PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1.Tínhcấp thiết của đề tài
Nghề chăn nuôi gà của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời nhưng do tập
quán chăn nuôi lạc hậu cho nên người nông dân chăn nuôi chủ yếu theo
phương thức quảng canh, phân tán, số lượng không nhiều, sản phẩm làm ra
mang tính tự cung tự cấp. Nhưng từ năm 1970 trở lại đây nghề nuôi gà có
những bước tiến nhanh và vững chắc. Từ phương thức chăn nuôi phân tán
quảng canh chuyển sang phương thức tập trung có quy mô như sự hình thành
các trang trại, gia trại và nông hộ nuôi gà, đồng thời ứng dụng tiến bộ khoa
học kĩ thuật chăn nuôi tiên tiến trên thế giới vào sản xuất nên đã đẩy nhanh
tốc độ phát triển đàn gà, khuyến khích dịch chuyển chăn nuôi trang trại công
nghiệp lên các vùng trung du miền núi, vùng còn nhiều quỹ đất, mật độ chăn
nuôi thấp, dân cư thưa, khuyến khích chuyển đổi các vùng đất trống, trồng
trọt kém hoặc dưới tán cây ăn quả để chăn nuôi gà vườn đồi. Đây chính là
một hướng xóa đói giảm nghèo mà Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng thực
hiện và đã có những thành công bước đầu. Trong chiến lược phát triển nông
nghiệp toàn diện, xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá bền vững, Bắc Giang
khuyến khích phát triển nghề chăn nuôi gà đồi về tất cả quy mô, năng suất và
chất lượng. Những năm qua nghề chăn nuôi gà đồi đã góp phần xoá đói giảm
nghèo, nâng cao mức sống cho hàng nghìn hộ dân trong tỉnh.
Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang. Với đặc điểm đất
đai đa dạng, huyện có khả năng phát triển chăn nuôi gia cầm cũng như cây
lương thực và các loại cây ăn quả, cây màu, cây công nghiệp có giá trị. Thực
hiện chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát huy lợi thế vùng, hiện
nay huyện đang tập trung phát triển chăn nuôi gà đồi. Sự phát triển chăn nuôi
gà đồi tại huyện không những đã góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn làm
cho Yên Thế trở thành vùng chăn nuôi gà theo quy mô lớn, mang đặc điểm
của sản xuất hàng hóa.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nghề chăn nuôi gà
đồi còn tồn tại một số khó khăn do trình độ hiểu biết và tiếp cận khoa học kỹ
của hộ nông dân trong huyện?
- Làm thế nào để nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững chăn nuôi
gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên
Thế, cụ thể:
- Theo quy mô: Lớn, trung bình, nhỏ.
- Theo đặc thù của hộ nuôi: Hộ kiêm ngành nghề, hộ thuần nông.
- Theo giống gà nuôi: Gà lai, gà ta.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
a. Về nội dung
Thực trạng phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế,
tỉnh Bắc Giang.
b. Về không gian
Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.Các nội
dung chuyên sâu được khảo sát tại các hộ nông dân điển hình ở 2 xã đại diện,
đó là xã Phồn Xương và xã Tam Tiến
c. Về thời gian
- Thời gian nghiên cứu đề tài: số liệu thứ cấp được thu thập trong 3
năm 2008, 2009, 2010. Số liệu sơ cấp được thu thập trong thời gian hộ chăn
nuôi gà đồi lứa gần nhất.
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 09/01/2011 đến ngày 23/05/2011.
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ ĐỒI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về phát triển phát triển kinh tế, phát triển chăn nuôi, phát triển bền
vững
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về sự phát triển bền vững, trong đó
định nghĩa đợc nhắc đến nhiều nhất là định nghĩa của Uỷ ban Thế giới về
Môi trờng & Phát triển đa ra năm 1987: Phát triển bền vững là sự phát
triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng
nhu cầu của thế hệ tơng lai. Ngày nay khái niệm bền vững phải nhắ hớng
tới: bền vững về kinh tế bền vững về chính trị, xã hội và bền vững về môi
trờng. Về phát triển nông nghiệp bền vững ta có thể dẫn ra định nghĩa của
TAC/CGIAR (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên
cứu nông nghiệp): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành
công tài nguyên nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của con ngời đồng thời
cải tiến chất lợng môi trờng và gìn giữ đợc tài nguyên nhiên nhiên. Nh
vậy là sự phát triển bền vững luôn luôn bao gồm các mặt:
- Khai thác sử dụng hợp lý nhất tài nguyên thiên nhiên hiện có để thoả
mãn nhu cầu ăn ở của con ngời.
- Gìn giữ chất lợng tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ sau.
- Tìm cách bồi dỡng tái tạo năng lợng tự nhiên thông qua việc tìm các
năng lợng thay thế, nhất là năng lợng sinh học (chu trình sinh học).
