NGUỒN lực và ĐỘNG lực CHO PHÁT TRIỂN NHANH và bền VỮNG nền KINH tế VIỆT NAM ở GIAI đoạn 2011 – 2020 - Pdf 26


BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG TRÌNH KX.04/06-10
ĐỀ TÀI KX04.08/06-10

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN
NHANH VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Ở GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

Cơ quan chủ trì Đề tài: Viện Chiến lược Phát triển
Chủ nhiệm Đề tài: PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh 8382

Hà Nội, tháng 11 năm 2010



i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Sự cần thiết của Đề tài 1
2. Tổng quan nghiên cứu về nguồn lực, động lực cho phát triển nhanh và
bền vững nền kinh tế 2
3. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của Đề tài 14
4. Phương pháp nghiên cứu và số liệu phục vụ nghiên cứu của Đề tài 15
5. Kết cấu nội dung báo cáo tổng hợp của Đề tài 16

PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN LỰC VÀ
ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
18
I. Nguồn lực phát triển 18
1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nguồn lực 18
2. Mối quan hệ giữa nguồn lực và phát triển kinh tế 29
II. Động lực phát triển 32
1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thái biểu hiện của động lực 32
2. Vấn đề tạo lập, duy trì và phát huy động lực đối với phát triển kinh t
ế 41
3. Mối quan hệ giữa nguồn lực phát triển và động lực phát triển hướng tới
nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững 47
III. Kinh nghiệm của thế giới về việc huy động, sử dụng các nguồn lực và
tạo động lực cho phát triển kinh tế 49
1. Kinh nghiệm của Nhật Bản phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa 49
2- Kinh nghiệm củ
a Hàn Quốc trong việc huy động và sử dụng vốn FDI cho
phát triển kinh tế

kỳ 2011 – 2020 118
2. Định hướng phát tri
ển và phân bố lao động thời kỳ 2011 – 2020 của Việt
Nam 121
3. Định hướng khả năng khai thác và sử dụng một số tài nguyên thiên nhiên
chủ yếu 123
III. Thực trạng hình thành và phát huy động lực phát triển trong thời
gian qua của Việt Nam 129
1. Nhận xét chung 129
4. Ban hành cơ chế, chính sách tạo ra động lực phát triển 140
IV. Khác biệt theo vùng và lãnh thổ về nguồ
n lực phát triển và động lực
phát triển kinh tế 153
1. Đối với nguồn lực phát triển 153
2. Đối với động lực phát triển 156
PHẦN III. CÁC KIẾN NGHỊ ĐẢM BẢO NGUỒN LỰC VÀ ĐỘNG LỰC
CHO PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2020
157
iii
I. Đổi mới nhận thức và quan niệm về nguồn lực và động lực phát triển
cho phát triển nhanh và bền vững 157
1. Về nguồn lực phát triển cho phát triển nhanh và bền vững 157
2. Về động lực phát triển cho phát triển nhanh và bền vững: cần khẳng định
chỉ có lợi ích kinh tế và tinh thần quốc gia dân tộc mới là động lực phát triển
161

3. Sử dụng nguồn lực vì con người, vì vậy phải mang tính nhân văn cao 163
4. Tạo dựng nguồn lực cho phát triển 163
5. Triệt tiêu các yếu tố “thui chột” động lực 163

IV. Kiến nghị những vấn đề cần nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2015175
PHẦN PHỤ LỤC
179
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 187

v
DANH MỤC BIỂU, HÌNH VÀ HỘP
BIỂU
Biểu 01. Vai trò của người Hoa ở Đông Nam Á 61
Biểu 02. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện ở thời kỳ 2001-2010 (%) 68
Biểu 03. Cơ cấu GDP chia theo thành phần kinh tế qua các năm (%) 69
Biểu 04. Cơ cấu các nguồn vốn huy động bình quân trong thời kỳ 2001-2010 . 70
Biểu 05. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam năm 2009 76
Biểu 06. Một số chỉ tiêu về tiếp cận thông tin của Việt Nam 80
Biểu 07. So sánh Bộ chỉ tiêu phát triển của Việt Nam (Tổng cục Thống kê) và
Ngân hàng Thế giới 81

