MỞ ĐẦU
I. LÝ do chọn đề tài
Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo
dục đào tạo là một trong những trọng tâm quan trọng của sự phát triển. Nghị quyết
đại hội lần thứ X của Đảng ta đã chỉ rõ là: “Đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngò giáo viên (GV) và tăng
cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo độc lập suy nghĩ
của học sinh, ”. Điều 28 Luật Giáo dục nước ta (2005) còng nhấn mạnh: “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tù giác, chủ động sáng tạo của
học sinh (HS), phù hợp với đặc điểm của từng líp học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thó học tập cho HS”.
Mét trong những định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy đề cập đến định
hướng đổi mới công việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS, từ hình thức
đến công cụ, đặc biệt chú trọng tối đa khả năng tự kiểm tra, đánh giá của người học,
bởi người học là một trung tâm quan trọng của hoạt động dạy và học ở nhà trường.
Trong vài năm gần đây, đồng thời với việc áp dụng chương trình và sách giáo
khoa mới, ở các trường phổ thông đã và đang thực hiện tích cực việc đổi mới
phương pháp dạy học, trong đó có đổi mới cách thức, nội dung kiểm tra, đánh giá.
Việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá thực hiện theo định hướng: Tăng
cường kiểm tra đánh giá bằng việc sử dụng kiểm tra trắc nghiệm khách quan
(TNKQ) kết hợp với trắc nghiệm tự luận (TNTL) trên cơ sở nghiên cứu những ưu,
nhược điểm của từng loại trắc nghiệm để sử dụng đạt mục đích dạy học của bộ
môn, từng líp học, trong quá trình dạy học, và đã bước đầu khuyến khích HS tìm
sách tham khảo tự củng cố kiến thức.
Cách thức thi cử hiện nay ở các kì thi quan trọng như thi tốt nghiệp THPT, thi
tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung học thường sử dụng thi 100% TNKQ;
1
TNTL thường chỉ chiếm một phần nhỏ trong các bài kiểm tra đánh giá. Trên thị
trường sách tham khảo về bài tập Hoá học có rất nhiều, nhưng HS không biết lùa
chọn loại sách nào giúp tăng cường khả năng tự kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng
V. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống bộ đề kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng
Hoá học líp 11 đảm bảo được yêu cầu của đề kiểm tra với chất lượng tốt, nếu GV và
HS sử dông một cách triệt để, thường xuyên và tự giác thì bộ đề sẽ góp phần tăng
cường năng lực tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS một cách hiệu quả.
VI. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành làm đề tài này, chóng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp
nghiên cứu sau đây:
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
– Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: như các phương pháp
kiểm tra, đánh giá, đi sâu về phương pháp kiểm tra TNKQ.
– Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình, phân phối chương trình, chuẩn
kiến thức, kĩ năng Hoá học, sách giáo khoa, sách giáo viên Hoá học líp 11 – THPT
cơ bản và nâng cao; đi sâu vào phần Hoá học hữu cơ nâng cao.
2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Điều tra cơ bản: Tìm hiểu thực tiễn dạy học môn Hoá học líp 11 nhằm phát
hiện những khó khăn của việc kiểm tra đánh giá. Trao đổi kinh nghiệm với các thầy
cô có nhiều kinh nghiệm trong dạy học Hoá học.
– Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm s phạm nhằm đánh giá tính khả thi,
hiệu quả và chất lượng của bộ đề kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng hoá học.
Đánh giá tác dụng của việc áp dụng của bộ đề kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ
năng hoá học.
3. Phương pháp sử dụng Toán Thống kê
3
Áp dụng một số tham số đặc trưng trong Toán Thống kê để xử lí kết quả thực
nghiệm sư phạm.
VII. Điểm mới của luận văn
1. Hệ thống hoá cơ sở lí luận về phương pháp kiểm tra đánh giá và vấn đề đổi
mới phương pháp kiểm tra đánh giá.
2. Tuyển chọn và xây dựng bộ đề kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng hoá
của học sinh
Nghiên cứu
tài liệu mới
Kiểm tra - đánh giá
kết quả học tập
Các mối liên hệ nghịch
1.1. Kim tra
Kim tra l theo dừi s tỏc ng ca ngi kim tra i vi ngi hc nhm
thu c nhng thụng tin cn thit cho vic ỏnh giỏ.
