PHẦN MỞ ĐẦU
“Được voi đòi tiên” – Câu thành ngữ khá quen thuộc chỉ sự ham muốn
những điều mà mỗi người chưa có được… Xét ở khía cạnh nhu cầu giải trí,
nghỉ ngơi,… câu thành ngữ này dường như không là ngoại lệ.
Theo quy luật phát triển khách quan, khi đời sống xã hội được nâng cao,
nhu cầu vật chất được đảm bảo, chúng ta lại đi tìm những điều mới lạ, chưa
trải qua,… để thỏa mãn nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng,… Xuất phát từ nhu cầu
ấy, ngành du lịch đã ra đời. Là một ngành dịch vụ, lại là “đứa con đẻ” của nhu
cầu xã hội, được sự giàu có, đầy đủ về vật chất, đời sống “phôi thai” và tạo lập
một hướng đi bền vững, ngành du lịch trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng đã, đang và sẽ phát triển mạnh mẽ với một tốc độ “thần kì”, chiếm giữ
vị trí hàng đầu về sự phát triển trong các ngành kinh tế.
Ở Việt Nam – đất nước cong cong hình chữ S yêu kiều – ngành du lịch tuy
chỉ mới ra đời và phát triển trong vòng quay của 50 năm thời gian, nhưng “đứa
bé” du lịch ấy đã đạt được nhiều thành tựu, đóng góp lớn vào sự phát triển của
nền kinh tế - xã hội … và cũng có những điều khiến chúng ta phải bàn, phải lưu
tâm. Vậy với một “tuổi đời” còn khá non trẻ, du lịch Việt Nam đã “hoạt động”
như thế nào? Những “cơ sở ngành” nào đã góp phần làm nên thành tựu?
Đóng góp, tác động của du lịch Việt Nam ra sao? Và còn những vấn đề gì đáng
để chúng ta đưa lên “bàn tròn” hội nghị? Để trả lời cho những câu hỏi trên, kính
mời thầy và các bạn cùng đến với bài tiểu luận của nhóm “1Ko2” với đề tài:
“Tìm hiểu về hoạt động du lịch của Việt Nam”.
Với lượng kiến thức còn khá hạn hẹp và một sự nhìn nhận còn giản đơn,
không chuyên ngành,… nhưng nhóm “1Ko2” hi vọng bài tiểu luận này sẽ mang
đến cho quý thầy và các bạn một cái nhìn tổng quan, một sự hiểu biết chung
nhất về hoạt động của du lịch Việt Nam. Vì đây là thử thách đầu môn, cũng là
một trong số những bài tiểu luận đầu tay, nên dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn
đó những điều làm nên cái không hoàn thiện. Nhóm “1Ko2” rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến và chia sẻ chân thành từ quý thầy và các bạn để
những bài tiểu luận tới dần đạt độ sâu về nội dung, chuyên biệt về hình thức và
ngày càng hoàn thiện hơn.
trong nước, nhất là đối với hàng hóa thủ công mỹ nghệ: đan lát, thêu, mộc,
gốm sứ, tranh, ảnh, khảm, xà cừ,…
Du lịch giúp tạo ra các lãnh thổ nghỉ ngơi, các vườn quốc gia, công viên du
lịch,… đẩy mạnh việc bảo vệ môi sinh, môi trường; là cơ sở giúp người ta bảo
tồn các nền văn hóa, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, phục
hồi các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hóa,… đồng thời giúp giải quyết
việc làm cho đa số lao động phụ ở các thành phố, thị trấn.
GVHD : Ths. Trần Hoàng Giang 2
Du lịch là “con gà đẻ trứng vàng”, nó là chất xúc tác cho sự phát triển và đa
dạng hóa các ngành nghề kinh tế.