Biểu 08. Hiện trạng sử dụng đất tính đến thời điểm 01/01/2008 83
Biểu 09. Nguồn nước của các sông chính 86
Biểu 10. Các hồ chứa lớn ở Việt Nam 87
Biểu 11. Trữ lượng nước dưới đất có tiềm năng khai thác (tỷ m
3
/năm) 88
Biểu 12. Chất lượng nước của một số cơ sở công nghiệp ở thượng và hạ lưu 90
Biểu 13. Đơn sáng chế PCT của một số nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á 111
Biểu 14. Đơn sáng chế đã được nộp ở Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia Việt Nam
từ 2000 đến 2007 112

Biểu 15.Tỷ trọng giá trị công nghiệp chế tác có trình độ công nghệ trung bình và
cao (MHT) trong GDP ngành chế tác (MVA) và trong xuất khẩu ngành chế tác

Hình 10: Kiều hối chính thức, FDI, và dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) của Trung Quốc
từ năm 1990 đến năm 2009 63

Hình 11: Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư của Việt Nam qua các năm 66
Hình 12: Chuyển dịch cơ cấu GDP theo khối ngành thời kỳ 2001-2010 (%) 68
Hình 13: Cơ cấu, tốc độ tăng và quy mô vốn đầu tư năm 2000, 2005 và 2009
theo thành phần kinh tế 69

Hình 14: Quy mô chuyển Kiều hối từng năm của Việt Nam (triệu USD) 70
Hình 15: Mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2009 73
Hình 16: Năng suất lao động năm 2008 của một số nền kinh tế trên thế giới 74
Hình 17: Khoảng chênh lệch giữa tỷ trọng lao động nông nghiệp và tỷ trọng GDP
ngành nông nghiệp của Việt Nam và một số nền kinh tế từ năm 1990-2008 75

Hình 18: Tương quan mạnh giữa năng suất nghiên cứu khoa học với chỉ số phát
triển con người ở các nước Đông Á 112

Hình 19: Tỷ trọng vốn đầu tư so GDP và tốc độ tăng bình quân năm thời kỳ
2001-2010 (%) 119

Hình 20 Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, của khu vực Nhà nước và
của khu vực tư nhân (%) 131

vii
Hình 21 FDI (1.000 tỷ đồng) và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư (%) 138

Hình 22: Diễn biến của chỉ số VN-Index giai đoạn 2006-2008 144
Hình 23: Tiến trình quản lý đất đai từ nguồn tài nguyên đến nguồn vốn trong xã
hội 151


ĐNB Đông Nam Bộ
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HDI Chỉ số phát triển con người
HKG Hong Kong
IMF Quỹ Tiề
n tệ Quốc tế
IND Ấn Độ
INO Indonesia
JAP Nhật Bản
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu Chế xuất
KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư
KOR Hàn Quốc
KTQD Kinh tế Quốc dân
KTNN Kinh tế Nhà nước
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
KTTN Kinh tế tư nhân
KVKT Khu vực kinh tế
MAL Malaysia
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NIEs Các nền kinh tế công nghiệp mới
NXB Nhà xuất bản
ix
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
PCT Hiệp ước hợp tác về sáng chế
PHI Philippines
PRC Trung Quốc
QLNN Quản lý Nhà nước
R&D Nghiên cứu và triển khai

