tội phạm có tính chất quốc tế - Pdf 26


Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 1 
PHẦN MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Nước ta từ khi đổi mới đến nay nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn. Đó là sự nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Kinh tế tăng trưởng, văn hóa – xã hội ngày càng vững mạnh, đời sống nhân
dân ngày càng được cải thiện và nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần. Đáng
kể nhất là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO – tổ chức thương
mại thế giới. Đây là kết quả của quá trình đàm phán nỗ lực, gay go, phức tạp.
Tham gia WTO là một cột mốc quan trọng đối với Việt Nam. Nó là sự biến
đổi to lớn, sâu sắc về kinh tế, xã hội. Bên cạnh những lợi ích mang lại cho
nền kinh tế và xã hội chúng ta sẽ đứng trước những thử thách đối với công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới. Chúng ta cũng thấy rõ,
bên cạnh những mặt tích cực của việc hội nhập quốc tế là mặt trái của nó. Và
cái mặt trái, không ổn định này là tình hình tội phạm, nó xuất hiện trong mọi
lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…nhằm làm mất tính
ổn định, gây khó khăn cho ta trên đường phát triển. Thủ đoạn của bọn tội
phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt đòi hỏi chúng ta phải hết sức tỉnh táo và
tìm mọi biện pháp để đối phó với tình hình tội phạm đang diễn ra hiện nay.
Nền hòa bình, an ninh quốc gia, tình hình tội phạm…hiện nay là một
vấn đề nóng bỏng và cần thiết giải quyết, phải được quan tâm như một chiến
lược và động lực cho mọi sự phát triển của đất nước. Sự nghiệp cách mạng
chỉ thành công khi và chỉ khi có sự tham gia năng động, tích cực và nhiệt tình
của đông đảo quần chúng nhân dân, sự thanh liêm, chính trực, chí công vô tư
của các cơ quan nhà nước. Song song đó, việc ban hành các văn bản pháp luật
đồng bộ sẽ tạo ra một hành lang pháp lý vững mạnh để phát huy sức mạnh

mục tiêu nghiên cứu của đề tài này cũng nhằm vào những yếu tố nói trên.
Qua quá trình theo sát nghiên cứu, học tập tạo điều kiện cho việc hoàn
thiện và thực thi pháp luật trong cuộc sống. Luận văn này người viết mang
công sức và tâm quyết của mình muốn đem lại tác dụng trong quá trình xây
dựng, nghiên cứu cũng như là điều kiện quan trọng để Sinh Viên nói lên suy
nghĩ, ý kiến mình.
Mặt khác, qua đề tài để hiểu rỏ được tính cần thiết khi chúng ta đi
nghiên cứu sâu về các tội phạm này, nhằm đem lại sự hiểu biết cần thiết cho
người đọc.Qua đó, góp phần vào việc hoàn thiện cũng như nâng cao kiến
thức, trình độ pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, từ đó thấy được những
khó khăn để rút ra những phương pháp đúng đắn, thiết yếu trong đấu tranh
phòng chống tội phạm này. Đồng thời cho ta thấy được tình hình gia tăng của
loại tội phạm có tính chất quốc tế để có biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi. Và
qua đó, thấy được việc đấu tranh phòng chống tội phạm không chỉ là trách
nhiệm của riêng ai mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có sự phối hợp
chặt chẽ giữa toàn Đảng, toàn dân nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để đẩy lùi
loại tội phạm này, góp phần làm ổn định trật tự xã hội.

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 3 
3. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài luận văn là vấn đề có nội dung khá phong phú và tương đối phức
tạp, đồi hỏi phải được nghiên cứu sâu và đi vào từng lĩnh vực tội phạm riêng
lẻ.
Dưới góc độ của một luận văn, việc tập trung xem xét phân tích những
vấn đề mang tính chất cơ bản về nội dung của những qui định của pháp luật.
Trên cơ sở tìm ra những phương hướng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
trong việc thực thi qui định của pháp luật về vấn đề này, nhằm đảm bảo sự ổn

