TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành đồ án này em tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S
Chu Thị Thu Hiền, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm đồ án
tốt nghiệp!
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa, đặc biệt là các
thầy cô trong Bộ môn Công nghệ Kỹ thuật Môi trường – Khoa Công
nghệ Hóa học và Môi trường - Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng
Yên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập. Với vốn kiến
thức tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho thực hiện
mà còn là hành trang vững chắc cho bước đường tương lai trong sự
nghiệp của em.
Em cũng thầm biết ơn gia đình, bạn bè và những người thân yêu
luôn là chỗ dựa vững chắc cho em.
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô và gia đình luôn dồi
dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý!
Hưng Yên, ngày 17 tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Lê Dũng Hiệp
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 1
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN! 1
1.4.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư thành phố Hưng Yên 10
Ô nhiễm môi trường nước do y tế 15
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 2
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
bề mặt. bên cạnh đó các cơ sở hạ tầng công nghiệp chưa phát triển toàn diện, công tác
quản lý, kiểm tra môi trường chưa được tiến hành một cách quy mô thường xuyên.
Mọi sinh vật không thể tồn tại trên Trái Đất nếu không có nước. Tuy nhiên, sinh
vật cũng không thể sống được nếu như nguồn nước bi ô nhiễm. Thực tế cho thấy, các
bệnh dịch phát triển, lây lan nhanh chóng ở con người và động thực vật, bắt đầu từ
việc sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Đặc biệt là đối với sự phát triển của ngành công
nghiệp hiện nay trên thế giới, rất nhiều nguyên liệu sử dụng trong các ngành công
nghiệp lại chính là tác nhân gây ra sự ô nhiễm trong nước, trong đó phải kể đến các
kim loại nặng, các hợp chất hữu cơ, các loại cặn bẩn…đây là các tác nhân gây hại cho
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 4
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
nguồn nước, hủy hoại môi sinh. Vì vậy việc khảo sát và đánh giá hiện trạng môi
trường nước là một việc rất cần thiết. Từ đó xác định các giải pháp bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững.
Đề tài “ Khảo sát và đánh giá chất lượng nước mặt khu vực thành phố
Hưng Yên” là cần thiết và có tính thực tiễn cao. Với mục tiêu là tiến hành lấy mẫu
thực tế, phân tích các chỉ tiêu cần thiết và từ đó đưa ra kết luận, đánh giá tổng thể về
chất lượng nước mặt của khu vực thành phố Hưng Yên. Tôi hy vọng những nghiên
cứu của đề tài này sẽ đóng góp được một số thông tin cơ bản về hàm lượng các chỉ tiêu
trong nước ngầm, giúp các cơ quan có thẩm quyền đưa ra các biện pháp cụ thể để hạn
chế, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt nói riêng và nguồn nước nói chung. Từ đó,
tìm ra giải pháp hữu hiệu bảo vệ môi trường nước, đem lại nguồn nước sạch cho người
dân.
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 5
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm, nguồn gốc, nguyên nhân gây ô nhiễm nước.
1.1.1. Khái niệm ô nhiễm nước
Sự ô nhiễm không chỉ đơn thuần là sự ô nhiễm do sinh vật và các chất hữu cơ
khó phân hủy mà còn cả sự ô nhiễm do nhiều chất hữu cơ, sản phẩm dầu, các chất tẩy
rửa, các chất phóng xạ.
Tại tất cả các nước, sự gia tăng dân số, sự tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa, công
nghiệp hóa đều dẫn tới sự gia tăng về ô nhiễm nước.
