Giải pháp tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Pdf 26

Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Danh mục chữ viết tắt
1. Ngân sách Nhà nước NSNN
2. Xây dựng cơ bản XDCB
3. Nguồn nhân lực NNL
4. Chuyên mơn kỹ thuật CMKT
5. Ủy ban nhân dân UBND
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
1
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
LỜI MỞ ĐẦU
Một quốc gia muốn tồn tại và phát triển thì không thể không đầu tư vào
cơ sở hạ tầng. Đặc biệt trong tiến trình đổi mới hiện nay, khi mà nền kinh tế
nước ta đang từng bước “chuyển mình” thì đầu tư trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng cơ bản càng đóng vai trò quan trọng. Hàng năm Nhà nước dùng hàng
ngàn tỷ đồng đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực xây dựng để góp phần phát
triển kinh tế xã hội đất nước. Do vậy việc quản lý vốn đầu tư Xây dựng cơ
bản sao cho một đồng vốn đầu tư được bỏ ra là có hiệu quả, mang lại lợi ích
cao nhất cho đất nước là rất quan trọng. Nhận thức được điều đó, nhất là trong
những năm tới, nhu cầu vốn đầu tư cho các công trình XDCB nói chung và
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng ngày càng lớn, trong khi đó khả năng đáp
ứng của Ngân sách là có hạn thì việc quản lý, sử dụng nguồn vốn này một
cách có hiệu quả , chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng đang là vấn đề được
Đảng, Nhà nước cũng như toàn xã hội rất quan tâm.
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề cùng với nhận thức của bản thân
qua việc nghiên cứu thực tế tại Sở Tài chính Bắc Ninh em xin chọn đề tài :
“Giải pháp tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”. Thông qua việc phân tích thực trạng chi Ngân
sách Nhà nước cho đầu tư Xây dựng cơ bản trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh để
đưa ra một số ý kiến nhận xét và đề xuất biện pháp nhằm tăng cường việc
quản lý chi Ngân sách nhà nước cho đầu tư Xây dựng cơ bản.

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2002
thì "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm, để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước".
Nội dung của ngân sách nhà nước gồm có: thu ngân sách nhà nước, chi
ngân sách nhà nước, cân đối thu chi ngân sách nhà nước. Trong đó chi ngân
sách nhà nước hay chi tiêu công là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc
các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích,
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
3
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế,
chống thất nghiệp hay nói cách khác chi ngân sách nhà nước là quá trình
phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
cho việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước.
Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các
khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập
trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang
các sự nghiệp văn hóa - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà
nước và đảm bảo an ninh quốc phòng. Chi NSNN chính là việc cung cấp các
phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của nhà nước. Việc cung cấp này có
những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chi NSNN luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chính
trị, xã hội mà Chính phủ phải đảm bảo nhận trước mỗi quốc gia. Mức độ,
phạm vi chi tiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào tính chất nhiệm vụ của
chính phủ trong mỗi kỳ.
Thứ hai, tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ
mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã
hội và chính trị, ngoại giao. Chính vì vậy, trong công tác quản lý tài chính,
một yêu cầu đặt ra là: khi xem xét, đánh giá về các khoản chi ngân sách nhà

- Chi viện trợ nước ngoài.
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
- Chi khác.
Các khoản chi đó được cụ thể hóa trong Luật ngân sách nhà nước số
01/2002/QH11 ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2003, chi ngân sách nhà nước
gồm có:
a. Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi cho tiêu dùng trong tương
lai mang tính chất tích lũy. Nó có tác dụng làm tăng cơ sở vật chất quốc gia
và góp phần làm tăng trưởng kinh tế. Chi đầu tư bao gồm chi cho xây dựng
các công trình kiến trúc thuộc cơ sở hạ tầng, chi chuyển giao công nghệ, chi
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
5
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
để góp vốn vào các đơn vị sản xuất kinh doanh, chi để hình thành quỹ hỗ trợ
đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình dự án
phát triển kinh tế. Gồm có:
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi vốn;
- Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức
tài chính của Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp
luật;
- Chi bổ sung dự trữ nhà nước;
- Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án
nhà nước;
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
b. Chi thường xuyên: được thực hiện một cách đều đặn và thường xuyên
để phục vụ cho tiêu dùng trong hiện tại. Bao gồm chi tiêu cho tiêu dùng cá
nhân và chi tiêu dùng cho các đơn vị dự toán ngân sách trong đó chủ yếu là
các khoản chi lương, trợ cấp, chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ, chi chuyển giao

