, bảo tồn và phát triển giá trị
văn hoá truyền thống.
b. Đặc điểm của mô hình VAC
VAC là một hệ sinh thái nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở vận dụng các
qui luật khách quan tồn tại và hoạt động trong các hệ sinh thái tự nhiên từ đó đảm
bảo cân bằng sinh thái có tính bền vững cao. Nó có cấu trúc hợp lý, đảm bảo vòng
chu chuyển vật chất gần nh khép kín không tạo ra phế thải làm ô nhiễm môi trường.
VAC được xây dựng trên cơ sở giải quyết đồng bộ các khâu của quá trình sản
xuất - bảo quản - chế biến - tiêu thụ. Nó tồn tại và phát triển trong tổng hoà các mối
quan hệ sinh thái - nhân văn, sinh thái - kinh tế, sinh thái - môi trường.
VAC phát triển không gây tác động xấu đến môi trường, trái lại còn tạo nên
môi trường sống trong lành cho con người. Mô hình này hướng tới tạo ra những
quần thể sinh vật dồi dào sức sống, tồn tại hài hoà trong quần xã các loài dẫn đến
năng suất kinh tế cao. Trong VAC các loại sinh vật sinh sống hài hoà tạo nên một
hệ sinh thái phát triển bền vững.
II. NĂNG LỰC KINH DOANH CỦA HỘ GIA ĐÌNH THEO MÔ HÌNH
VAC
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão,
con người được xem là nguồn lực chủ chốt nhất, đóng vai trò quyết định thúc đẩy
tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Đối với nước ta, sự thành bại trong
công cuộc đổi mới đất nước phụ thuộc vào tài năng và trí tuệ sáng tạo của người
Việt Nam. Trong nông nghiệp, mục tiêu của chúng ta là phát triển nền nông nghiệp
sinh thái, nền nông nghiệp bền vững. Để đạt mục tiêu này, con người phải không
ngừng nâng cao trình độ để áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Kinh tế hộ gia đình là đơn vị cơ
bản của nền sản xuất xã hội, từ đó cần có những biện pháp nâng cao năng lực kinh
doanh để sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất những tiềm năng trong hé .
8
1. Khái niệm năng lực kinh doanh và nâng cao năng lực kinh doanh
của hộ
- Năng lực kinh doanh: là khả năng, kiến thức, phương pháp, thái độ hành vi
của con người trong quá trình thực hiện việc kết hợp, sử dụng và quản lý có hiệu
quả các yếu tố nguồn lực như vốn, khoa học kỹ thuật, công cụ lao động nhằm đạt
được kết quả như ý muốn của con người.
- Nâng cao năng lực kinh doanh: Là cách thức nhằm nâng cao khả năng, kiến
thức của con người trong việc kết hợp, sử dụng và quản lý có hiệu quả các yếu tố
nguồn lực như vốn, khoa học kỹ thuật, công cụ lao động; là sự điều chỉnh về
họ không phải dựa trên một nền nông nghiệp thặng dư. Sự tích luỹ này do sự chắt
bóp của nông dân. Những nông sản phẩm được bán đi để mua vật tư đầu tư vào sản
xuất đôi khi chính là khẩu phần lương thực của họ, xâm phạm vào sản phẩm tất yếu.
Nguồn tích luỹ của nông hộ chủ yếu từ ngành trồng trọt, chăn nuôi. Nguồn tích luỹ
dưới hình thái vật phẩm Ýt có khả năng sinh lời.
Vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn là cơ sở để nâng cao cơ sở hạ
tầng, trang bị kỹ thuật cho lao động và mở rộng qui mô sản xuất của các ngành công
nghiệp, dịch vụ nông nghiệp ở nông thôn. Vốn đầu tư là các nguồn lực tài chính và
phi tài chính của các chủ thể kinh tế được đưa vào hoạt động đầu tư, nhằm tạo năng
lực sản xuất mới hoặc tăng năng lực sản xuất sẵn có với mục đích sinh lợi.
b.Vật lực
Nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đòi
hỏi tất cả các ngành, các vùng, các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất đều phải
tính đến hiệu quả đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển. Sản xuất nông nghiệp chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố, nhưng đất đai trước hết là đất canh tác nếu được sử
dụng triệt để và hợp lý sẽ cho sản lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường, nâng cao
được hiệu quả kinh tế đồng thời góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
Tuy nhiên, trong điều kiện quỹ đất có hạn, dân số không ngừng tăng kéo theo
nhu cầu tiêu dùng nông sản tăng sẽ mâu thuẫn gay gắt với tiến trình thực hiện công
nghiệp hoá, đô thị hoá ở các vùng làm cho diện tích đất canh tác giảm càng nhanh.