 4 
5. Cơ cấu đề tài.
Đề tài được chia làm ba chương cụ thể trong phần nội dung như sau:
Chương I: Các vấn đề lí luận chung về tội phạm có tính chất quốc tế.
Chương II: Một số tội phạm có tính chất quốc tế trong luật hình sự Việt
Nam.
Chương III: Thực trạng của tội phạm có tính chất quốc tế.
Mặc dù người thực hiện đề tài đã có rất nhiều cố gắng trong việc tìm
và nghiên cứu tài liệu, cũng như tìm hiểu thực tiễn nhưng do phạm vi đề tài
có phần rộng và kiến thức có hạn nên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sai sót.
Xin ghi nhận những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài được
hoàn chỉnh hơn.
Chân thành cảm ơn Thầy - Ts. Phạm Văn Beo - đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ em hoàn thành đề tài luận văn này.


sát kỹ hơn mối quan hệ của cái ngành sản xuất này với toàn bộ xã hội, thì
phải thấy được nhiều điều. Kẻ phạm tội không chỉ sản xuất ra các tội phạm,
mà còn sản xuất ra Luật hình sự nữa; ngoài ra nó còn sản xuất ra toàn
ngành cảnh sát và tư pháp hình sự, kiểm sát…Nó còn sản xuất ra tiểu thuyết,
nghệ thuật và cả bi kịch nữa…”.
Như vậy, thực tế đời sống xã hội đã chuẩn bị sẵn những tiền đề cho
việc hình thành và phát triển các ngành luật khác nhau, các biện pháp pháp lý
khác nhau để đấu tranh chống tội phạm. Chính trong quá trình đấu tranh
chống tội phạm đã làm hình thành các môn khoa học khác nhau như: Khoa
học hình sự, tố tụng hình sự, khoa học điều tra tội phạm,…
Trong các ngành khoa học về tội phạm đó thì khoa học Luật hình sự có
đối tượng nghiên cứu là tội phạm với tư cách là “cái đơn nhất”, cách tiếp
nhận này phải trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
về tội phạm. Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 6 
Để đi sâu nghiên cứu cũng như định nghĩa được tội phạm có tính chất
quốc tế trước hết chúng ta phải định nghĩa được tội phạm là gì?
Bộ luật hình sự Việt nam năm 1999 đã định nghĩa về tội phạm như
sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thỗ Tổ
quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự

IMO,1963.

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 7 
Mặc dù có cách trình bày khác nhau, nhưng các quan điểm trên đều có
điểm hợp lý bởi chúng nêu lên bản chất của tội phạm quốc tế là những hành
vi xâm phạm đến hòa bình và an ninh nhân loại. Tuy nhiên, để đưa ra một
định nghĩa chung cho khái niệm tội phạm quốc tế, cần thiết phải dựa trên
những qui định trong các văn bản pháp luật hình sự quốc tế hiện hành.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm tội phạm
quốc tế là: Tội phạm quốc tế là những hành vi đặc biệt nguy hiểm, do người
có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 18 tuổi trở lên, thực hiện một cách cố
ý, xâm phạm hòa bình an ninh quốc tế, gây lo ngại cho toàn thể cộng đồng
quốc tế.
Theo qui định tại khoản 1 Điều 5 Quy chế Rôm, tòa án có quyền tài
phán đối với các tội phạm sau: Tội diệt chủng, tội chống nhân loại, tội phạm
chiến tranh, tội xâm lược. Như vậy, tội phạm quốc tế bao gồm bốn tội trên
(Quy chế Rôm).
Về tội phạm có tính quốc tế trong luật hình sự quốc tế, các nhà luật học
đã phân biệt các tội phạm quốc tế nói trên với các tội phạm xâm phạm trật tự
pháp luật quốc tế, hay còn gọi là các tội phạm có tính quốc tế (Tội phạm
xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài). Các tội phạm có tính quốc
tế, tuy có xâm hại hòa bình và an ninh quốc tế, nhưng về mức độ nguy hiểm,
không đến mức gây nguy hại cho toàn thể cộng đồng quốc tế. Chủ thể của tội
phạm có tính quốc tế là thể nhân, pháp nhân, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
không nhất thiết phải đủ 18 tuổi như đối với tội phạm quốc tế, điều này do
các công ước quốc tế liên quan có qui định.
Từ góc độ này, có thể hiểu tội phạm có tính quốc tế là những hành vi