10 PGS.TS. Hoàng Sỹ Động Viện Chiến lược Phát triển
11 TS. Đinh Quang Ty Hội đồng Lý luận Trung Ương
12 TS. Đặng Xuân Thanh Viện Kinh tế Chính trị Thế giới
13 TS. Đinh Quang Thuận Viện Nghiên cứu Địa chất
14 TS. Nguyễn Xuân Thu Viện Chiến lược Phát triển
15 TS.Trần Kim Chung Viện Quản lý kinh tế Trung ương
16 TS. Đỗ Văn Thành Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế
- xã hội Quốc gia
17 TS.Trần Tú Cường Viện Nghiên cứ
u Địa chính
18 TS. Nguyễn Công Mỹ Viện Chiến lược Phát triển
19 Ths. Vũ Huy Quang Ngân hàng Nhà nước
20 Ths. Nguyễn Hoàng Hà Viện Chiến lược Phát triển
21 Ths. Nguyễn Thị Hồng Minh Đại học Kinh tế Quốc dân
22 Ths. Nguyễn Thị Lan Hương Viện Chiến lược Phát triển
23 Ths. Phạm Lê Hậu Viện Chiến lược Phát triển
24 Đặng Huyền Linh Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế
- xã hội quốc gia
25 Khúc Văn Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo
1
MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của Đề tài
Việc huy động được tốt nhất các nguồn lực cũng như tạo ra và duy trì
được cao nhất và liên tục động lực để phát triển vốn là những vấn đề then chốt
của các chính sách phát triển kinh tế của mọi quốc gia, mọi thời đại. Có thể
khẳng định rằng, ở đâu và khi nào, các chính sách giải quyết thỏa đáng được vấn
đề này, ở đó và khi đó có phát triển. Hơn nữa, để phát triển nhanh và bền vững
thì việc huy động các nguồn lực và tạo động lực lại càng đòi hỏi các chính sách
phải dựa trên những căn cứ khoa học vững chắc. Do đó, giới nghiên cứu và các

vốn đầu tư, các hạn chế về thông tin, khả năng phát minh và ứng dụng công
nghệ cao cũng như sự yếu kém về nhân lực trong quá trình tham gia nền kinh tế
toàn cầu. Hơn nữa, trong lúc đất nước mới ra khỏi tình trạng kém phát triển, thì
2
việc huy động và sử dụng nguồn lực lại chưa tốt, còn phổ biến tình trạng sử
dụng lãng phí các nguồn lực. Mặt khác, động lực cho phát triển chưa có được sự
nhận thức đầy đủ và phát huy một cách đúng đắn, triệt để. Chúng ta đã phát huy
được động lực rất lớn, rất mạnh trong các công cuộc bảo vệ và giữ nước, nhưng
điều đ
ó lại không được duy trì thường xuyên, liên tục, và đều đặn trong công
cuộc phát triển kinh tế.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thì không thể không thừa nhận đó là
những khiếm khuyết rất nghiêm trọng, đang ảnh hưởng rất bất lợi đến công cuộc
phát triển của Việt Nam. Làm thế nào để có nhận thức và hành động một cách
khoa học dưới góc độ lý luận chính trị về nguồn lự
c và động lực phát triển đất
nước cũng như đưa ra được những quan điểm mới về động lực và nguồn lực
trong thời đại toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, đóng
góp cho việc xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và Chiến lược phát triển
đất nước trong thời kỳ mới là một mục tiêu quan trọng, thiết thự
c của Đề tài
KX.04.08/06-10. Giai đoạn 2011-2020, đất nước ta sẽ bước sang thời kỳ thực
hiện chiến lược 10 năm lần thứ 3. Trong lúc công việc chuẩn bị nghiên cứu nội
dung chiến lược phát triển đất nước thời kỳ này đang được ráo riết chuẩn bị,
việc nghiên cứu đề tài này sẽ là rất kịp thời và có nghĩa thực tiễn thiết thực, góp
phần vào việ
c luận giải những căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách
đối với các nguồn lực và động lực cho chiến lược phát triển đất nước.