Trong điều kiện đó, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác được xem là vấn đề hết
sức quan trọng và bức thiết. Một trong những biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả nguồn đất đai đó là cách thức sản xuất theo mô hình VAC.
10
Đất đai có ý nghĩa quan trọng vì nó là tư liệu sản xuất đặc biệt hàng đầu không
thể thay thế của sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nguồn thu nhập của hơn 80% dân
số nước ta, tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho gần 80 triệu dân.
Ngoài ra, còn là nơi tạo ra nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp và hàng nông
sản xuất khẩu.
Diện tích đất nông nghiệp nước ta: 9.345.346 ha, diện tích đất nông nghiệp
là điều kiện căn bản để chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc, phân tán manh món sang
sản xuất tập trung hoá, chuyên môn hoá. Hiện nay, giá trị trên 1 hecta đất canh tác
bình quân mới đạt trên 1000 USD/năm, bình quân một hộ gia đình có doanh thu từ
đất khoảng 600 USD/năm. Như vậy, mức thu nhập chỉ khoảng 400 USD/năm, mà
mỗi hộ gia đình có từ 4 - 5 nhân khẩu thì một nhân khẩu nông nghiệp có thu nhập
không đến 100 USD/năm. Một tháng mức thu nhập từ đất của một nhân khẩu từ đất
của một nông dân khoảng 8 - 9 USD tức là khoảng 100 - 200 đồng/người/tháng,
cộng với các khoản thu nhập ngoài trồng trọt, chăn nuôi, nghề phi nông nghiệp, thu
nhập khác thì bình quân từ 180.000 - 200.000 đồng/người/tháng.
Diện tích đất nông nghiệp bình quân/lao động nông nghiệp ở nước ta thấp: 0,3
ha đứng thứ 135/160 nước trên thế giới (Châu Âu 17 ha, Châu Mỹ 45 - 50 ha, khu
vực Châu Á- Thái Bình Dương 4 - 4,5 ha). Diện tích này có xu hướng ngày càng
giảm cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, do sự phát triển của kết cấu hạ
tầng trong nông thôn, sự hình thành các trung tâm công nghiệp mới. Tình trạng
chuyển đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng “đất chật người đông” để xây dựng các
khu công nghiệp, các liên doanh với nước ngoài đang diễn ra mạnh làm cho diện
tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Bên cạnh đó, do sức Ðp về lao động và việc làm,
do nhu cầu về nông sản ngày càng tăng, trong khi quỹ ruộng đất dành cho nông
nghiệp ngày càng thu hẹp, do đó đẩy mạnh việc khai khẩn đất hoang hoá đưa vào
sản xuất nông nghiệp là việc cần thiết.
Năm 1993, Luật đất đai được ban hành quy định đất nông nghiệp được giao
cho hộ, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Người dân
hưởng quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng ruộng đất đã tạo điều kiện thuận
lợi cho họ tập trung ruộng đất và có thể thực hiện sản xuất kinh doanh theo mô hình
VAC. Cùng với diện tích mặt nước tự nhiên, việc đào ao góp phần làm tăng thêm
diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản. Sau khi đã bố trí xây dựng mô hình phù
hợp, các hộ gia đình tiến hành việc chăn nuôi với nhiều hình thức khác nhau, có thể
12
sử dụng phương thức chăn nuôi kết hợp: cá - vịt, cá - lợn, vườn - cây - lợn - cá, lợn
- cá- ong - vườn đem lại hiệu quả cao cả về kinh tế và môi trường sinh thái.
nhất. Các loại giống được sử dụng trong hé VAC hiện nay thường là các giống do
hộ tự tạo ra hoặc mua từ những hộ trong cùng địa phương. N h việc họ tự ghép cành,
chiết cành để tạo ra giống cây trồng mới, tiến hành lai tạo giống con nuôi.