trong luật hình sự năm 1999 một cách rất cụ thể và được trình bày một cách
cụ thể trong chương II của đề tài khi chúng ta đi nghiên cứu nó trong Luật
hình sự Việt Nam.
1.2. Nguyên nhân, điều kiện, đặc điểm, bản chất, tình hình tội phạm có
tính chất quốc tế.
1.2.1 Nguyên nhân và điều kiện:
Ở đây chúng ta phải đi xét riêng nguyên nhân của từng tội phạm mà
không thể nào gộp chung các nguyên nhân thành một cái chung tổng thể
được, do các tội phạm là khác nhau và lĩnh vực cũng như mức độ vi phạm
của nó cũng khác nhau.
+ Tội phạm về buôn bán phụ nữ-trẻ em
Việc buôn bán phụ nữ-trẻ em (BBPN-TE) có nhiều nguyên nhân phức
tạp, do nghèo đói, xung đột gia đình, do mở cửa, có chung biên giới và khó
kiểm soát khu vực biên giới của các quốc gia. Đa số những phụ nữ đều bị
những kẻ buôn bán lừa gạt dấn thân vào con đường tội rủi ro sang nước ngoài
với viễn cảnh có công ăn việc làm và hôn nhân tốt đẹp. Những phụ nữ trẻ
chưa chồng, trình độ học vấn thấp và hầu như không có thông tin về nguy cơ
của nạn buôn bán người là những người đặc biệt dễ có nguy cơ bị buôn bán.
Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân của nạn buôn bán phụ nữ.
Không chỉ các em gái mà ngay cả những phụ nữ đã có chồng con trong
những hoàn cảnh đặc biệt bị xô đẩy cũng là nạn nhân của nạn BBPN-TE. Có
lẽ không có ai lại bỏ nhà ra đi khi đang sống gia đình hạnh phúc. Những nỗi
đau về thể xác lẫn tinh thần cũng như việc tước đi cái quyền được học hành ở

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 9 
cái tuổi ăn học như các em là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng
buôn bán, lạm dụng tình dục ở trẻ em gái. Có thể thấy rất rõ rằng nếu không

BBPN-TE chưa được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ; sự phối hợp
giữa các cơ quan chức năng chưa thật chặt chẽ, cơ chế tổ chức bộ máy thực

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 10 
hiện chưa đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm BBPN-TE trong tình hình
mới.
Điều kiện của tội BBPN-TE là lợi dụng những chính sách thông thoáng
của Nhà nước ta trong công tác quản lý xuất nhập cảnh, xuất khẩu lao động,
quản lý du lịch nước ngoài, bọn tội phạm BBPN-TE đã sắp đặt những “chiêu
lừa”… để đem bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài. Mặc dù chính phủ đã có
những đề án, chương trình phòng chống BBPN-TE nhưng xem ra hành lang
pháp lý vẫn “yếu” nên chưa đủ sức “ngăn” được nạn BBPN-TE đang “nóng”
và phức tạp hiện nay.
Các đối tượng thường có sự câu kết, móc nối giữa các đối tượng tiền
án, tiền sự, các chủ chứa, môi giới mại dâm trong nước để tạo thành đường
dây BBPN-TE ra nước ngoài, phổ biến nhất vẫn là hình thức lợi dụng phụ nữ,
trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo, có trình độ văn hóa thấp, hoàn cảnh gia
đình khó khăn, các đối tượng hứa hẹn tìm việc làm và có thu nhập ổn định ở
thành phố rồi lừa đưa qua biên giới bán…Bọn tội phạm thường lợi dụng kẻ
hở thông qua các dịch vụ tư vấn, môi giới hôn nhân với người nước ngoài,
cho nhận con nuôi, du lịch, xuất khẩu lao động để lừa gạt BBPN-TE. Chính
vì thế công tác đấu tranh chống loại tội phạm này vấp phải những khó khăn,
phức tạp.
+ Tội phạm về khủng bố:
Hàng loạt vụ khủng bố, bắt cóc đang diễn ra trên thế giới thật sự gây
kinh hoàng cho toàn thể nhân loại. Bước sang thế kỉ thứ XXI, khi chiến tranh
lạnh qua đi, loài người lại đứng trước hiểm họa mới. Đó là chủ nghĩa Hồi