2. Tổng quan nghiên cứu về nguồn lực, động lực cho phát triển nhanh

phát triển, bao gồm các khái niệm, vai trò và yêu cầu của việc phân bổ nguồn
lực, phát huy động lực; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về sử dụng và
phát huy nguồn lực và động lực trong phát triển. Cuốn sách cũng đã đánh giá
thực trạng sử dụng các loạ
i nguồn lực của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, gồm đất đai và tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, vốn, khoa học – công
nghệ, văn hóa vật thể và phi vật thể; thực trạng phát huy các loại động lực, bao
gồm cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, cơ chế kích thích lợi ích
kinh tế, cơ chế cạnh tranh và truyền thống văn hóa. Cuốn sách cũ
ng trình bày
quan điểm, phương hướng và các chính sách, giải pháp nâng cao chất lượng
nguồn lực, sử dụng hợp lý nguồn lực và phát huy đầy đủ các động lực phát triển
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đối với
việc triển khai đề tài này, cuốn sách trên được xem như một trong những tài liệu
mới nhất, trình bày tập trung nhất những nội dung liên quan nên có thể
xem như
tài liệu tham khảo có giá trị. Song, cũng như nhiều nguồn tư liệu khác, nhiều
khía cạnh và nội dung học thuật, cách thức phân chia nguồn lực và động lực,
cách tiếp cận để xác định quan điểm và giải pháp…, vẫn còn cần thiết phải trao
đổi và nghiên cứu sâu thêm nữa. Các tác giả cuốn sách, trong phần Lời nói đầu
cũng đã khẳng định “vấn đề sử dụng, phát huy nguồn l
ực và động lực phát triển
kinh tế là một vấn đề rất lớn và rất phức tạp đòi hỏi tính thực tiễn cao nên cần
được tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn
phát triển kinh tế xã hội”. Hơn thế nữa, một nội dung lớn của đề tài đặt ra là phát
triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong tương quan với s
ử dụng các nguồn lực
và tạo dựng, duy trì động lực của thời kỳ đến 2020 ở Việt Nam như thế nào thì
cuốn sách nêu trên vẫn chưa đề cập đến.
Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến các loại nguồn lực, động lực và phát

luận
điểm lý thuyết quan trọng này. Ngoài ra, có thể có nhiều cách tiếp cận khác
khi phân chia nguồn lực để phân tích; chẳng hạn, các nhà khoa học chia thành nội
lực (các nguồn lực nội tại, ở bên trong) và ngoại lực… (Smith, 1997; Toffler,
2002; UNDP, 2001; Mác, 1984; Ricardo, 2002; Soto, 2006; Thurow, 2000; Gillis,
1990; Todaro, 1998; UNDP, 1999). Từ tổng kết thực tiễn, các văn kiện của Đảng
và văn bản pháp luật của Nhà nước ta cũng đã đề cập nhiều đến nội dung của các
nguồn lự
c như ở Luật Đất đai, Luật Đầu tư (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987,
1991, 2001, 2006; Luật Đất Đai, 2003; Pháp lệnh thuế Tài nguyên sửa đổi, 1998;
Luật Khoa học Công nghệ, 2000; Luật Đầu tư, 2005; Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ bảy khóa IX, lần thứ tư khóa X).
Về phương diện lý thuyết, vai trò của các nguồn lực đối với phát triển
kinh tế là hiển nhiên. Tuy v
ậy, những tranh luận học thuật cũng như tư duy
chính sách lại luôn tỏ ra chưa có được tiếng nói nhất trí cuối cùng. Các tranh
luận học thuật cũng như có liên quan đến việc hoạch định chính sách chủ yếu
xoay quanh các trục vấn đề sau:
- Làm thế nào để đo lường một cách chính xác mức độ đóng góp của từng
loại nguồn lực, nhất là với các loại nguồn lực “phi vật ch
ất”, nguồn lực “tinh
thần” đối với sự phát triển? Điều này không chỉ xuất phát từ những khó khăn
thuần túy mang tính kỹ thuật và thống kê, mà ngay cả việc xác định vai trò của
những loại nguồn lực này không phải bao giờ cũng thống nhất và có thể lượng
hóa được một cách dễ dàng.
- Làm thế nào để huy động được tối đa các nguồn lực cho phát triển? Các
nguồn lự
c tuy hữu hạn xét ở mỗi phạm vi và mỗi thời điểm lịch sử, nhưng việc
mở rộng phạm vi có thể huy động cho phát triển cần phải được xem như một
trong những mục tiêu của việc hoạch định chính sách trong bối cảnh toàn cầu