1.3 Các loại hình du lịch chủ yếu
− Du lịch làm ăn
− Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt
− Du lịch nội quốc, quá biên
− Du lịch tham quan trong thành phố
− Du lịch sinh thái
− Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm
− Du lịch hội thảo, triển lãm MICE
− Du lịch giảm stress, du lịch balo, tự túc khám phá.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM
2.1 Lịch sử phát triển ngành
Từ 1960 đến 1975, Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định số 20/CP
ngày 9/7/1960 thành lập công ty du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương;
năm 1969, chức năng này chuyển về Phủ thủ tướng; sau đó chuyển sang Bộ
Công an. Ngành du lịch đã từng bước mở rộng nhiều cơ sở du lịch ở Hà Nội,
Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An,… Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng,
hoạt động du lịch dần trải rộng ra các miền trên toàn quốc. Ngành du lịch
chuyển dần sang cơ chế thị trường định hướng XHCN.
Từ 1975 đến 1990, ngành du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn
và phát triển các cơ sở du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; lần lượt
núi già, núi đất và núi đá, cao nguyên cổ, đồng bằng phù sa mới, các vết đứt
gãy và hang động, thềm lục địa và hải đảo. Đặc biệt địa hình Việt Nam với 3/4
là đồi núi và địa hình bờ nước là những tài nguyên có giá trị. Địa hình đá vôi
phân bố rộng khắp từ vĩ tuyến 16
0
trở lên với nhiều hệ thống hang động như:
Phong Nha, Hương Tích, Bích Động,... Đặc biệt hơn cả là địa hình núi và hang
động ngập nước nhiệt đới điển hình ở Vịnh Hạ Long mà giá trị của nó đã góp
phần làm cho địa danh này được ghi tên vào danh sách các di sản thiên nhiên
thế giới.
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu ổn định, chênh
lệch nhiệt độ trong ngày và giữa các mùa không cao, dồi dào tiềm năng về du
lịch chữa bệnh nên được du khách rất ưa thích. Đặc biệt những du khách đến
từ xứ lạnh hay đến Việt Nam để tránh rét, những du khách đến từ xứ nóng tìm
đến các “phòng lạnh thiên nhiên” như: Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo,…
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 27 trong số 106 quốc gia có biển trên thế
giới với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm đẹp và thuận lợi cho
khai thác du lịch. Ngoài ra, theo các nhà địa chất thủy văn Việt Nam, ở nước ta
có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch như Kim Bôi (Hòa Bình),
Quang Hanh (Quảng Ninh), suối nước nóng Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu),
Tháp Bà (Nha Trang),...
Việt Nam có hơn 40000 di sản văn hóa vật thể và bất động sản (đình chùa,
miếu đền, thành quách, lăng mộ,…). Tính đến tháng 4/2004, VN có 2741 di
tích, thắng cảnh được xếp hạng quốc gia (trong đó có 1322 di tích lịch sử,
GVHD : Ths. Trần Hoàng Giang 4
1263 di tích kiến trúc nghệ thuật, 54 di tích khảo cổ và 102 di tích thắng cảnh).
Đặc biệt, Việt Nam có 6 di sản được UNESCO công nhận di sản thế giới, đó là:
Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh, 2 lần công nhận), vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ
Bàng (Quảng Bình), cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn (Quảng
Nam). Tính đến năm 2007, Việt Nam được UNESCO công nhận 6 “khu dự trữ
thậm chí là quá kém so với thế giới và khu vực.