Trong lớ lun dy hc, kim tra l giai on kt thỳc ca quỏ trỡnh dy hc,
m nhn mt chc nng lớ lun dy hc c bn, ch yu khụng th thiu c ca
quỏ trỡnh ny. Kim tra cú vai trũ liờn h nghch trong quỏ trỡnh dy hc, nhm mc
ớch bit nhng thụng tin, kt qu v quỏ trỡnh dy ca thy v quỏ trỡnh hc ca
trũ, t ú cú nhng quyt nh cho s iu khin ti u ca c thy v trũ. Kim tra
5
– đánh giá nhằm khảo sát khả năng của người học về môn học mà điểm số các bài
khảo sát là những số đo đo lường khả năng học tập của HS. Nếu việc kiểm tra và
đánh giá một cách nghiêm túc, thường xuyên và công bằng với kĩ thuật cao và đạt
kết quả tốt thì người học sẽ học tốt hơn.
1.2. Đánh giá
Đánh giá kết quả học tập là đo lường mức độ đạt được của người học về các
mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học. Mô tả một cách định tính và định
lượng: tính đúng đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức, tính đầy đủ, mối
liên hệ của kiến thức với đời sống, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức
độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ
chuyên môn của người học,… và thái độ của người học trên cơ sở phân tích các
thông tin phản hồi từ việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ
được giao, đối chiếu với các chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của
môn học.
Đánh giá kết quả học tập của người học là một quá trình phức tạp và công
+ Cách trình bày kiến thức.
Khối lượng kiến thức được xác định trong chương trình quốc gia. Các SGK
đạt tiêu chuẩn giúp cho việc cụ thể hoá các yêu cầu này.
– Các kiến thức kĩ năng, kĩ xảo hoá họcđược kết hợp lại thành các nhóm
sau đây:
+ Các khái niệm, định luật hoá học cơ bản.
+ Các lí thuyết hoá học.
+ Ngôn ngữ hoá học.
+ Kiến thức về các chất.
+ Kiến thức về các nguyên tè hoá học.
+ Kĩ năng và kĩ xảo giải các bài tập.
+ Kĩ năng và kĩ xảo làm thí nghiệm.
+ Kĩ xảo nói và viết.
7
– Khi đánh giá chất lượng về kiến thức cần chú ý đến tính chính xác khả năng
nhận thức, tính hệ thống, tính cụ thể, tính vững chắc, khuynh hướng tư tưởng chính
trị, mối liên hệ với đời sống và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
+ Tính chính xác và khả năng nhận thức: HS không chỉ biết tính chất các chất,
các định luật và lí thuyết hoá học, mà còn có thÓ giải thích được các hiện tượng đã
học, biết minh họa các định luật và lí thuyết bằng tư liệu cụ thể.
+ Tính hệ thống: các kiến thức đó ở HS gắn bó không tách rời nhau.
+ Tính cụ thể: HS phải hình dung được rõ ràng những tính chất lí và hoá học
của các chất đã học và sự phụ thuộc tính chất của chúng vào cấu tạo.
+ Khi kiểm tra tính vững chắc của kiến thức cần chó ý đến kiến thức của HS
về cái cơ bản đã học gắn hữu cơ với kiến thức đang học.
+ Khuynh hướng tư tưởng chính trị của kiến thức là cơ sở thế giới quan cộng
sản chủ nghĩa của HS, khi trả lời các bài tập phải giải thích một cách duy vật những
hiện tượng và quá trình được học, giải thích vai trò của hoá học trong việc xây dựng
chủ nghĩa cộng sản.