lực với việc huy động nguồn lực và ngược lại. Tuy nhiên, việc đánh giá tính
hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực luôn là vấn đề không dễ và vẫn còn
nhiều tranh cãi, cả về phương diện lý luận lẫn cách thức đo lường. Vấn đề là ở
chỗ, mỗi chủ thể tham gia quá trình kinh tế có các địa vị, góc nhìn, mục tiêu
khác nhau, nên cách mà họ xem thế nào là hiệu quả sử dụng các nguồn lực
không phải bao giờ cũng như nhau. Vì vậy, trong quá trình phân tích, đánh giá,
việc tìm ra được những điểm chung trong các mục tiêu của các chủ thể có một
vai trò rất quyết định đối với chính sách huy động nguồn lực.
- Về mối tương quan giữa các nguồn lực, trong đó nổi lên vấn đề tương
quan giữa nội lực và ngoại lự
c. Toàn cầu hóa kinh tế và thương mại đã làm cho
B
C
A
Hàng hóa Y
Hàn
g
hóa X
6
sự dịch chuyển của các nguồn lực được dễ dàng hơn. Nhờ đó, các quốc gia có
thể sử dụng được những nguồn lực ở bên ngoài thay vì chỉ có nguồn lực ở trong
nước. Xét trên góc độ vĩ mô của nền kinh tế, đường giới hạn khả năng sản xuất
sẽ là đường Q1Q3 nếu nền kinh tế đó sử dụng nội lực và là đường Q2Q4 n
ếu
nền kinh tế sử dụng cả nguồn nội lực và nguồn ngoại lực.
Hình 02. Quá trình mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất


Q
4
Q
2
Hàng hóa Y
Hàng hóa X
Q
1
Q
3
7
lực thành nội lực của sự phát triển đối với nước ta hiện vẫn là một trong những
vấn đề có ý nghĩa chiến lược.
Những vấn đề nêu trên đã và đang được bàn luận ở nhiều công trình
nghiên cứu của nhiều học giả, các giáo trình kinh tế học vĩ mô ở các đại học, các
báo cáo kinh tế của các chính phủ hay các tổ chức kinh tế quốc tế, đặc biệ
t là các
báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), của Tổ chức Chương trình phát triển của
Liên Hợp quốc (UNDP) hay của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát
triển châu Á (ADB),… Điều đáng chú ý là, các phân tích đã tập trung rất nhiều
vào các loại nguồn lực là các yếu tố đầu vào của sản xuất: vốn, sức lao động, tài
nguyên, công nghệ kỹ thuật.
Gần đây, một số công trình nghiên cứu đã đề c
ập đến những cách quan
niệm mới về nguồn lực phát triển, trong đó đáng chú ý là những phân tích về
một loạt các thành tố mới dưới góc nhìn mới, như vai trò của yếu tố địa kinh tế
và địa chính trị; sức mạnh tinh thần của yếu tố lịch sử, văn hóa; vai trò được
nhấn mạnh đặc biệt của tri thức, của công nghệ thông tin, truyền thông, tổ chức,
qu
ản trị… Nhiều trong số các nhân tố này được một số công trình nghiên cứu