những nước đang phát triển, nước nghèo vẫn hoàn nghèo, 80% sản phẩm nội
địa trên thế giới về 1 tỷ người ở các nước phát triển so với 20% còn lại của 5
tỷ người ở các nước đang phát triển. Hiện nay, trên thế giới có 2,8 tỷ người
kiếm được không tới 2 USD/ngày. Khoảng cách chênh lệch ngày càng nới
rộng không chỉ về tài chính mà còn trong cả lĩnh vực y tế và giáo dục.
Những nguồn tài chính dung dưỡng khủng bố: Cuộc chiến chống
khủng bố quốc tế sẽ không thành công nếu không cắt được các kênh cung cấp
tài chính của chúng. Song, đây là một việc làm rất khó khăn. Theo thống kê,
hiện nay hàng năm các tổ chức khủng bố sử dụng đến hàng trăm triệu USD,
chủ yếu là tiền bất hợp pháp nhưng đã được tẩy rửa. Vấn đề là ở chỗ làm thế
nào để xác định những “dây” đưa tiền đến tay bọn khủng bố trong số hàng
triệu giao dịch tại các ngân hàng.Bọn khủng bố còn thực hiện việc chuyển
tiền bằng cách thông qua một hệ thống ngân hàng đặc biệt, không tuân thủ bất
cứ sự kiểm soát hay luật lệ tài chính nào. Được biết dưới tên Hawala (theo
tiếng Arap nghĩa là chuyển tiền), hệ thống này có các trung tâm giao dịch đặc
tại các nước Arap nhiều dầu mỏ và hoạt động dựa trên cơ sở những người
cùng dòng họ, cùng bộ tộc dù các thành viên của dòng họ, của bộ tộc đang
sống ở khắp nơi trên thế giới.
Ngoài ra, theo phân tích là do các cuộc chạy đua hạt nhân ngày càng
“nóng” lên giữa các nước. Sự yếu kém và chia rẽ trong chính quyền, xung đột

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 12 
tôn giáo, tranh giành quyền lợi, lãnh thổ, năng lượng hay các nguồn tài
nguyên khác giữa các nước dẫn đến thiếu đoàn kết cũng chính là điểm yếu
mà tổ chức khủng bố lợi dụng tấn công.
+ Tội phạm về ma túy:
Do đời sống kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, văn hóa, giáo dục, y tế

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 13 
1.2.3 Bản chất:
Các tội phạm nói chung, tội phạm có tính chất quốc tế nói riêng xét về
bản chất thì chúng mang nhiều sắc thái bản chất khác nhau. Ở đây, chúng ta
đi xem xét sơ lược bản chất cơ bản của từng tội phạm cụ thể, từ đó hiểu được
sâu hơn về loại tội phạm này.
Một là, tội khủng bố thực chất của nó là các bất đồng về chính trị, sắc tộc,
kinh tế… mà các Đảng phái chính trị hoặc lãnh đạo của một tổ chức (đa phần
là các tổ chức khủng bố) đã tiến hành các vụ khủng bố nhằm làm thiệt hại về
kinh tế, chính trị mà đặc biệt là làm thương vong rất nhiều tính mạng người
vô tội. Ngăn chặn và đánh tan bọn khủng bố là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của nhân loại, bản chất của khủng bố là phá hoại nền hòa bình trên thế giới.
Hai là, tội phạm về ma túy xét về mặt kinh tế là vì lợi nhuận bất chính, là
hành vi trốn tránh pháp luật của Nhà nước. Buôn lậu do tác động của các quy
luật kinh tế, buôn lậu là một dạng hoạt động kinh doanh bất chính, không
sòng phẳng. Bản chất của buôn lậu là tìm kiếm lợi nhuận một cách bất chính,
làm thất thoát một nguồn thu rất lớn từ thuế cho Nhà nước, phá hoại nền kinh
tế, dẫn đến lệ thuộc về chính trị nếu không chống buôn lậu một cách có hiệu
quả.
Ba là, tội phạm về BBPN-TE là hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân
phẩm của con người. Mục đích của chúng là xem phụ nữ, trẻ em như một loại
hàng hóa và đem trao đổi, mua bán nhằm mục đích kiếm lời. Phụ nữ chủ yếu
được đưa ra khỏi biên giới và bán cho các tổ chức buôn người, nhà thổ… với
nhiều hình thức khác nhau, từ đó góp phần làm tăng các tệ nạn xã hội. Bản
chất của loại tội phạm này là mục đích lợi nhuận từ việc mua bán phụ nữ.
Trên đây là sơ lược về bản chất của tội phạm nói chung và tội phạm có
tính quốc tế nói riêng, sau đây chúng ta đi tìm hiểu một cách chi tiết về tình