– Việc chuẩn bị cho kiểm tra kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Về nội dung
a) theo bài học
b) theo ch ơng
c) theo vấn đề lớn
d) sơ kết học kì
e) tổng kết năm
Về tổ chức
a) định kì có báo tr ớc
b) bất th ờng
d) vấn đáp trên lớp
Viết báo cáo khoa học
a) cá nhân
b) nhóm
c) cả lớp
Theo nội dung dạy học
a) thí nghiệm thực hành
b) bài toán
d) đọc sách, tài liệu, làm đề c ơng
9
Bng 2: Phõn loi cỏc kiu test kim tra
Các kiểu test kiểm tra
Test có để chỗ trống
Học sinh trả lời
Bài toán hoá học
Test kèm nhiều câu trả lời soạn sẵn
Trả lời bằng một từ
Trả lời bằng câu ngắn
Giải tự do
Học sinh chọn:
- Đúng hoặc sai
1.2.2. Nhược điểm
– TNKQ chỉ cho biết kết quả suy nghĩ của HS mà không cho biết quá trình suy
nghĩ, sự nhiệt tình, hứng thó của HS đối với nội dung kiểm tra.
– HS có thể chọn đúng ngẫu nhiên.
– TNKQ không cho phép kiểm tra năng lực diễn đạt (viết hoặc dùng lời); tư
duy sáng tạo và khả năng lập luận của HS. Vì vậy với cấp học càng cao thì khả năng
áp dụng của hình thức này càng bị hạn chế.
– Việc soạn thảo các câu hái TNKQ tèn thời gian, công sức.
– TNKQ không thể kiểm tra được kĩ năng thực hành thí nghiệm mà chỉ kiểm
tra được kiến thức về kĩ năng thực hành thí nghiệm.
– Phương pháp TNKQ vẫn không hoàn toàn khách quan vì phụ thuộc vào việc
soạn thảo và định điểm cho câu hỏi của người soạn.
1.3. Phân loại các phương pháp TNKQ. Câu hỏi TNKQ có nhiều câu để lùa chọn
Hiện nay đa số các nhà giáo dục thống nhất chia các câu hỏi TNKQ làm 5
dạng chính sau:
+ Dạng nhiều lùa chọn
+ Dạng câu đúng – sai
+ Dạng ghép đôi
+ Dạng câu điền khuyết hay trả lời ngắn
+ Câu hỏi bằng hình vẽ
Trong tình hình thực tế hiện nay, việc kiểm tra và thi chủ yếu sử dụng hình
thức TNKQ dạng nhiều lùa chọn, vì vậy trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ đi
sâu phân tích dạng câu hỏi TNKQ dạng nhiều lùa chọn.
11
1.3.1. Khái niệm câu hái TNKQ có nhiều câu để lùa chọn
Đây là loại câu hỏi thông dụng nhất, được sử dụng nhiều nhất và có hiệu quả
nhất. Nó cho phép kiểm tra những trình độ cao hơn về nhận thức, thuận lợi hơn so
với các loại câu hỏi trắc nghiệm khác.
Câu trắc nghiệm nhiều lùa chọn gồm 2 phần: phần đầu là phần dẫn (có thể là
một câu hỏi hay một câu dẫn), phần sau là từ 3 đến 5, thường là 4 hoặc 5 phương án
các đáp án nhiễu phải tương đối sát với đáp án đúng, tránh hiện tượng HS không
cần tính toán hoặc không cần tư duy nhiều vẫn có thể lùa chọn được đáp án đúng.
– Đối với HS: Với những HS thông minh, có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm
ra những câu trả lời hay hơn đáp án.
– Câu hỏi nhiều lùa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và
khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu
TNTL.
– Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để HS đọc nội dung câu hỏi.
1.3.3. Những lưu ý khi soạn câu hỏi nhiều lùa chọn
Câu hỏi nhiều lùa chọn có thể dùng để thẩm định trí năng ở mức biết, vận
dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn. Vì vậy khi soạn
loại câu hỏi này cần lưu ý lùa chọn những ý tưởng quan trọng và viết ra những ý
tưởng Êy một cách rõ ràng để làm căn bản cho việc soạn thảo các câu hỏi trắc
nghiệm.
Cách thiết kế câu có nhiều lùa chọn:
• Cấu tạo của câu gồm:
– Phần câu viết chưa đầy đủ.
– Phần chọn: Gồm 4 phương án. Trong đó chỉ có một phương án đáp ứng yêu
cầu đề ra, thường là phương án đúng (có thể có chọn câu sai). Các phương án khác
được gọi là nhiễu. Trước mỗi phương án thường là các chữ A, B, C, D.
– Phần yêu cầu: Nêu ngắn gọn yêu cầu đặt ra.