định này.
h. Chi bổ sung ngân sách cấp trên cấp cho cấp dưới.
i. Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách
năm sau.
* Nhà nước có thể thực hiện chi Ngân sách của mình bằng nhiều
phương pháp khác nhau như một số phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương thức ghi thu, ghi chi:
Là phương pháp thu và chi tại chỗ và cùng một thời điểm. Theo phương
pháp này thì giao cho các đơn vị tự thực hiện, sau đó quyết toán với ngân sách
nhà nước.
- Phương thức cấp phát vốn theo hạn mức:
Theo phương thức này thì các đơn vị phải sử dụng các khoản chi theo
đúng hạn mức và không được phép rút kinh phí vượt quá hạn mức qui định,
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
7
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
nếu có thì phải được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Hạn mức được cấp theo từng tháng, quý, năm và nếu chưa sử dụng hết thì
được chuyển sang tháng sau, quý sau, năm sau. Phương thức này chủ yếu áp
dụng đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Quy trình cấp phát của phương thức này như sau:
Bước 1: Trên cơ sở kế hoạch tài chính được phê duyệt, hàng năm cơ
quan tài chính tiến hành thông báo dự toán chi NSNN.
Bước 2: Các đơn vị chủ quản tiến hành phân phối hạn mức kinh phí cho
các đơn vị phụ thuộc.
Bước 3: Căn cứ vào thông báo hạn mức kinh phí được phân bổ, căn cứ
vào thực tế hoạt động của đơn vị và khi có nhu cầu sử dụng kinh phí, các đơn
vị thụ hưởng sẽ đến kho bạc Nhà nước rút kinh phí để sử dụng.
Bước 4: Các đơn vị thụ hưởng sẽ thanh toán chi trả cho các đơn vị cung
cấp hàng hóa, dịch vụ trên lượng kinh phí đã rút.

sản cố định nên không thể là sản phẩm bé nhỏ như sản xuất hàng loạt trong
sản xuất công nghiệp. Ngay trong bản thân một sản phẩm cũng có đầy đủ ba
phần: phần ngầm, phần nổi, phần cao, kết cấu của một sản phẩm rất phức tạp.
Do vậy sản phẩm xây dựng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, vật tư lao động, máy thi
công nhiều Vì vậy trong quản lý kinh tế, quản lý tài chính, hoạt động đầu tư
và xây dựng đòi hỏi phải làm tốt công tác kế hoạch hóa vốn đầu tư, lập định
mức kinh tế kỹ thuật và quản lý theo định mức.
c. Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản
phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác
Khác với sản phẩm của các ngành vật chất khác là sản phẩm tiêu dùng có
thời gian sử dụng rất ngắn thì sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình
xây dựng đã hoàn thành mang tính chất là tài sản cố định nên nó có thời gian
sử dụng rất lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn
giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho tới khi thanh lý. Do vậy phải chú
trọng nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế, quản lý tài chính, chất
lượng xây dựng trong tất cả các khâu như điều tra, lập dự án, thiết kế để
đảm bảo chất lượng công trình.
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
9
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
d. Về phương tiện sử dụng sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều
ngành, vùng địa phương như: đường giao thông quốc lộ, đường sắt, cảng
biển Do đó phải chú ý cân nhắc kỹ về chủ trương đầu tư nhằm hạn chế và
tránh thất thoát lãng phí khi triển khai dự án.
e. Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội,
văn hóa nghệ thuật và quốc phòng. Do vậy phải có trình độ tổ chức, phối hợp
các khâu từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây dựng, đấu thầu
mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng theo kết cấu công trình trong quá trình
thi công đến khi nghiệm thu khối lượng thực hiện từng phần, tổng nghiệm
thu và quyết toán dự án hoàn chỉnh đưa vào khai thác sử dụng.

d. Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn của
các điều kiện tự nhiên, điều kiện làm việc nặng nhọc
Điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, mưa gió, bão lụt, đều ảnh hưởng
đến quá trình xây dựng. Ảnh hưởng này thường làm gián đoạn quá trình thi
công, năng lực của các doanh nghiệp không được điều hòa, ảnh hưởng đến
sản phẩm dở dang, đến vật tư thiết bị thi công ảnh hưởng đến sức khỏe của
người lao động.
e. Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp
Trong quá trình thi công xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia,
nhiều thành phần kinh tế tham gia thực hiện phần việc của mình theo một
trình tự nhất định về thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật
hẹp. Do vậy các doanh nghiệp phải có trình độ phối hợp cao trong sản xuất
để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình.
Như vậy, đặc điểm của sản phẩm xây dựng và đặc điểm của sản xuất xây
dựng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm các công trình xây dựng
và giá cả trong xây dựng. Do vậy, nghiên cứu những đặc điểm này là cơ sở để
nghiên cứu tìm ra các giải pháp ngăn ngừa thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong
hoạt động đầu tư và xây dựng.
1.2.3 Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.3.1 Khái niệm và các nguồn vốn đầu tư Xây dựng cơ bản
a. Khái niệm
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
11
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục
đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chiphí
chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy
móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
Hay nói cách khác vốn đầu tư xây dựng cơ bản là loại vốn tích lũy được
của các cá nhân, tập thể và nhà nước nhằm thực hiện đầu tư phát triển sản

- Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia
c. Vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản: có thể chia
thành vốn đầu tư của ngân sách Trung ương và vốn đầu tư của ngân sách địa
phương.
- Vốn đầu tư của ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản
thu của ngân sách Trung ương nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích
của đất nước.
- Vốn đầu tư của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu
của ngân sách địa phương nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích của
chính địa phương đó. Nguồn này thường được giao cho các cấp chính quyền
địa phương quản lý sử dụng.
d. Cấu thành chi đầu tư xây dựng cơ bản:
Tùy theo yêu cầu quản lý, chi đầu tư xây dựng cơ bản được phân chia
theo nhữnh tiêu thức khác nhau.
* Theo hình thức tái sản xuất cố định chi đầu tư xây dựng cơ bản bao
gồm: chi xây dựng mới, cải tạo và mở rộng trang bị lại kỹ thuật.
- Chi đầu tư xây dựng mới bao gồm các khoản chi để xây dựng mới các
công trình, dự án. Kết quả là tăng thêm tài sản cố định, năng lực sản xuất mới
của nền kinh tế quốc dân. Đầu tư xây dựng mới là việc đầu tư theo chiều
rộng, cho phép ứng dụng thuận lợi kỹ thuật tiên tiến và thay đổi sự phân bố
sản xuất. Nhưng xây dựng mới đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, thời gian xây
dựng dài.
- Chi đầu tư cải tạo mở rộng, trang bị lại kỹ thuật bao gồm các khoản chi
để mở rộng đào tạo lại những năng lực và tài sản cố định hiện có nhằm tăng
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
13
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
thêm công suất năng lực và hiện đại hóa tài sản cố định. Cải tạo, trang bị lại
kỹ thuật là yếu tố để phát triển sản xuất theo chiều sâu.
* Theo cơ cấu công nghệ hay cơ cấu kỹ thuật của chi đầu tư, chi đầu tư