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 15 
CHƯƠNG II: CÁC TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT QUỐC TẾ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Để tìm hiểu tội phạm có tính chất quốc tế trong luật hình sự Việt Nam,
ở đây chúng ta không thể đi nghiên cứu hết tất cả các tội được mà phải đi
nghiên cứu một vài tội điển hình và thường gặp nhằm làm sáng tỏ cũng như
qua đó tìm được biện pháp hiệu quả nhất nhằm đấu tranh phòng và chống loại
tội phạm này, sau đây là một số tội cụ thể được qui định trong Bộ luật hình sự
Việt nam hiện hành qua các phần như: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;


Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 16 
Đến lần sửa đổi thứ tư, những hành vi đó được hình sự hóa một cách
tương đối đầy đủ. Sau lần sửa đổi này, Bộ luật hình sự 1985 đã được Quốc
hội dành riêng một chương (chương VIII) để qui định các tội phạm về ma túy
(với 14 điều luật). Việc làm này phù họp với xu thế và yêu cầu cấp bách của
thế giới bởi vì một số hành vi phạm tội trong lĩnh vực này là tội phạm mang
tính chất quốc tế. Trên cơ sở sửa đổi thứ tư này, Bộ luật hình sự 1999 đã dành
chương XVIII để qui định các tội phạm về ma túy với 10 điều luật. Bộ luật
hình sự 1999 chỉ dành 10 điều luật qui định về tội phạm ma túy (trong khi Bộ
luật hình sự 1985 là 14 điều) không phải là phi hình sự hóa một số hành vi
phạm tội đã được qui định trong Bộ luật hình sự 1985. Đó là sự tách, nhập
một số hành vi phạm tội cho phù hợp với bản chất và tính nguy hiểm của nó.
Tại chương XVIII, từ Điều 192 đến Điều 201, 10 điều luật qui định về
10 tội danh khác nhau, cụ thể là các tội sau:
- Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy
(Điều 192);
- Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193);
- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy (Điều 194);
- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào
việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195);
- Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ
dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196);
- Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (197);
- Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198);
- Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199);

túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp, bắt cóc
nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp,
tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chất ma túy.
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy qui định tại Điều 194 BLHS là tội phạm đã được qui định tại các Điều
185c, 185d, 185đ và 185e BLHS năm 1985, nay được nhập lại thành một điều
luật. Việc nhà làm luật nhập các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy để qui định trong cùng một điều
luật là đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
đặt ra.
Ví dụ: M vừa tàng trữ 0.5kg thuốc phiện, rồi tự mình vận chuyển số
thuốc phiện đó bán cho người khác. Nếu căn cứ vào Bộ luật hình sự 1985 thì
M phải bị kết án về ba tội độc lập đó là tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội
vận chuyển trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy và bị
quyết định hình phạt riêng từng tội rồi tổng hợp hình phạt chung. Giả thiết, M
bị phạt 7 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, 7 năm tù về tội vận
chuyển trái phép chất ma túy và 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma
túy, tổng hợp hình phạt chung cho cả ba tội là 20 năm tù, thì nay Bộ luật hình

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 18 
sự 1999 qui định cả ba hành vi này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một
tội có tên đầy đủ là: : “Tàng trữ, vận chuyển và mua bán trái phép chất ma
túy” và người phạm tội cũng chỉ bị áp dụng một hình phạt chỉ bằng 1/3 mức
hình phạt mà lẽ ra người phạm tội phải bị áp dụng theo Bộ luật hình sự 1985.
Tuy nhiên, Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 qui định tới bốn hành vi
phạm tội khác nhau, nên phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để định tội
danh cho chính xác.


 19 
khoản 3 điều này” thì Điều 194 BLHS 1999 không quy định tình tiết này là
yếu tố định khung hình phạt nữa.
- Nếu các Điều 185d, 185đ BLHS 1985 qui định: “Sử dụng người chưa
thành niên vào việc phạm tội” thì Điều 194 BLHS 1999 qui định: “Sử dụng
trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em”.
- Nếu các Điều 185c,185e BLHS 1985 không qui định tình tiết “sử dụng
trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em” thì Điều 194 BLHS
1999 qui định tình tiết này là yếu tố định khung hình phạt.
- Nếu khoản 1 Điều 185đ BLHS 1985 qui định: “Mua bán trái phép chất
ma túy dưới bất kỳ hình thức nào” và khoản 1 Điều 185e BLHS 1985 qui
định: “Chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào” thì khoản 1 Điều
194 BLHS 1999 chỉ qui định: “Mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy”.
- Nếu khoản 2 Điều 185đ BLHS 1985 qui định tình tiết “thu lợi bất
chính” và khoản 3 Điều 185đ qui định tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp”
thì Điều 195 BLHS 1999 không qui định các tình tiết này là yếu tố định
khung nữa.
- Nếu khoản 2 Điều 185e BLHS 1985 qui định tình tiết “có sử dụng vũ
khí hoặc phương tiện nguy hiểm” là yếu tố định khung hình phạt thì Điều 194
BLHS 1999 không qui định các tình tiết này là yếu tố định khung nữa.
Về mức hình phạt chính qui định ở từng khung hình phạt có một số
thay đổi như:
- Nếu khoản 4 các Điều 185c, 185d, 185đ, 185e BLHS 1985 có khung
hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì khoản 4 Điều 194 BLHS 1999 có
khung hình phạt 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
- Nếu khoản 1 Điều 185đ và khoản 1 Điều 185e BLHS 1985 có khung
hình phạt từ 3 năm dến 10 năm tù thì khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 có
khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù.