Yêu cầu trả lời: Chỉ chọn một phương án phù hợp để có câu đúng hoặc đúng
nhất (hoặc câu sai) trong sè 4 phương án chọn bằng cách đánh dấu, khoanh tròn
hoặc tô tròn vào một chữ đứng trước phương án trả lời.
– Yêu cầu của phần dẫn: Nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa và
được diễn đạt rõ ràng. Câu hỏi hoặc cách đặt vấn đề phải rõ ràng, chính xác. Không
nên dùng từ phủ định, nếu không tránh được thì phải được nhấn mạnh để HS không
bị nhầm. Câu dẫn cũng phải là câu hỏi trọn vẹn để HS hiểu rõ mình đang được hỏi
13
vấn đề gì. Câu chọn cũng phải rõ ràng, dÔ hiểu và có cùng loại quan hệ với câu
công cụ đo lường là các câu hỏi, bài tập; khi làm bài, HS phải tự trả lời bằng các
14
hình thức lập luận (như suy luận, biện luận, lí giải, chứng minh) theo ngôn ngữ của
chính mình dưới dạng bài viết trong một khoảng thời gian đã định trước.
Đây là cách kiểm tra đánh giá truyền thống trong quá trình dạy học.
2.2. Phân loại
Câu hái TNTL gồm các dạng:
a. Câu hái tự luận có sự trả lời mở rộng
b. Câu tù luận với sự trả lời có giới hạn
2.3. Cách viết câu hái TNTL
2.3.1. Yêu cầu của dạng TNTL
Để phát huy ưu điểm của loại trắc nghiệm này và hạn chế độ thiên lệch của
việc chấm bài tự luận cần đảm bảo được:
– Đảm bảo đề thi phù hợp với mục tiêu học tập và nội dung giảng dạy.
– Yêu cầu cần rõ ràng và xác định. HS cần được hiểu rõ họ phải trả lời cái gì.
– Cần sử dụng những từ, các câu khuyến khích tư duy sáng tạo, tư duy trừu
tượng, bộc lé khả năng phê phán và ý tưởng cá nhân.
– Nêu những tài liệu chính cần tham khảo; cho giới hạn độ dài bài làm và
đảm bảo đủ thời gian để HS hoàn thành làm bài.
– Nên quy định tỉ lệ điểm cho mỗi phần và khi chấm bài nên chấm theo từng
phần.
2.3.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp TNTL
TNTL có thể khai thác được tối đa khả năng tư duy của HS, phát huy được khả
năng tư duy sáng tạo và trí thông minh của HS, TNTL không những có thể đánh giá được
kết quả của tư duy mà còn có thể kiểm soát được quá trình tư duy của HS để đi đến kết quả
đó, từ đó dễ sửa chữa, uốn nắn cho HS, việc ra đề TNTL cũng dễ và tiết kiệm được thời
gian, câu hỏi khai thác được chiều sâu của kiến thức. Tuy nhiên, TNTL cũng có nhiều hạn
chế, đó là chỉ kiểm tra được lượng kiến thức không nhiều trong một thời gian, việc ra chấm
bài của GV tốn khá nhiều thời gian, việc chấm bài cũng không tránh khỏi ý chủ quan của
người chấm,
ứng dụng, phân tích.
– Khuyến khích khả năng phân
tích và hiểu đúng ý người khác,
khả năng bật nhanh
Đánh giá
– Chủ quan trong việc chấm
điểm, độ tin cậy không cao.
– HS tự chủ khi trả lời.
– Khách quan, đơn giản và ổn
định, độ tin cậy cao.
– HS chỉ được lùa chọn câu hỏi
đúng trong số các phương án
đã nêu.
– Áp dụng được công nghệ
mới trong chấm thi
Những yếu tố
làm sai lệch điểm
Khả năng viết, các cách thể
hiện
Khả năng đọc hiểu, phán đoán
Khả năng
phản hồi
Ýt thông tin Nhiều thông tin
Qua bảng so sánh trên ta thấy sự khác nhau rõ rệt giữa 2 phương pháp là tính
khách quan công bằng và chính xác, đặc biệt là tính khách quan.