1.2. Các yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước
Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các hóa chất độc hại, các loại vi khuẩn gây
bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công
nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải
sinh hoạt bình thường của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ …
sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, song, suối hoặc ngấm
xuống nước dưới đất mà không qua xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả
năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao hồ, sông, suối.
a. Kim loại nặng
Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn… thường không tham gia
hoặc ít tham gia và quá trình sinh hóa của các thể sinh vật và thường tích lũy trong cơ
thể chúng. Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật. Hiện tượng nước bị
nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực gần các khu công nghiệp, các thành
phố lớn và các khu vực khai thác khoáng sản. Ô nhiễm kim loaị nặng biểu hiện ở nồng
độ cao của các kim loại trong nước. Một số trường hợp xuất hiện hiện tượng chết hàng
loạt các loại cá và thủy sinh vật.
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi
trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua xử lý hoặc xử lý
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 7
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
không đạt yêu cầu. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi
trường sống của sinh vật và con người. Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm
nhập vào cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước
ngầm, vào đất và các thành phần môi trường có liên quan khác. Để hạn chế ô nhiễm
đất, nước, ô nhiễm đất, nước, làm giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn,
suy giảm các loại thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo
vệ thực vật.
1.3. Nhu cầu bảo vệ tài nguyên nước
Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao, con
người đã lờ đi các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên và môi trường một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng
lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm
nhiều hình thức dịch vụ…
Sự gia tăng dân số, phát triển và đô thị hóa đã và đang gây ra áp lực ngày càng
lớn tới tài nguyên nước (TNN), gây tình trạng thiếu nước và cạn kiệt nguồn nước.
Tình trạng thiếu nguồn nước sẽ được cải thiện nếu mọi tổ chức, doanh nghiệp sử dụng
nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hay thói quen sinh hoạt và nhu
cầu sử dụng nước hàng ngày của mỗi người dân thay đổi.
Việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước có thể nói là không khó khăn, tuy nhiên
việc này đòi hỏi sự thống nhất đồng lòng của tất cả mọi người trong xã hội.
Qua số liệu kiểm tra tình hình sử dụng nước tại một số vùng nông thôn cho thấy
hơn 95% hộ gia đình sử dụng nước dưới đất phục vụ cho nhu cầu ăn uống, tắm rửa vệ
sinh hàng ngày và chăn nuôi, trồng trọt … với hình thức khai thác chủ yếu là giếng
khoan (khoảng 98%).
Qua kết quả khảo sát cũng cho thấy ý thức tự bảo vệ, giữ gìn vệ sinh nguồn
nước của người dân chưa cao, giếng khoan tại các hộ dân bố trí quá gần các nơi có
nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước cao như nhà vệ sinh, sàn nước, bể tự hoại,… và
phần lớn các giếng khoan không có bệ giếng bảo vệ. Việc sử dụng nguồn nước còn
nhiều hoang phí, chưa có ý thức tiết kiệm nước, không tận dụng nguồn nước mưa,
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 9
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
nước ao hồ để sử dụng trong tưới cây, làm mát… khai thác sử dụng tài nguyên nước
chưa đúng quy định của nhà nước, chưa nhận thức đầy đủ về bảo vệ tài nguyên nước
(4.685,51 ha) bao gồm: Đất ở đô thị: 327,27
ha, đất chuyên dùng: 814,46 ha, đất ở nông thôn: 468,57 ha, đất nông nghiệp: 2.273,43
ha, đất chưa sử dụng:146,05 ha, đất tôn giáo, tín ngưỡng, sông suối mặt nước chuyên
dùng, phi nông nghiệp khác và nghĩa trang: 655,73 ha.
- Đơn vị hành chính: Thành phố Hưng Yên có 12 đơn vị hành chính gồm 7
phường (Quang Trung, Lê Lợi, Minh Khai, Hồng Châu, Hiến Nam, An Tảo, Lam Sơn)
và 5 xã (Bảo Khê, Trung Nghĩa, Liên Phương, Hồng Nam, Quảng Châu).
- Khí hậu: Thành phố Hưng Yên nằm trong vùng trung châu thổ Bắc Bộ thuộc
khu vực nhiệt đới gió mùa lượng nhiệt ẩm dồi dào. Hàng năm có hai mùa nóng và lạnh
rõ rệt:
+ Mùa lạnh khô và ấm từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
+ Mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10.