phát triển. Vì vậy, rất cần xác định rõ gi
ới hạn khi nghiên cứu chủ đề này, và
trong phạm vi của đề tài, chúng tôi dự định sẽ chỉ tập trung vào động lực để phát
triển nhanh và bền vững nền kinh tế. Đảng ta, trong văn kiện các Đại hội và Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua cũng đã
nhiều lần đề cập đến các nội dung khác nhau của động lực phát triển và luôn coi
vấn
đề động lực cách mạng nói chung, động lực phát triển kinh tế nói riêng là
vấn đề hệ trọng. (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, 1991, 2001, 2006; Nghị quyết
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, 2003; Nghị
quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, 2007;
Quyết định 256/2003/QĐ-TTg; Quyết định 221/2005/QĐ-TTg).
Có nhiều công trình xem xét vai trò của thi đua (ví dụ: V.I. Lê-nin: Bàn
về thi
đua XHCN); lại có nhiều công trình phân tích cạnh tranh như động lực
chủ yếu của sự phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường dưới góc nhìn về sự đấu
tranh sinh tồn. Lại có cách tiếp cận khác khi xem xét động lực của phát triển qua
lát cắt của những chủ thể tham gia thị trường, như vai trò của các công ty lớn;
vai trò của chính phủ; của khu vực kinh tế tư nhân; FDI; của các ngành kinh tế
mũi nh
ọn; của các vùng kinh tế đầu tầu, đóng vai trò như những động lực kinh
tế của sự phát triển của một quốc gia Lại có lát cắt mang nhiều ý nghĩa triết
học hơn khi bàn về động lực phát triển kinh tế đối với lợi ích, bao gồm lợi ích
vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội,
v.v (Sen, 2002; Vũ Tuấn Anh, 1994; Đinh Văn Ân – Võ Trí Thành; 2002; Vũ

Đình Bách; 2000; UNDP, 2001; Nguyễn Cúc – Kim Văn Chính, 2006; Bạch
Thụ Cường; 2002; Thế Đạt, 2005; Phạm Minh Hạc, 2001; Ohkawa và Kohama,
2004; Đặng Cảnh Khanh, 1999; Seitz, 2004; Janos, 2002; Võ Đại Lược, 2007;
Nguyễn Văn Nam, 2006; Stiglitz và Yusuf, 2002; WB, 2000, 2001; Nguyễn

nên phổ cập. Ngày nay, cả giới lãnh đạo, giới học giả, giới truyền thông cũng
như đông đảo những người quan tâm đến phát triển đều đã thống nhất về cơ bản
rằng, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia đều phải dựa một cách vững chắc
trên các trụ cột: bền vững về kinh t
ế, bền vững về môi trường, bền vững về xã
hội và bền vững về thể chế.
- Sự phát triển bền vững về kinh tế nhìn chung được các học giả coi là
điều kiện nền tảng đảm bảo sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Không ít trường
hợp, các nền kinh tế ở một thời điểm thuận lợi nào đó, đạt
được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao, nhưng thời gian duy trì lại không được lâu. Sau một thời
gian ngắn ngủi, nền kinh tế tỏ ra “hụt hơi”, “mất đà”, tốc độ tăng trưởng chậm
dần, thậm chí chuyển sang suy thoái và rơi vào trạng thái thiểu năng. Đó là biểu
hiện điển hình của tình trạng phát triển không hiệu quả và không bền vững.
Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này là n
ền kinh tế đã tăng trưởng không phải
dựa trên tăng năng suất, mà chủ yếu nhờ khai thác các nguồn lực đầu vào một
cách ồ ạt nhưng không có hiệu quả (tăng trưởng “bong bóng xà phòng”).
- Sự phát triển bền vững về mặt môi trường vốn là được xem là cách hiểu
thông dụng, mang tính truyền thống về phát triển bền vững, tức mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh t
ế và việc khai thác, sử dụng, bảo vệ các nguồn tài nguyên
và môi trường thiên nhiên. Vấn đề nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên đã có
những cảnh báo từ rất sớm, nhưng có lẽ mãi đến đầu thập niên 80 của thế kỷ
XX, khi mà Câu lạc bộ Roma đưa ra những thông tin và cách nhìn mới về sự
cạn kiệt các nguồn tài nguyên - nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái
tạo như nhiên liệu hoá thạch (than đá, dầ
u mỏ), các loại quặng kim loại , cùng
10
với diễn biến của những cuộc khủng dầu mỏ mà điển hình là cuộc khủng dầu mỏ