GVHD : Ths. Trần Hoàng Giang 5
Thiếu nguồn nhân lực hoạt động trong ngành du lịch một cách trầm trọng,
ấy là chưa kể đến trình độ, kĩ năng chuyên môn của nguồn nhân lực này. Đặc
biệt là đội ngũ hướng dẫn viên vừa thiếu vừa yếu trong kĩ năng giao tiếp, ngoại
ngữ, hiểu biết kiến thức về văn hóa – xã hội, tâm lí khách hàng. Trong đó trình
độ ngoại ngữ là yếu nhất, năm 2006, 32% lao động dịch vụ trực tiếp biết tiếng
Anh ở mức độ khác nhau, tiếng Pháp 3,2%; Trung Quốc 3,6%; hướng dẫn viên
ở 2 thị trường khá lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc chưa tương xứng. Ngành du
lịch Việt Nam mới bắt đầu hội nhập, vừa hợp tác vừa tìm hiểu cơ chế và luật
chơi quốc tế nên khả năng chủ động đưa ra các dự án hợp tác còn nhiều hạn
chế. Chính vì vậy, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam, nhất là các đơn vị lữ
hành dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc và trở thành “người làm thuê” cho các
doanh nghiệp nước ngoài. Đa phần các doanh nghiệp du lịch nước ta thuộc
loại vừa và nhỏ, nên khi hòa mình vào sân chơi mới cùng thế giới, các doanh
nghiệp phải gánh trên vai áp lực nặng nề.
Luật du lịch Việt Nam vừa mới được ban hành và có hiệu lực, do vậy Luật
chưa thể “đáp ứng” được so với tình hình thực tế luôn thay đổi. Thủ tục hành
chính và hệ thống hạ tầng yếu kém vẫn là rào cản với các nhà đầu tư bất động
sản du lịch. Ông Macr Townsend, giám đốc điều hành CBRE Việt Nam nhận
định: “Xét về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, Việt Nam hiện nay vẫn chưa bằng
BaLi cách đây 28 năm”. Một nhà đầu tư khác cho biết: “Chúng tôi mất khoảng
3 – 6 tháng để chờ duyệt hồ sơ đăng kí đầu tư, rồi 3 năm để mua được đất,
sau đó thì thêm vài năm nữa để chờ đợi quá trình giải tỏa mặt bằng, đền bù,…
để có được đất “sạch”. Quá trình này quá mệt mỏi!”. Cộng với việc lãi suất
ngân hàng Việt Nam cao nhất nhì thế giới cũng là một bất lợi cho các nhà đầu
tư.
Những đợt quảng bá, xúc tiến du lịch Việt Nam tại các thị trường ngoài
nước ít có hiệu quả do thiếu trọng tâm và quá trình khảo sát, nghiên cứu thị
trường trước đó chưa liên tục, ít đổi mới, sáng tạo về hình thức, do vậy dễ
số 20-CP, ngày 27/12/1992 và Nghị định số 53-CP, ngày 07/8/1995, quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch. Nhờ
ổn định và từng bước được kiện toàn về tổ chức, du lịch nước ta mới khởi sắc
và phát triển.
Bênh cạnh đó, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010 và
Chương trình hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch để
điều chỉnh các quan hệ Du lịch ở tầm cao hơn; khẳng định một lần nữa vị thế
của ngành Du lịch ngay từ trong đường lối, chính sách và thể chế.
Lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh, thích nghi dần với cơ chế
mới, từng bước làm ăn có hiệu quả: Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của
cả 6 thành phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư
bản nhà nước; 100% vốn nước ngoài). Tính đến năm 2005, cả nước đã có
khoảng 6.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 399 doanh nghiệp lữ hành quốc tế,
trong đó có 203 doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, 124 doanh nghiệp nhà
nước, 63 doanh nghiệp cổ phần, 8 liên doanh và 2 doanh nghiệp tư nhân.
Trong 5 năm (2001 – 2005), Chính phủ đã cấp 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư
hạ tầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm. Cùng với đầu tư của Nhà nước và
GVHD : Ths. Trần Hoàng Giang 7
các thành phần kinh tế trong nước, ngành Du lịch đã thu hút mạnh mẽ nguồn
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tính đến năm 2005 cả nước có 190 dự án với
tổng số vốn đăng ký đầu tư là 4,64 tỷ USD, ở 29 tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
Bảng 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời kỳ 1995 – 2004
Năm 1995 2000 2001 2002 2003 2004
Thời kỳ
1995- 2004
Số dự án 24 02 04 25 13 15 83
Vốn (Triệu USD) 1.381,2
(3)
GVHD : Ths. Trần Hoàng Giang 8