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 10
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
- Sông ngòi và chế độ nước: Phố Hiến xưa - Thành phố Hưng Yên ngày nay
được hình thành và phát triển là phần lớn chịu sự ảnh hưởng của hai con sông lớn:
sông Hồng và sông Luộc; Chảy qua Thành phố Hưng Yên ngày nay còn có sông Hồng
và sông Điện Biên.
Sông Hồng là con sông khởi nguồn từ Trung Quốc, có tổng chiều dài là 1.183km.
Phần thuộc lãnh thổ Việt Nam là 493km, nơi rộng nhất là1.300m, hẹp nhất là 400m.
Sông Hồng chảy qua Hưng Yên khoảng 67km, tạo thành giới hạn tự nhiên về phía tây
của tỉnh. Sông Hồng chảy đến phía bắc của tỉnh gọi là sông Thiên Mạc, đến Kim Động
và thành phố Hưng Yên gọi là Đằng Giang. Từ khi Pháp xâm lược nước ta thì gọi chung
là sông Hồng Hà, sông Hồng. Sông Hồng chảy xuống vùng trung châu Bắc Bộ có đặc
điểm là uốn khúc quanh co, cộng thêm là dòng chảy mạnh nên đã tạo ra sự sụt lở cũng
như bồi tụ hai bên bờ ở những chỗ khúc uốn của dòng sông. Thành phố Hưng Yên ngày
nay chúng ta còn thấy sự bồi lấp của sông Hồng đã đẩy dòng chảy của sông cách xa bờ
đê bao của thành phố khoảng 2km về phía tây và phía nam.
Sông Điện Biên là dòng sông đào, chảy từ sông Hoan Ái (từ Lực Điền – Yên
trường nước mặt được cân bằng. Nhưng vài năm trở lại đây do sự phát triển của xã
hội, quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh, nên nhiều các ao hồ đã bị san lấp,
làm mặt bằng phục vụ cho xây dựng. Hiện tại trong thành phố còn 3 hồ: Hồ Bán
Nguyệt, hồ An Vũ I và hồ Đầm Nồi. Ngoài chức năng để nuôi trồng thuỷ sản, hồ sinh
thái để chứa nước mưa tạm thời cho việc tiêu thoát trong nội thị, còn là khu vực chứa
nước thải của khu vực dân cư xung quanh. Khi số lượng ao hồ ngày càng bị thu hẹp
dần cho nên nước của những ao hồ còn lại ngày càng bị suy giảm chất lượng do quá
trình chứa nước mưa quá tải.
Tính đến hết năm 2004, tổng diện tích hồ điều hòa của thị xã hiện nay còn
khoảng 47,73 ha (so với trước đây là 70,04 ha). Hồ Bán Nguyệt đang phải tiếp nhận
nước bẩn và nước mưa từ khu vực dân cư phương Minh Khai, một số cơ sở sản xuất
gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nước.
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 12
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1.4.2. Các nguồn gây ô nhiễm trên khu vực:
Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao kéo theo
các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên và môi trường một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo đã làm
cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn. Sự gia tăng dân số quá
nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước. Vì nhu cầu nước cho phát
triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia
tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ…
• Nguồn ô nhiễm do hoạt động sống của con người
Các dòng nước mặt (sông, hồ, ao…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm
trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào hồ ao chưa qua
xử lý. Tình trạng xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản
trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia
tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn
nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặt để xử lý
được xử lý hoặc có xử lý nhưng không đạt QCVN vào sông hồ gây ô nhiễm nước mặt,
nước dưới đất.
• Ô nhiễm do hoạt động làng nghề thủ công truyền thồng.