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp góp phần làm cho nông nghiệp
có thể phát huy hết những tiềm năng sẵn có. Hệ thống giao thông trên đồng ruộng
cũng như đường sá vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ quá xấu
hoặc chưa được xây dựng làm hạn chế khả năng hạ giá thành sản xuất và làm tăng
chi phí, thời gian vận chuyển làm hao hụt sản phẩm.
Trong mô hình VAC đã chủ động được nguồn nước, có thể sử dụng nước
trong ao để tưới cây trong vườn hay tắm rửa cho gia súc, vệ sinh chuồng nuôi. Ao là
nơi tiêu nước cho vườn khi ngập úng, là nguồn nước tưới cho cây lúc khô hạn.
c. Trí lực
Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão, con người
được xem là nguồn lực chủ chốt nhất đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Cùng với sự phát triển chung Êy, con người
luôn không ngừng học hỏi nâng cao trình độ bởi vì hiện nay lao động trong nông
nghiệp nông thôn còn đang ở trình độ thấp. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
công cụ lao động còn đang diễn ra khá chậm thể hiện ở quy mô, tốc độ chuyển dịch
ngành nghề, trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ, chất lượng của nguồn lao động và
ở cả trình độ tổ chức quản lý sản xuất và tổ chức lao động.
Lao động nông nghiệp nước ta chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội
76,4% (năm 2002). Đây là tiềm năng lớn để có thể khai thác trong sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, do quỹ đất nông nghiệp Ýt, diện tích đất nông nghiệp bình quân
0,097 ha/người thêm vào đó tốc độ tăng dân số nước ta còn cao 1,31% (năm 2002)
cộng với khoảng trên 1 triệu lao động bước vào thị trường lao động hàng năm, gây
ra sự dư thừa lao động và tình trạng thiếu việc làm dẫn đến thu nhập của người lao
động thấp. Thu nhập bình quân từ nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2002 là 658,85
nghìn đồng/người. Tỷ lệ thất nghiệp của cả nước gần đây có xu hướng giảm từ
6,44%(năm 2001) còn 5,84%(năm 2002).
14
trong hộ làm kinh tế VAC với mục tiêu sản xuất hàng hoá, nâng cao trình độ là cần
15
thiết để họ có thể bước vào kinh tế thị trường với sự thua thiệt trong thương trường
là Ýt nhất.
Sự phân bố lao động trong nông nghiệp còn bất hợp lý: 90% lao động dành
cho trồng trọt, lao động trong chăn nuôi chỉ chiếm 10%. Trong trồng trọt, lao động
dành chủ yếu cho sản xuất lương thực, thực phẩm và thường tập trung ở những
vùng đồng bằng châu thổ, ven các trục đường giao thông. Do sự phân bố lao động
nông nghiệp theo vùng và phân bố theo ngành chưa hợp lý nên việc sử dụng nguồn
lực còn nhiều lãng phí. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
do thời gian lao động không đồng nhất với thời gian sản xuất của các loại cây trồng,
vật nuôi, do sự biến thiên về điều kiện thời tiết khí hậu mỗi loại cây trồng Để tiến
hành kịp thời vụ trong VAC, những người nông dân trong từng thôn xóm thực hiện
vần công, đổi công, hợp tác lao động. Bên cạnh đó, xuất hiện việc thuê mướn lao
động có mức độ khác nhau ở các vùng tuỳ theo trình độ của sản xuất hàng hoá ở
từng vùng. VAC góp phần thu hót lao động giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn.
Với trang thiết bị máy móc chưa nhiều, phần lớn là các công cụ thô sơ nên
năng suất lao động còn thấp, thu nhập và đời sống của người lao động chậm được
cải thiện, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có trong mô hình VAC.
Muốn phát triển tốt VAC cần kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm cổ truyền với
tiến bộ khoa học kỹ thuật đạt trình độ công nghệ cao. Trong thực tiễn sản xuất nông
nghiệp, ở khắp mọi nơi trên thế giới những người nông dân đã tích luỹ được một
khối lượng khổng lồ những kinh nghiệm, tri thức và kỹ năng. Do đó, cần thiết phải
khai thác tối đa vốn quý giá này, cố gắng lồng ghép và áp dụng càng nhiều càng tốt,
đồng thời vận dụng sáng tạo những công nghệ mới để cung cấp lượng hàng hóa
nông sản có chất lượng theo yêu cầu của thị trường.
Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là những kỹ thuật, những biện pháp tổ
chức quản lý, quy trình công nghệ, giống cây trồng, con nuôi góp phần phát triển
kinh tế xã hội nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người nông dân.
người.
Việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp không những làm thay đổi tính chất
và nội dung của lao động mà còn dẫn đến việc giảm bớt đầu tư lao động chuyển lao
động của mình vào các hoạt động, các xí nghiệp, các ngành khác.
17
Sản phẩm nông nghiệp thường là các sản phẩm tươi sống, dễ hư hỏng và có
tính thời vụ cao nên số lượng thu mỗi lần thường lớn vì vậy việc đưa khoa học công
nghệ vào khâu bảo quản chế biến sau thu hoạch là hết sức cần thiết.
Trong tổ chức quản lý cần có các phương pháp, quy trình công nghệ về quản lý
lao động, quản lý vật tư tài sản, quản lý về tài chính, tổ chức vận hành hoạt động
của mô hình góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Để có thể chuyển giao được những tiến bộ kỹ thuật cho nông dân cũng là vấn
đề gặp nhiều khó khăn. Mục tiêu của chúng ta là kinh tế hộ nông dân phải phát triển
bền vững nghĩa là đảm bảo các nhu cầu hiện tại mà không làm mất khả năng đầu tư
cho các thế hệ tương lai. Vì vậy,việc lựa chọn loại hình tiến bộ kỹ thuật để chuyển
giao cho người nông dân phải giải quyết được câu hỏi nó có lợi về tài chính không?
Có phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở địa phương không? Cần đưa
những kỹ thuật đơn giản phát huy được vốn kiến thức qua kinh nghiệm bản thân
người dân không?
Người nông dân không muốn nâng cao giá trị của một loại cây trồng, vật nuôi
nào mà lại bắt các hoạt động sản xuất khác phải trả giá. Vì vậy, kỹ thuật mới phải
phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở địa phương càng dễ dàng và càng
thể hiện được ưu điểm của chúng càng tốt. Một kỹ thuật mới nhằm mục đích nâng
cao hiệu quả sản xuất cần phải khắc phục được một hoặc một số yếu tố hạn chế
trong hệ thống canh tác ở địa phương.
Kỹ thuật dành cho người nông dân nghèo phải được dựa trên những gì mà họ
sẵn có khi các loại vật tư, nguyên liệu khác cần thiết phải dễ kiếm, có nguồn ổn
định, lâu dài, đáng tin cậy, giá cả phải chăng. Với những hộ giàu hơn, họ có phương
tiện vận chuyển, hiểu biết kỹ thuật tốt hơn, có mối quan hệ thân quen rộng rãi hơn
với các địa phương khác thì họ có thể tự đảm bảo được nhu cầu về vật tư và nguyên
vườn, ao, chuồng. Trong thiết kế xây dựng cần đảm bảo tận dụng tốt nhất mối quan
hệ giữa ba yếu tố VAC sao cho chúng hỗ trợ cho nhau thúc đẩy nhau phát triển để
toàn bộ hệ thống tồn tại và phát triển bền vững.
Lựa chọn các loại giống cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với đặc điểm của
các vùng sinh thái trên sơ sở phát huy ở mức tương đối cao năng suất kinh tế của
chúng. Hiện nay việc cung ứng giống cây, con chủ yếu là do tự nhiên, hộ cá thể
19
đảm nhận, chất lượng giống không đảm bảo và không được kiểm nghiệm gây ra tổn
thất khá lớn.