sử dụng các nguồn của cải tự nhiên và nguồn lực chung không được phá huỷ các
cơ hội của các thế hệ tương lai.
Tuy nhiên, bảo tồn sự nguyên vẹn năng lực sản xuất không có nghĩa là
giữ nguyên hiện trạng thế giới như là khi chúng ta đã thấy nó trước đây. Cái cần
phải bảo tồn là các cơ hội cho thế hệ tương lai sống cuộc sống tốt lành. Có được
sự bền vững (cả sản xuất và tiêu dùng) ngụ ý rằng cái mà chúng ta có nghĩa v

phải để lại là năng lực chung để tạo ra phúc lợi, chứ không phải là cái gì hay
nguồn lực nào cụ thể. Bảo tồn trữ lượng các nguồn lực không có nghĩa là tất cả
các nguồn lực không tái tạo (như khoáng sản và nhiên liệu) phải được giữ
nguyên; điều này là không khả thi. Nhưng muốn duy trì trữ lượng các nguồn lực
của toàn bộ xã hội, hiểu theo nghĩa rộng, thì có l
ẽ những tài nguyên không tái
tạo phải được sử dụng một cách tối ưu nhất, và khi sử dụng hết cần phải được
11
thay thế bằng một cái nào đó khác. Đó bắt buộc phải là nguồn vốn có thể tái tạo
được, dù là vật chất hay con người. Ý tưởng cho rằng các khoản thu được từ các
tài sản đang cạn kiệt cần phải được tái đầu tư sao cho có thể đủ bù đắp cho các
nguồn tài nguyên đang cạn kiệt
Tuyên ngôn Thiên niên kỷ viết rằng, cần phải “Tôn trọng tự nhiên: Phải
thận trọng trong việ
c quản lý đời sống tất cả các loài sinh vật và các tài nguyên
thiên nhiên, phù hợp với phương châm phát triển bền vững. Chỉ có bằng cách
này chúng ta mới có thể được cung cấp các nguồn của cải vô hạn qua việc bảo
tồn thiên nhiên và truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Kiểu mô hình sản xuất và
tiêu dùng không bền vững hiện nay phải được thay đổi trong sự quan tâm về
tương lai thịnh vượng của chúng ta và của các thế
hệ mai sau” (WB, 2002). Đó
chính là tư duy mang tính kinh tế sâu sắc đã đạt được về vấn đề phát triển bền
vững về môi trường trong tương quan với phát triển kinh tế bền vững.