Là một tỉnh có khá nhiều làng nghề thủ công truyền thống. Do đó nước thải từ
các hoạt động sản xuất phần lớn được thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua
hệ thống xử lý. Do đó gây ra ô nhiễm môi trường tại các khu vực làng nghề. Đây là
dạng ô nhiễm tương đối phổ biến, đặc trưng và khá nghiêm trọng tại các tỉnh có làng
nghề thủ công truyền thống tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
• Nguồn ô nhiễm do một số nguyên nhân khác
Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các
vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của
dòng nước.
Các bãi chôn lấp rác thải không đạt yêu cầu kỹ thuật, nước rỉ ra từ rác thấm vào
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 14
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
mạch nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch.
Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các
tàu bè đi lại, hoặc các sự cố vận chuyển khác trên sông.
Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng
bừa bãi hoang phí, không đúng mục đích sử dụng.
• Ô nhiễm môi trường nước do y tế
Nguồn nước thải y tế của bệnh viện tại các đô thị hiện cũng đang là mối quan tâm
của thành phố. Hiện tại thành phố có 3 bệnh viện và 13 trạm y tế cấp xã với tổng 200
giường bệnh nhưng đa số các bệnh viện,trạm y tế chưa được xây dựng hệ thống xử lý
nước thải, nếu có thì các hệ thống xử lý này hoạt động không hiệu qủa, các bệnh viện
khác vẫn đang thải trực tiếp nước thải ra nguồn tiếp nhận. Trong tương lai, khi nền kinh
tế và dân số ngày một gia tăng thì lượng nước thải y tế cũng sẽ tăng theo, nếu như nguồn
nước thải này không được quan tâm đúng mức thì đây sẽ là nguy cơ rất cao góp phần
gây ô nhiễm môi trường và lây lan mầm bệnh tại khu vực đô thị nói riêng và môi trường
* Tổng hàm lượng các chất rắn (TS):
Các chất rắn trong nước có thể là những chất tan hoặc không tan. Các chất này
bao gồm cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lượng các chất rắn (TS :
Total Solids) là lượng khô tính bằng mg của phần còn lại sau khi làm bay hơi 1 lít mẫu
nước trên nồi cách thủy rồi sấy khô ở 105
0
C cho tới khi khối lượng không đổi (đơn vị
tính bằng mg/L).
* Tổng hàm lượng các chất lơ lửng (SS):
Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong
nước. Hàm lượng các chất lơ lửng (SS : Suspended Solids) là lượng khô của phần chất
rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô ở
105
o
C cho tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L.
* Tổng hàm lượng các chất hòa tan (DS):
Các chất rắn hòa tan là những chất tan được trong nước, bao gồm cả chất vô cơ
lẫn chất hữu cơ. Hàm lượng các chất hòa tan DS (Dissolved Solids) là lượng khô của
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 16
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
phần dung dịch qua lọc khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc có giấy lọc sợi thủy tinh
rồi sấy khô ở 105
o
C cho tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L. DS = TS –
SS
* Tổng hàm lượng các chất dễ bay hơi:
Để đánh giá hàm lượng các chất hữu cơ có trong mẫu nước, người ta còn sử
dụng các khái niệm tổng hàm lượng các chất không tan dễ bay hơi (VSS: Volatile
Suspended Solids), tổng hàm lượng các chất hòa tan dễ bay hơi (VDS: Volatile
đặc biệt là các muối carbonat và bicarbonat. Độ kiềm cũng có thể gây nên bởi sự hiện
diện của các ion silicat, borat, phosphat… và một số acid hoặc bazơ hữu cơ trong
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 17
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
nước, nhưng hàm lượng của những ion này thường rất ít so với các ion HCO
3
-
, CO
3
2-
,
OH
-
nên thường được bỏ qua.
Khái niệm về độ kiềm (alkalinity – khả năng trung hòa acid) và độ acid
(acidity– khả năng trung hòa bazơ) là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá động thái
hóa học của một nguồn nước vốn luôn luôn chứa carbon dioxid và các muối carbonat.