Hé kinh doanh theo mô hình VAC là chủ thể kinh tế nên cần phải tổ chức và
quản lý như thế nào để nó có hiệu quả kinh tế cao. Bất cứ một thành công nào cũng
không thể “tự thân vận động” mà được vì còn nằm trong một quỹ đạo lớn nữa. Do
đó, trong việc quản lý mô hình sản xuất VAC cần thực hiện mở rộng hợp tác với
các gia đình làm VAC khác để học hỏi kinh nghiệm. Trong những điều kiện khó
khăn chung phục vụ cho sản xuất kinh doanh, các hộ này có thể kết hợp cùng xây
dựng. Đặc biệt là vấn đề thị trường có thể cùng kết hợp với nhau để tạo ra một thị
trường cung cấp nông sản lớn, tập trung để việc bán hàng dễ hơn. Bên cạnh đó, việc
quản lý các nguồn lực trong bản thân hộ là rất quan trọng nó quyết định sự thành
bại của hộ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* Đối với hộ sản xuất theo mô hình VAC
Tài nguyên trước hết là đất và không gian của nó. Đất là tài nguyên vô giá của
sự sống nên ông cha ta đã khái quát “tấc đất, tấc vàng” và khuyên chúng ta “Ai ơi
đừng bỏ ruộng hoang”. Các nhà quản lý, các chủ hộ VAC cần xem xét vị trí của đất
từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ, đặc biệt với mô hình VAC phải xem diện
tích đất đó có nước để chủ động tưới tiêu không? Xem đất có phân tán, rải rác,
manh món hay không? Từ đó có biện pháp chuyển đổi đất hợp lý. Trong quá trình
sử dụng còn có biện pháp bảo vệ, cải tạo và bồi dưỡng đất để nâng cao độ phì của
đất và sử dụng có hiệu quả.
Kế đến là nước: Việc đào ao, giữ nước kết hợp với nuôi cá là một kinh nghiệm
được coi là có giá trị kinh tế cao. Việc quản lý nguồn nước phải đảm bảo nguồn
3. Cách thức tiến hành xây dựng mô hình VAC và một số điển hình
tiên tiến
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, ở nông thôn nước ta có những thay
đổi rõ rệt. Nhìn chung đời sống người dân từng bước được nâng cao. Song vẫn còn
nhiều khó khăn, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng cho sản xuất, vốn đầu tư, kĩ thuật tiến
bộ áp dụng vào sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó ở nông thôn còn nhiều tiềm năng
chưa được khai thác triệt để nh: đất đai, diện tích mặt nước, chuồng trại chăn nuôi,
tỷ lệ thời gian lao động chưa sử dụng
Nhận biết được tiềm năng đó, một số hộ bằng sự hiểu biết và thức sự muốn
làm giàu từ nông nghiệp, họ đã tiến hành sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và
21
thu được thành công với cách làm chung là: tạo vốn ban đầu, cải tạo và thiết kế ao,
chuồng; cơ cấu sản xuất.
- Tạo vốn ban đầu:
Các chủ hộ xuất thân từ nhiều tầng lớp, nhiều thành phần (nông dân, bộ đội,
những người đã nghỉ hưu, giáo viên ) phần lớn họ là những người nghèo. Khi được
vay vốn họ thường làm cách “lấy ngắn nuôi dài”, trước hết họ sản xuất những thứ
bỏ Ýt vốn mà thu lợi nhanh, khi có chút Ýt tích luỹ mới mở rộng và đa dạng hoá
sản xuất.
Ngoài vốn tự có (không nhiều), các nguồn khác là: Tín dụng của Nhà nước,
của ngân hàng nông nghiệp; tiền ứng trước của công ty, liên hiệp xí nghiệp; tín
dụng của các chương trình trong nước và ngoài nước, sự trợ giúp của gia đình, làng
xóm, tổ chức phụ nữ. Có các hình thức vay gọi là quay vòng: Người không có tài
sản thế chấp có thể dùng tín chấp do một đoàn thể nhân dân đứng ra bảo đảm (hội
nông dân, hội phụ nữ, hội làm vườn).
- Cải tạo và thiết kế vườn, ao, chuồng trại:
Đảm bảo mỗi thành phần trong hệ thống thực hiện nhiều chức năng. Cần chọn
các loài cây, con thích hợp cho hệ thống để đáp ứng yêu cầu đa chức năng của
chúng. Các yếu tố nhà ở, chuồng trại, vườn cây, ao cá được sắp xếp hợp lý phù hợp
với điều kiện tự nhiên và điều kiện sản xuất cụ thể mỗi yếu tố có thể vận hành tốt.
Tổng diện tích đất của gia đình là 13 công ở vị trí thuận lợi, mặt tiền giáp sông
Ba Láng, mặt hậu giáp đường quốc lộ. Trước chỉ làm lúa 1 vụ ông đã quyết định lập
vườn 8 công chỉ để 5 công làm ruộng.