quản lý công trình, chi phí chuyên gia hướng dẫn thi công, chi phí tháo dỡ vật
kiến trúc, chi phí dùng đất xây dựng, chi phí đền bù hoa mầu đất đai, di
chuyển nhà cửa mồ mả, chi phí khánh thành nghiệm thu bàn giao công trình
- Chi dự phòng:
Đây là khoản chi phí để dự trù vốn cho các khối lượng phát sinh do thay
đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
khối lượng phát sinh không lường trước được, dự phòng do yếu tố trượt giá
trong quá trình thực hiện dự án.
1.3 Quản lý chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản
1.3.1 Mục tiêu quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB
Quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB nhằm nâng cao hiệu quả, phục vụ
tốt cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước, chống
lãng phí, thất thoát đang là vấn đề được Đảng, toàn dân quan tâm. Nhà nước
(Chính phủ, các Bộ, Ngành cũng như chính quyền địa phương các cấp) coi
đây là một trong những công việc trọng tâm trong việc thực thi công tác quản
lý. Thực tiễn về đầu tư và quản lý vốn đầu tư cho thấy khai thác, tìm kiếm
được các nguồn vốn cho đầu tư là quan trọng , song quan trọng hơn, mang
tính chất quyết định hơn là quản lý các nguồn vốn đó nhằm một mặt nâng
cao hiệu quả của vốn đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế, mặt khác chống thất
thoát, tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư. Đặc biệt đối với nguồn vốn ngân
sách nhà nước quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản một cách có hiệu quả còn
có ý nghĩa chính trị xã hội vô cùng to lớn. Quản lý chi NSNN cho đầu tư
XDCB để phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP cao và ổn định với cơ cấu
kinh tế phù hợp, cải thiện đời sống nhân dân.
1.3.2 Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý chi NSNN cho đầu tư
XDCB
1.3.2.1 Chủ thể quản lý:
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
15
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Công khai sẽ đảm bảo cơ chế "dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm
tra" trong quản lý. Từ đó sẽ đảm bảo tạo ra sự thi đua, nỗ lực, cạnh tranh lành
mạnh trong việc quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB.
Có thể thực hiện công khai trước hoặc công khai sau:
- Công khai trước là đề xuất dự án cho dân biết trước khi cơ quan nhà
nước quyết định có thực hiện dự án hay không, phương thức này đảm bảo cho
mọi công dân được tham gia với nhà nước trong việc quyết định sử dụng vốn
NSNN.
- Công khai sau là đề xuất dự án đầu tư được cơ quan quản lý nhà nước
phê duyệt và quyết định trước khi cho dân biết, phương thức này đảm bảo cho
dân biết NSNN được chi vào đâu, làm gì, thời gian thực hiện. Qua đó dan thm
gia vào quá trình kiểm tra thực hiện dự án.
1.3.3.3. Nguyên tắc “Triệt để”
Theo nguyên tắc này thì việc đầu tư phải liên tục, không bị dứt quãng,
tiến độ cấp phát vốn phải phù hợp với tiến độ thi công. Tức là không được để
xảy ra hiện tượng công trình chờ vốn hay vốn chờ công trình, nếu xảy ra một
trong hai hiện tượng này thì đếu làm cho việc đầu tư không đạt hiệu quả tốt.
Nếu xảy ra hiện tượng công trình chờ vốn thì không những đơn vị thi công
gặp khó khăn mà vốn còn chậm phát huy tác dụng. Còn nếu xảy ra hiện tượng
vốn chờ công trình thì làm cho vốn bị ứ đọng, không đảm bảo tiến độ thi công
đã đặt ra.
1.3.3.4. Nguyên tắc "Dứt điểm"
Theo nguyên tắc này thì việc cấp phát vốn phải được thực hiện dứt điểm
từng công trình, từng dự án. Tránh không để xảy ra hiện tượng "cấp phát vốn
bình quân" hoặc cấp phát vốn nhỏ giọt. Nếu cấp phát vốn bình quân thì do các
công trình to nhỏ khác nhau sẽ dẫn đến các công trình đều dở dang, thiếu vốn,
các dự án đều không hoàn thành dứt điểm. Nếu cấp phát vốn nhỏ giọt thì
lượng vốn cấp không phù hợp với tiến độ thi công, với quy mô của dự án, từ
đó ảnh hưởng đến quá trình sử dụng vốn của nhà nước.