* Độ cứng của nước:
Độ cứng của nước gây nên bởi các ion đa hóa trị có mặt trong nước. Chúng
phản ứng với một số anion tạo thành kết tủa. Các ion hóa trị 1 không gây nên độ cứng
của nước. Trên thực tế vì các ion Ca
2+
và Mg
2+
chiếm hàm lượng chủ yếu trong các ion
đa hóa trị nên độ cứng của nước xem như là tổng hàm lượng của các ion Ca
2+
và Mg
2+
2
, CO
3
2-
, SO
4
2-
, PO
4
3-
và cả NO
3
-
.
* Các hợp chất clorua:
Clo tồn tại trong nước dưới dạng Cl
-
. Nói chung ở mức nồng độ cho phép thì
các hợp chất clor không gây độc hại, nhưng với hàm lượng lớn hơn 250 mg/l làm cho
nước có vị mặn. Nước có nhiều Cl
-
có tính xâm thực ximăng.
* Các hợp chất sulfat:
Ion SO
4
2-
có trong nước do khoáng chất hoặc có nguồn gốc hữu cơ. Với hàm
lượng lớn hơn 250 mg/L gây tổn hại cho sức khỏe con người. Ở điều kiện yếm khí,
SO42- phản ứng với chất hữu cơ tạo thành khí H
2
tụ trong các chuỗi thức ăn của hệ sinh thái. Quá trình này bắt đầu với nồng độ thấp của
các kim loại nặng tồn tại trong nước hoặc cặn lắng, rồi sau đó được tích tụ nhanh trong
các thực vật và động vật sống ở dưới nước. Tiếp đến các sinh vật khác sử dụng các
thực vật, động vật này trong chuỗi thức ăn dẫn đến nồng độ các kim loại nặng được
tích tụ trong cơ thể sinh vật trở nên cao hơn. Cuối cùng đến sinh vật cao nhất trong
chuỗi thức ăn, nồng độ kim loại nặng đủ lớn để gây độc hại.
• Triệu chứng nhiễm độc kim loại nặng:
+ Chì (Pb):
Chì là một kim loại có độc tính cao, nó có khả năng tích đọng lâu dài trong cơ
thể bằng con đường xâm nhập khác nhau, chủ yếu bằng đường hô hấp và ăn uống. Khi
xâm nhập vào cơ thể, chì kết hợp với albumin của máu và tạo thành albuminat chì ở
trong máu, đặc biệt gắn với hồng cầu(90% chì trong máu), phần còn lại gắn với
protein của huyết tương hoặc khuếch tán sau đó tập trung ở các hệ thống cơ quan. Từ
kho dự trữ của xương trong những tình trạng nhất định của cơ thể, chì được chuyển lại
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 20
SVTH : Lê Dũng Hiệp
TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
vào máu dưới dạng dễ phân ly, có độ hòa tan gấp trăm lần so với phốtphát chì Pb-
3
(PO
4
)
2
, ở dạng này chì sẽ gây độc cho cơ thể.
Chì tác động đến sự tổng hợp máu dẫn tới phá vỡ hồng cầu. Chì ức chế một số
enzim quan trọng của quá trình tổng hợp máu gây nên hiện tượng thiếu máu do sự
thiếu hemoglobin, gây phá hủy não, thận, viêm dạ dày, ruột…Chì còn cản trở việc sử
dụng ôxy và glucoza để sản xuất năng lượng cho quá trình sống. Hàm lượng chì
khoảng 0,5 – 0,8 ppm sẽ gây rối loạn chức năng của thận và gây phá hủy não, hàm
lượng chì lớn hơn 0,8 ppm sẽ gây thiếu máu trầm trọng.