- Làm vườn:
Vườn ông lập có bờ bao ngăn chủ động nước tưới tiêu, có bờ chắn gió vào
mùa gió nam thổi mạnh. Từ khi mới thành lập đến năm 1992, ông bố trí 2 công
trồng ổi, nửa công trồng đu đủ, 5 công trồng cam quýt.
Trồng ổi và đu đủ ngoài thu nhập đủ chi phí trong gia đình, ông mua được
máy bón phân cho cam, quýt. Đến năm thứ 3, cam đã bắt đầu được thu hoạch cứ
mỗi cây cho 100 - 130 kg quả. Các năm sau, cây xuống rất nhanh vì kỹ thuật chưa
cao, phân bón không đầy đủ.
Khi Nhà nước khuyến khích trồng ca cao và nhận thấy mô hình ca cao + dừa
+ tiêu + chuối là mô hình thích hợp, ông mạnh dạn chuyển sang trồng các loại cây
23
này và hiện nay thực tế vườn của ông gồm: 8 công ca cao xen dừa, 5 công cam
quýt. Ông học hỏi để tự chiết ghép cây trồng cho vườn nhà và giờ đây có dư để bán.
Hiện tại mức thu nhập của gia đình ông: Ca cao 30 triệu, dừa 3 - 4 triệu.
Cây ca cao mặc dù thu nhập không thật cao nhưng rất ổn định và khai thác lâu
năm, năng suất cao (2,5 tấn/ha) Ýt sâu bệnh. Trong vườn không phải phun thuốc trừ
sâu, nên dưới ao, trên bờ vẫn nuôi được cá, ong mật, gà.
- Ao: Do điều kiện vườn chủ động được nước, nên ông đã nuôi cá ở tất cả các
mương vườn chủ yếu là cá bống tượng, đủ cả các thịt để ăn trong gia đình ngoài ra
còn cá bán thu lợi trên 1 triệu đồng.
- Chăn nuôi:
Heo, gà: Lúc nào cũng có heo và gà nhưng Ýt nhiều tuỳ thuộc vào giá cả từng
năm.
Nuôi dê: 4 dê sữa, nuôi con cho 200 - 300 lít sữa/năm, bán được 4.000 lít dê
con nuôi bán thịt, hàng năm tiền bán sữa + thịt khoảng 4 triệu đồng.
Nuôi trăn: 1 con trăn nái, mỗi năm đẻ Ýt nhất được 15 - 16 con bán được 600
- 700 ngàn đồng.
hoa dâu, bèo tấm, cám gây men.
Khi nông dân đến mua, ông đều hướng dẫn và hỏi thăm về ao của họ, nhiều
gia đình áp dụng phương thức chăn nuôi cá của ông đã có hiệu quả. Nhiều gia đình
trước đây ao bá hoang đến nay đã có cá bán được từ 200.000 đến 1.000.000 đồng.
Về chăn nuôi lợn, hàng năm ông nuôi từ 10 - 15 con. Nhà có 2 chuồng, một
chuồng bên ao để lấy phân nuôi cá, một chuồng xây thành 2 ngăn nuôi lợn nái và
lợn thịt, lấy phân bón lúa. Xuất chuồng năm 1993 được 685 kg lợn hơi. Hiện còn 5
con trong đó có 1 lợn nái, 4 lợn thịt mỗi con khoảng 60 kg. Ông thường nuôi kế lứa
mỗi lứa 3 - 5 con. Thức ăn hàng ngày cho lợn chủ yếu là cám + bột gạo ủ men + rau
xanh. Kết hợp cá biển, chượp mắm. Tổng thu 6 triệu trừ chi phí 4 triệu còn lãi 2
triệu. Ngoài ra còn nuôi vịt đẻ và hàng trăm con gà lớn nhỏ, ước tính trừ chi phí, thu
lãi mỗi năm 1 triệu đồng.
Nhà ông có 0,7 sào vườn trồng cam, vải thiều, chuối tiêu, chuối tây thu hàng
năm được 1 triệu đồng.
Từ các nguồn thu mấy năm gần đây, gia đình ông mua được 1 máy nổ 15 mã
lực, 1 bộ máy bơm nước để tát ao nuôi cá bột, người ra còn tát ao phục vụ xã viên
trong xã và bơm nước tưới cho lúa và mạ, với giá trị là 4,4 triệu đồng. Gia đình mua
25