2.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm.
a. Hành vi khách quan
Do cơ cấu của Điều 194 là điều luật được nhập từ 4 điều luật của
BLHS năm 1985 nên người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất ma túy có các hành vi phạm tội như sau:
- Hành vi tàng trữ.
Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ bất hợp pháp chất ma túy ở
bất cứ nơi nào như: Trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức;
phương tiện giao thông; trong túi quần áo; túi xách… mà không nhằm mục
đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác hoặc vận chuyển từ nơi
này đến nơi khác.
Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội cất giấu
ma túy trên phương tiện giao thông nhưng lại không có mục đích vận chuyển
từ nơi này đến nơi khác, mặc dù trên thực tế phương tiện giao thông đó di
chuyển từ nơi này đến nơi khác thì người phạm tội vẫn chỉ bị truy cứu trách

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 21 
nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy mà không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Ví dụ : Triệu
Quốc H làm nghề lái xe. Do nghiện ma túy nên H mua 10 gam thuốc phiện
để sử dụng dần. H đã sử dụng hết 3 gam thì bị phát hiện và bị thu giữ 7 gam
thuốc phiện còn lại được cất giấu trong cabin dưới ghế ngồi lái xe. Mặc dù số
thuốc phiện do H tàng trữ được di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhưng H
chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy mà
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma
túy.
Ngược lại, có trường hợp chất ma túy được cất giấu một nơi cố định,

T, mở rộng phạm vi kiểm tra, cơ quan điều tra phát hiện trên mái nhà bà
Hoàng Thị D liền kề với nhà T có một gói thuốc phiện. Sau khi xác định, cơ
quan điều tra đã xác định số thuốc phiện thu được trên máy nhà của bà D là
do T ném qua đó, nhưng T trước sau không nhận
5
.
Nếu tàng trữ trái phép chất ma túy cho người khác mà biết rõ người
này mua bán trái phép chất ma túy đó thì hành vi cất giữ ma túy không phải
là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà là hành vi giúp sức người mua
bán trái phép chất ma túy và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán
trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm. Tuy nhiên, hành vi mua bán,
vận chuyển đã được quy định trong cùng một điều luật nên việc xác định
chính xác hành vi tàng trữ, hành vi vận chuyển hay hành vi mua bán chỉ có ý
nghĩa trong việc định tội theo hành vi (một hoặc một số hành vi hay định tội
theo hành vi đầy đủ).
Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01 ngày 02/01/1998 của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ thì người nào
tàng trữ, vận chuyển trái phép dưới 1gam nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc
cao cocain; dưới 0.1gam heroin hoặc cocain, dưới 1kg hoa, quả, lá cây cần sa
hoặc lá cây cô ca; dưới 5kg quả thuốc phiện khô; dưới 1kg quả thuốc phiện
tươi; dưới 2g chất ma túy ở thể rắn; dưới 5ml các chất ma túy ở thể lỏng thì
chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính.
Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, hướng dẫn trên là trái với Bộ luật
hình sự, vì điều luật không qui định tàng trữ bao nhiêu chất ma túy mới cấu
thành tội phạm. Có thể còn có ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi hướng
dẫn trên là cần thiết vì trong thực tiễn xét xử, có nhiều trường hợp người
phạm tội này rằng số ma túy bắt được là do họ cất giấu để sử dụng dần vì họ
là con nghiện, nếu không qui định một lượng ma túy nhất định để làm căn cứ
xác định trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi tàng trữ trái phép thì
có thể dẫn đến tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái

nhưng nếu căn cứ vào mục đích cũng như hành vi cụ thể của T thì hành vi
của T là hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
Nếu vận chuyển ma túy hộ cho người khác mà biết rõ mục đích mua
bán ma túy của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận
chuyển ma túy bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán trái phép chất ma túy
với vai trò giúp sức. Ví dụ: Nguyễn Văn Th là lái xe thuộc công ty vận tải số
14 biết Đào Xuân B là người thường xuyên mua bán ma túy từ Sơn La về Hà
Nội. Ngày 14/3/2001, B đến gặp Th và nhờ Th vận chuyển một cặp (2 bánh)
heroin từ Sơn La về Hà Nội giao cho Nguyễn Văn H và nhận tiền từ H giao
và đưa cho B, nhưng trên đường vận chuyển từ Sơn La về Hà Nội đến địa
phận tỉnh Hòa Bình thì bị bắt giữ. Khi bị bắt, Th khai là vận chuyển thuê cho
B và được B cho 3.000.000đồng. Mặc dù hành vi của Th chỉ là hành vi vận
chuyển trái phép chất ma túy nhưng vì Th biết rõ mục đích mua bán trái phép
chất ma túy của B và của H nên hành vi của Th là hành vi mua bán trái phép
chất ma túy với vai trò giúp sức.

Luận văn tốt nghiệp Tội phạm có tính chất Quốc tế
GVHD: TS. Phạm Văn Beo SVTH: Ngô Thanh Sử

 24 
Do Bộ luật hình sự 1985 quy định riêng hành vi vận chuyển với hành
vi mua bán trái phép chất ma túy ở hai điều luật riêng và hình phạt đối với
hành vi mua bán trái phép chất ma túy bao giờ cũng nặng hơn hành vi vận
chuyển, nên thực tiễn xét xử không ít trường hợp người phạm tội bị bắt quả
tang vận chuyển ma túy, mặc dù người phạm tội mua bán trái phép chất ma
túy đó nhưng chỉ nhận là mình vận chuyển, thậm chí còn không biết đó là
chất ma túy. Nếu không căn cứ vào các chứng cứ khác thì khó có thể xác
định người phạm tội mua bán hay vận chuyển trái phép chất ma túy. Nay Bộ
Luật hình sự năm 1999 qui định hành vi vận chuyển và hành vi mua bán cùng
trong một điều luật thì việc xác định hành vi mua bán hay vận chuyển cũng

vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy, tổ chức dùng chất ma túy mà
chưa qua thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 10
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
+ Đã bị kết án theo Điều 96a hoặc theo Điều 203 Bộ luật hình sự 1985,
mà chưa được xóa án.
+ Người tàng trữ, vận chuyển nhiều chất ma túy, mà mỗi chất ma túy
có số lượng được hướng dẫn tại các điểm nêu trên cũng bị truy cứu trách
nhiệm hình sự.
Hành vi tàng trữ, vận chuyển chất ma túy với số lượng lớn hơn số lượng
được hướng dẫn đã nêu trên đây đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi mua bán, tàng trữ để lại bán
hoặc sản xuất ra chất ma túy khác để bán lại hoặc hành vi trao đổi, thanh toán
một cách bất hợp pháp.
Đối với hành vi mua bán, Thông tư liên ngành (TTLN) Tòa án nhân
dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ nội vụ số 09/TTLN ngày
10/10/1996 hướng dẫn: Người nào mua bán trái phép một trong các chất ma
túy với bất kì số lượng nào dưới mức tối thiểu được hướng dẫn tại các điểm
trên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chiếm đoạt chất ma túy là hành vi cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, trộm
cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt…chất ma túy. Tương tự, hành
vi chiếm đoạt cũng không cần xác định số lượng là bao nhiêu, nếu người
phạm tội có hành vi chiếm đoạt chất ma túy thì tội phạm coi như đã hoàn
thành.
Thực tiễn thường gặp một số trường hợp sau:
 Người phạm tội chiếm đoạt và biết hoặc chấp nhận đối tượng chiếm
đoạt là chất ma túy thì sẽ định tội chiếm đoạt chất ma túy.
 Nếu người phạm tội không biết mình chiếm đoạt chất ma túy nhưng
sau đó biết và đã có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán… thì xét xử theo
các tội danh tương ứng. Hành vi chiếm đoạt chỉ xét xử về tội chiếm đoạt tài
sản thông thường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status