của HCO
3
-
,
SO
4
2-
, Cl
-
…, còn trong nước bề mặt, Fe
2+
nhanh chóng bị oxid hóa thành Fe
3+
và bị kết
tủa dưới dạng Fe(OH)
3
:
2Fe(HCO
3
)
2
+ 0,5O
2
+ H
2
O > 2Fe(OH)
3
+ 4CO
2
Nước thiên nhiên thường chứa hàm lượng sắt lên đến 30 mg/l. Với hàm lượng
6 Amoni (NH
+
4
) (tính theo N) mg/l 0,1 0,2 0,5 1
7 Clorua (Cl
-
) mg/l 250 400 600 -
8 Florua (F
-
) mg/l 1 1,5 1,5 2
9 Nitrit (NO
-
2
) (tính theo N) mg/l 0,01 0,02 0,04 0,05
10 Nitrat (NO
-
3
) (tính theo N) mg/l 2 5 10 15
11 Phosphat (PO
4
3-
) (tính theo P) mg/l 0,1 0,2 0,3 0,5
12 Xianua (CN
-
) mg/l 0,005 0,01 0,02 0,02
13 Asen (As) mg/l 0,01 0,02 0,05 0,1
14 Cadimi (Cd) mg/l 0,005 0,005 0,01 0,01
15 Chì (Pb) mg/l 0,02 0,02 0,05 0,05
16 Crom III (Cr
3+
Endosunfan(Thiodan)
Lindan
Chlordane
Heptachlor
µg/l
µg/l
µg/l
µg/l
µg/l
µg/l
0,05
0,001
0,005
0,3
0,01
0,01
0,1
0,002
0,01
0,35
0,02
0,02
0,13
0,004
0,01
0,38
0,02
0,02
0,015
0,005
1200
450
160
1800
500
200
2000
29 Tổng hoạt độ phóng xạ
α
Bq/l 0,1 0,1 0,1 0,1
30 Tổng hoạt độ phóng xạ
β
Bq/l 1,0 1,0 1,0 1,0
31 E.coli MPN/
100ml
20 50 100 200
32 Coliform MPN/
100ml
2500 5000 7500 10000
PHẦN II: THỰC NGHIỆM
2.1. Hóa chất và dụng cụ
2.1.1. Hóa chất
- Các kim loại: Pb, Fe, As
- Kali hidroxit KOH 1M
- Axit sunfuric H
2
SO
4
4M đậm đặc.
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 24
- Máy đo TDS SENSION 5 (HACH)
- Tủ BOD, khay đựng chai, chai BOD, con khuấy, đầu đo BOD
- Ống phản ứng COD, máy gia nhiệt,
- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS 7000 của hãng Shimadzu – Nhật Bản.
- Lò sấy
- Cốc cân, bình định mức 25, 50, 100,250 ml
- Giấy lọc, phễu lọc, bình tia, quả bóp cao su.
- Buret, pipet 1, 5, 10, 25 ml
2.2. Cách lấy mẫu phân tích
2.2.1. Vị trí lấy mẫu
Để khảo sát, đánh giá chất lượng nước mặt khu vực thành phố Hưng Yên một
cách hệ thống thì việc xác định nơi lấy mẫu là việc rất cần thiết. Tôi đã chọn và tiến
hành lấy mẫu nước ở 4 vị trí khác nhau. Trong đó có các vị trí:
+ Lưu vực Sông Hồng thuộc địa phận phường Hồng Châu
+ Hồ Bán Nguyệt thuộc địa phận phường Quang Trung
+ Hồ Đầm Nồi thuộc địa phận phường Lê Lợi
+ Hồ An Vũ I thuộc địa phận phường Lê Lợi
Để mẫu lấy phù hợp với mục đích của việc phân tích và dựa trên sự nghiên cứu,
khảo sát kỹ lưỡng địa hình của sông, hồ. Việc lấy mẫu được tiến hành ở các thời điểm
GVHD: Th.S.Chu Thị Thu Hiền 25
SVTH : Lê Dũng Hiệp