tiến hành xây dựng sẽ dẫn đến phát sinh các chi phí để khắc phục khi dự án đi
vào hoạt động, hoặc phải đình chỉ hoạt động, tháo dỡ để di chuyển địa điểm
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
18
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
khác. Điều đó sẽ gây thất thoát, lãng phí vốn và tài sản, tạo lỗ hổng cho các
hiện tượng tiêu cực.
Kế hoạch hóa đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản
lý chi cho XDCB. Thực hiện tốt công tác này sẽ là cơ sở quan trọng để các
ngành, các địa phương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định hướng, cân đối,
tránh được hiện tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ, lãng phí nguồn lực.
1.3.4.2 Lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư.
Đầu tư XDCB với những đặc thù riêng của ngành xây dựng, đặc điểm
riêng của sản phẩm xây dựng làm cho vốn đầu tư XDCB thường là lớn, nhiều
rủi ro và thường được thực hiện trong thời gian dài theo những dự án đầu tư.
Dự án đầu tư được hiểu là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết
chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai ý tưởng đã đặt
ra (mục tiêu nhất định) với nguồn lực và thời gian xác định.
Dự án có vai trò rất quan trọng với các chủ đầu tư, các nhà quản lý và tác
động trực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Nếu không có dự án, nền
kinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển. Dự án là căn cứ quan trọng để
quyết định bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế hoạch hóa đầu tư và theo dõi quá trình
thực hiện đầu tư. Dự án là căn cứ để các tổ chức tài chính đưa ra quyết định
tài trợ, các cơ quan chức năng của Nhà nước phê duyệt và cấp giấy phép đầu
tư. Dự án còn là công cụ quan trọng trong quản lý vốn, vật tư, lao động trong
quá trình thực hiện đầu tư.
Lập dự án là giai đoạn nghiên cứu chi tiết ý tưởng đầu tư đã được đề
xuất và lựa chọn trên mọi phương diện: thị trường, kỹ thuật, kinh tế - xã hội,
tài chính, tổ chức, quản lý.
Sau khi lập dự án, khâu quan trọng tiếp theo là thẩm định dự án. Dù dự

phê duyệt thiết kế - dự toán là một bước cụ thể hóa hơn so với việc thẩm định
và phê duyệt dự án đầu tư, ở giai đoạn này các chi phí được xác định một
cách chính xác, cụ thể hơn.
Chất lượng phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán không chỉ là cơ
sở pháp lý, là căn cứ để quản lý và điều hành thực hiện dự án đầu tư cả về
chất lượng và chi phí xây dựng dự án, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
20
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
đầu tư của dự án. Chi phí đầu tư trong giai đoạn này được xác định dựa trên
tổng dự toán, dự toán xây lắp hạng mục công trình. Tổng dự toán của công
trình là tổng chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình được tính
toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế chi tiết (thiết kế bản vẽ
thi công). Dự toán xây lắp hạng mục công trình là chi phí cần thiết để hoàn
thành khối lượng công tác xây lắp của hạng mục công trình.
1.3.4.4 Lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án đầu tư
* Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời
thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh,
công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Là phương thức giao dịch đặc biệt,
người muốn xây dựng công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu
và điều kiện xây dựng công trình để người nhận xây dựng công trình (người
dự thầu hay còn gọi là nhà thầu) công bố giá mà mình muốn nhận. . Người
gọi thầu sẽ lựa chọn người dự thầu nào có giá dự thầu hợp lý và mang lại hiệu
quả cao nhất cho dự án. Có 4 hình thức đấu thầu:
Một là, đấu thầu tuyển chọn tư vấn. Là quá trình lựa chọn nhà thầu tư
vấn cung cấp các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về kiến thức và kinh nghiệm
chuyên môn.
Dịch vụ tư vấn bao gồm: Dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án (gồm có lập,
đánh giá, báo cáo quy hoạch, tổng sơ đồ phát triển, báo cáo nghiên cứu tiền
khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi), Dịch vụ tư vấn thực hiện dự án (gồm có