TNKQ và TNTL đều là các phương tiện khảo sát khả năng, kết quả học tập
của HS; mỗi hình thức có sức hấp dẫn riêng, để khích lệ người học nâng cao sự hiểu
biết, ứng dụng kiến thức giải quyết một vấn đề nào đó của chuyên môn. Vì vậy,
phối hợp cả 2 hình thức TNKQ và TNTL với tỉ trọng hợp lí sẽ đem lại hiệu quả tốt
trong đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường.
gợi cho các em một nếp tự đặt câu hỏi cho mình để rồi tự trả lời những câu hỏi Êy.
17
Đây cũng là một trong những định hướng quan trọng của việc đổi mới đánh giá
đang được sử dụng trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
3. Định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Hoá học ở THPT
3.1. Định hướng chung
3.1.1. Về mục tiêu kiểm tra, đánh giá
Cần bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng ở mỗi líp, mỗi chương phần để đảm bảo
thực hiện đúng yêu cầu của chương trình Hoá học THPT.
– Đánh giá được mục tiêu giáo dục của môn Hoá học ở cấp học THPT nói
chung và mỗi líp, mỗi chương nói riêng.
– Đánh giá được mức độ nắm kiến thức kĩ năng hoá học ở mỗi bài, mỗi
chương, học kì, năm học, cấp học,…
– Tuỳ loại đánh giá, việc đánh giá kết quả học tập của HS có những mục tiêu
khác nhau, v.v
+ Đánh giá tổng kết: Đánh giá sản phẩm đầu ra nhằm xác nhận một trình độ
nhất định sau mét giai đoạn học tập hoá học nhất định, thí dụ như sau một chương,
sau một học kì, cuối năm, sau một cấp học (tốt nghiệp THCS, tốt nghiệp THPT, thi
HS giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, tuyển sinh đại học v.v ).
+ Đánh giá quá trình: Đánh giá trong quá trình dạy học các môn học ở
trường THCS, thí dụ như đánh giá trong tiết học, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra
miệng,v.v Đánh giá này vừa giúp GV biết được mức độ nắm kiến thức, kĩ năng
một bài, một nội dung hay một phần nội dung như thế nào đồng thời biết được sự
nắm kiến thức kĩ năng của HS còn yếu ở chỗ nào và cần bổ sung điều chỉnh nội
dung và phương pháp dạy của thày hoặc phương pháp học tập của HS cho phù hợp.
3.1.2. Về nội dung đánh giá
a. Nội dung môn Hoá học không chỉ gồm những kiến thức về chất và những biến
đổi của chúng, một số ứng dụng và phương pháp điều chế các chất mà còn bao gồm
cả những kiến thức về phương pháp để chiếm lĩnh kiến thức đó.
Nội dung kiểm tra, đánh giá cần đa dạng nhằm thực hiện mục tiêu môn học
– Nội dung kiểm tra, đánh giá không chỉ tập trung vào nội dung lí thuyết mà
nên có nội dung gắn với hiện tượng thực nghiệm, nhận biết các chất, kĩ năng thí
nghiệm, lắp đặt dụng cụ, điều chế chất
– Chó ý đánh giá kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng thực
hiện các hoạt động cụ thể. Mét trong những điểm yếu của HS học Hoá học hiện nay
là vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, sản xuất, kĩ năng lập kế hoạch hành
động, thực hiện các hoạt động cụ thể
– Chó ý đánh giá được kiến thức về phương pháp hoạt động để chiếm lĩnh
kiến thức hoá học. Ở đây có liên quan đến đánh giá cả quá trình, mà không chỉ chú
ý tới kết quả cuối cùng. Cần chú ý đánh giá khả năng tìm tòi, khai thác thông tin,
khả năng xử lí và áp dụng các thông tin thu nhận được trong các tiết học cụ thể.
– Chó ý đánh giá năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, vận dụng kiến
thức hoá học đã học vào thực tiễn của HS. Trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước tiến tới nền kinh tế tri thức, rất cần con người hoạt động trí tuệ sáng
tạo, luôn có ý thức vận dụng những điều đã học vào trong thực tiễn.
d. Chó ý đánh giá khả năng hợp tác và làm việc trong nhóm trong quá trình học tập
của HS.