12
- Sự bền vững về thể chế là một bổ sung đáng kể mới nhất trong tư duy về
phát triển bền vững. Tính bền vững của sự phát triển vừa đòi hỏi phải được thể
hiện ở khía cạnh bền vững về thể chế, lại vừa đòi hỏi thể chế tạo lập cơ sở cho
sự phát triển
được bền vững. Thể chế, trong đó vai trò trung tâm là Nhà nước,
phải tạo ra một môi trường chung ổn định, an ninh về chính trị - xã hội; thân
thiện và hỗ trợ đối với thị trường, kinh doanh; đề cao những giá trị xã hội, sự
công bằng, nền dân chủ, ý thức chân thành tín nghĩa nếu tách rời ra khỏi các vấn
đề hệ trọng về chính trị, thể chế và cơ cấu quyền lực của vi
ệc định lại chiến lược
phát triển theo hướng bền vững trên các phương diện cơ bản thì bản thân các
khoa học xã hội nói chung, triết học và kinh tế học nói riêng rất ít có ý nghĩa. Vì
thế, việc xây dựng thể chế có ý nghĩa nền tảng quan trọng hàng đầu của sự phát
triển bền vững của Việt Nam.
Những yếu tố đảm bảo sự bền vững của th
ế chế được đề cập đến gồm:
tính đồng bộ, nhất quán và có hiệu lực của hệ thống pháp luật, đảm bảo cho sự
vận hành của nền kinh tế thị trường được dựa trên nền tảng pháp luật vững chắc,
phù hợp với thông lệ quốc tế. Nền hành chính gọn nhẹ, hiệu quả, tạo môi trường
thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh củ
a doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở
hữu. Kết hợp việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý Nhà nước với nâng cao
chất lượng cán bộ công chức. Các chương trình chiến lược và quy hoạch phát
triển của quốc gia phải thực sự trở thành một công cụ quản lý hữu hiệu trong tay
Nhà nước, thành căn cứ chỉ dẫn tin cậy cho các nhà đầu tư, kinh doanh
Như vậy, từ
các khía cạnh tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ chế nêu trên, có
thể khái quát lại là: “Chiến lược phát triển bền vững là sự hội tụ và thăng hoa
của mọi tư tưởng tốt đẹp được lưu truyền hết đời nọ sang đời kia trong nhân thế.

phát triển đang đặt ra rất cấp bách đối với nước ta. (Oxfam International, 1997;
UNDP, 2001; Đại học Quốc gia Hà Nội - Viện quốc tế Konrad Adenaner
Stiftung, 2001; Nguyễn Đình Hương, 2006; Phan Văn Khải, 2002; Todaro,
1998; Phạm Xuân Nam, 2005; Trần Nhâm, 1997; Anand và Sen, 1996; Bùi Tất
Thắng, 2006; UNDP – MPI/DSI, 2001; WB, 2001, 2002).
2.4. Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế
Phần tổng quan những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố
nêu trên cho thấy, từ
ng nội dung riêng biệt về nguồn lực, động lực, phát triển
nhanh và bền vững nền kinh tế được khai thác khá sâu và đề cập đến từ nhiều
chiều cạnh. Những phân tích này đã tạo dựng được khung khổ nền tảng về lý
thuyết cũng như tình hình thực tiễn để tiếp tục triển khai nghiên cứu những vấn
đề mà thực tiễn mới đang đặt ra và đòi hỏ
i phải giải đáp. Ở góc độ này, đề tài sẽ
kế thừa được nguồn tư liệu tham khảo rất phong phú.
Tuy nhiên, hạn chế của phần lớn những công trình nêu trên chính là chỗ
mà đề tài này được thiết kế ra với hy vọng bổ sung phần nào cho những thiếu
khuyết ấy. Đó là xuất phát từ yêu cầu phải phát triển nhanh và bền vững nền
kinh tế để đặt ra yêu cầu
đối với việc huy động và sử dụng các nguồn lực sao
cho được nhiều nhất, hiệu quả nhất; cũng như yêu cầu đối với việc tạo ra và duy
trì được tốt nhất động lực của sự phát triển. Hơn thế nữa, phía sau những mối
quan hệ biện chứng giữa nguồn lực – động lực – phát triển kinh tế nhanh và bền
vững phải là một triế
t lý, một tư duy phát triển khoa học, hợp quy luật, hợp xu
thế khách quan của thời đại là mở cửa, hội nhập và kinh tế thị trường, đó chính
là đòi hỏi đối với tư duy chính sách cho phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ đến
năm 2020 mà đề tài này phải đạt đến. (Vũ Tuấn Anh, 1994; Đinh Văn Ân – Võ
Trí Thành, 2002, Đỗ Bình, 2000; Lê Đăng Doanh, 2002; Đảng Cộng sản Việt
Nam, 1987, 1991, 2001, 2006; Agenda 21; Winters và Yusuf, 2007; Aghipon và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status