Bốn là, tự làm. Là hình thức được áp dụng khi chính bên mời thầu chính
là nhà thầu có thể thực hiện tốt nhất các yêu cầu của mình.
Năm là, mua sắm trực tiếp. Là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chọn
ngay một nhà thầu đang hoặc đã thực hiện một công việc nào đó của mình
(công việc này đã được thực hiện đầu thầu trước đó) để bổ sung khối lượng
của chính công việc này.
Sáu là, chào hàng cạnh tranh. Là hình thức thường được áp dụng khi bên
mời thầu muốn mua sắm hàng hóa thông dụng, yêu cầu kỹ thuật không cao và
giá chào hàng là tiêu chí duy nhất để lựa chọn nhà thầu.
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
22
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Và các hình thức khác. Như là trong một số trường hợp do thiếu kinh
nghiệm, người bán không thể tự tổ chức đấu thầu và chọn nhà thầu được nên
phải thông qua các tổ chức mua sắm chuyên môn, các tổ chức này với tư cách
là đại diện cho người bán có thể sẽ tiến hành đấu thầu để chọn nhà cung cấp
tốt nhất.
1.3.4.5 Giám sát chất lượng, nghiệm thu xác định khối lượng xây dựng
cơ bản hoàn thành, nghiệm thu công trình.
Kiểm tra giám sát chất lượng công trình, dự án, các cân đối lớn, dự báo
khả năng và xu hướng phát triển làm cơ sở cho việc đề ra các mục tiêu kinh
tế, các chính sách, giải pháp và các định hướng về phân bổ nguồn lực, nâng
cao chất lượng xây dựng thẩm định các dự án. Chất lượng công trình được
xác định theo hồ sơ thiết kế đã được xác định trước khi sản xuất sản phẩm.
Giám sát chất lượng công trình là một phần công việc quản lý vốn đầu tư
XDCB. Nhà thầu thu công phải tự tổ chức nghiệm thu các công việc xây
dựng, đặc biệt là các công việc, bộ phận bị che khuất; bộ phận công trình; các
hạng mục công trình và công trình; trước khi yêu cầu chủ đầu tư nghiệm thu.
Đối với những công việc, giai đoạn thi công xây dựng sau khi nghiệm thu
được chuyển nhà thầu khác thực hiện thì nhà thầu đó phải xác nhận nghiệm

cơ sở hạ tầng xã hội. Là nền tảng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Nhà nước của bất kỳ quốc gia nào cũng đặc biệt quan tâm đến hoạt
động đầu tư này.
Đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng vừa tác động đến tổng cung
vừa tác động đến tổng cầu.
Về mặt cầu, đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ nền
kinh tế. Chính vì vậy mà Chính phủ đã sử dụng đầu tư như là một trong
những biện pháp kích cầu.
Về mặt cung, khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên. Sản
xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích lũy, phát triển kinh tế xã hội,
tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên
trong xã hội.
Đặng Thị Thanh Hiền TCDN 44A
24
Giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Đầu tư tăng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, các vùng
kinh tế. Để phát triển kinh tế ổn định, vững chắc với tốc độ cao, cần thiết phải
đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, từ đó nâng cao tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong GDP đồng
thời giải quyết sự mất cân đối phát triển giữa các vùng lãnh thổ nhằm phát
huy tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh giữa các vùng trên đất nước. Cụ thể đầu
tư đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy
tối đa lợi thế của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp
thúc đẩy những vùng khác phát triển.
Đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng là điều kiện tiên quyết của
sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của một đất nước. Công nghệ
là trung tâm của công nghiệp hóa. Có hai con đường để có công nghệ là tự
phát minh hoặc là nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là sự nghiên cứu hay
nhập từ nước ngoài đều cần phải có vốn đầu tư. Mọi phương án đổi mới công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status