Mét trong những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là áp dụng dạy học
hợp tác theo nhóm nhỏ. Đánh giá cũng cần được thực hiện để khuyến khích định
hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này. Việc đánh giá này sẽ thực
hiện thường xuyên trong các giê hoá học do GV thực hiện trên líp hoặc HS tự đánh
giá.
3.1.3. Về hình thức đánh giá
Chó ý kết hợp TNKQ và TNTL để làm tăng tính khách quan của đánh giá.
Mỗi loại kiểm tra đều có điểm mạnh và hạn chế riêng, vì vậy giáo viên nên
kết hợp mét cách linh hoạt giữa hai hình thức kiểm tra để khai thác tối đa hiệu quả
của mỗi hình thức kiểm tra đó, nhằm phát huy tính tích cực của HS, đặc biệt nên
hướng HS tự học và có cách tự kiểm tra dưới hình đề kiểm tra sau mỗi bài, mỗi
chương.
20
– Thiết lập bảng gồm 2 phần chính: Các tiêu chí nội dung theo hàng ngang
và mức độ biết, hiểu, vận dụng theo cột dọc.
– Cột mức độ: Tương ứng với mỗi mức độ chia thành 2 loại câu hỏi TNKQ
và TNTL.
– Cột nội dung: Xác định đầy đủ các mảng nội dung chính của chương hoặc
học kì 1, học kì 2, cả năm hoặc thi tốt nghiệp.
3.2.2.4. Viết câu hỏi theo ma trận
VÍ DÔ. Đề sè 5. Bài kiểm tra 45 phót. Ancol - phenol
*- Mục tiêu: Đảm bảo được yêu cầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng
*. Ma trận đề
Nội dung kiến thức
Mức độ
Tổng
số câu
hỏi
Biết Hiểu Vận dông
TN
KQ
TL
TN
KQ
TL
TN
KQ
TL
I. ĐN - ĐP – Danh pháp
Định nghĩa, cấu trúc, phân
loại
1 1 1 3
Danh pháp và tính chất vật
hoặc GV chấm, sau đó cho HS đối chiếu kết quả với đáp án và cách giải của bài
(nếu có). GV phải thông báo các điểm này chỉ để khảo sát, không lấy điểm chính
thức.
– Kết quả kiểm tra đánh giá của GV và bài tự kiểm tra của HS được dùng để
phân tích đánh giá độ khó, độ phân biệt của từng các câu hỏi trong bộ đề kiểm tra
kiến thức kĩ năng hóa học và đề nguồn. Trên cơ sở đó GV soạn ra đề 45 phót và 15
phót để kiểm tra trên cả hai líp thực nghiệm và đối chứng lấy điểm thực tế. Điểm
này là cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng bộ đề.
3.2.4.2. Đối với HS:
– Sau mỗi bài học, HS tự kiểm tra kiến thức của mình bằng cách làm các đề
15 phót do GV cung cấp. Việc này đòi hỏi HS phải có ý thức tự học cao, cầu tiến, tự
23
giác. HS có thể đọc trước nội dung bài mới và tù đặt ra các câu hỏi có liên quan
đến kiến thức mới.
– Sau mỗi chương, HS tự làm ở nhà bài 45 phót trong bộ đề, so sánh đáp án
để chấm.
– Có thể kết hợp hình thức học nhóm cho HS làm các bài kiểm tra và chấm
chéo lẫn nhau.
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài chúng tôi nhận thấy:
- Khi tiến hành kiểm tra đánh giá phải nhận thức rõ vai trò, chức năng của nó trong
quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá phải vận động theo xu hướng mới, đảm bảo
được yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng (Bộ GD & ĐTgiáo dục và đào tạo đã ban
hành).
- Kết hợp một cách linh hoạt giữa kiểm tra đánh giá bằng hình thức TNKQ và hình
thức TNTL một cách hợp lí. Việc kiểm tra gần đây nói chung đã có nhiều đổi mới,
nhưng đổi mới sao cho có hiệu quả và cách đánh giá sao cho có hiệu quả nhất là
một vấn đề cần quan tâm. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu xây dung và tuyển chọn các
câu hỏi có chất lượng và ứng dụng vào kiểm tra đánh giá là rất cần thiết.
24