Trong định nghĩa trên, cũng cần phải lu ý đến mục tiêu mà nó phải đạt, đó là:
- Kinh tế sống động
- Kỹ thuật thích hợp
- Xã hội tiếp nhận
Định nghĩa này suy rộng ra còn nói đợc mối quan hệ xã hội, trình độ
phát triển kinh tế với các biện pháp kỹ thuật đợc áp dụng.
Phỏt trin chn nuụi
Khi núi n phỏt trin chn nuụi, ngi ta thng quan tõm n cỏc
khớa cnh: s lng, cht lng, hỡnh thc t chc chn nuụi v phng
thc chn nuụi.
Phỏt trin v mt s lng: s lng hay quy mụ vt nuụi ph thuc vo
mc tiờu chn nuụi hay nhu cu tiờu th cỏc sn phm chn nuụi. Vi mc
hộ có nhu cầu chi tiêu tiền mặt với số lượng nhỏ. Chăn nuôi nhỏ lẻ rất tiện
dụng đối với các hộ nông dân nhưng đây lại là hình thức chăn nuôi có hiệu
quả thấp, luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch cúm gia cầm.
Chăn nuôi tập trung được phát triển trong các hộ, các trang trại, doanh
nghiệp có điều kiện về mặt bằng sản xuất, về vốn đầu tư, về nhân lực, công
nghệ và thị trường tiêu thụ. Mục tiêu chính của những người chăn nuôi theo
những hình thức này là chăn nuôi hàng hóa tìm kiếm lợi nhuận. Tại Việt Nam
hiện nay số lượng các chủ hộ, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm tập
trung tuy không nhiều nhưng lại chiếm tỷ trọng đáng kể về sản phẩm hàng
hóa cung cấp cho thị trường xã hội. Phát triển chăn nuôi tập trung sẽ có những
thuận lợi nhất định trong việc hình thành vùng sản xuất hàng hóa và tiện kiểm
soát dịch cúm lây lan.
2.1.2 Các phương thức chăn nuô gà trên thế giới và Việt Nam.
* Phương thức chăn nuôi truyền thống
Là hình thức chăn thả tự nhiên, hình thức chăn nuôi truyền thống hiện
vẫn tồn tại và phát triển hầu hết ở các vùng nông thôn đặc biệt ở các nước
đang phát triển và các nước chậm phát triển. Việt Nam với gần 80% dân số
sống ở nông thôn thì chăn nuôi gà theo hình thức quảng canh vẫn là chủ yếu.
Phương thức chăn nuôi này có đặc điểm: vốn đầu tư ban đầu ít, đàn gà được thả
rông, tự do tìm kiếm thức ăn, tự ấp và nuôi con. Thời gian nuôi gà thịt từ 4 - 5
tháng mới đủ trọng lượng giết thịt. Trọng lượng lúc đủ tuổi giết thịt là 1,3 – 1,5kg.
Do chăn nuôi thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh
khiến đàn gà dễ mắc bệnh, chết rét, tỷ lệ nuôi sống thấp, hiệu quả chăn nuôi
không cao. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này cho chất lượng thịt rất
thơm ngon, đầu tư thấp, không thích hợp với quy mô chăn nuôi lớn, yêu cầu
chăn nuôi có vườn thả rộng.
Các giống gà phù hợp với phương thức chăn nuôi truyền thống là giống
gà Ri, Đông Tảo, Hồ, Mía,… là những giống cần cù chịu khó kiếm ăn, sức
chống chịu với thời tiết, bệnh tật cao, thịt có hương vị thơm ngon đặc biệt đối
với từng loại gà, từng địa phương.
nghiệp này.
* Phương thức chăn nuôi gà bán công nghiệp (chăn nuôi gà vườn, gà đồi có
áp dụng tiến bộ kỹ thuật)
Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm nuôi
gà truyền thống với chăn nuôi theo quy trình có áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên
tiến qua các giai đoạn. Phương thức chăn nuôi này xuất hiện từ nhu cầu thực
tế của xã hội đòi hỏi càng nhiều về số lượng sản phẩm nhưng chất lượng sản
phẩm cao, hương vị sản phẩm thơm ngon. Đây là sự kết hợp của hai phương
thức chăn nuôi truyền thống và công nghiệp.
Phương thức chăn nuôi này là sự kết hợp tiến bộ kỹ thuật về con giống
nuôi năng suất cao và chất lượng thịt thơm ngon với thức ăn sử dụng là thức
ăn hỗn hợp, kết hợp với thức ăn sẵn có ngoài tự nhiên. Khi chăn nuôi gà theo
phương thức này, thời gian 1,5 - 2 tháng đầu gà được nuôi nhốt hoàn toàn và
cho ăn thức ăn công nghiệp (nuôi úm). Ở giai đoạn 1 tháng trước khi xuất
chuồng, gà được thả vườn, đồi, cho ăn thức ăn hỗn hợp cùng với thức ăn bổ
sung như ngô, cám gạo, cám mạch, rau xanh… để nâng cao chất lượng, làm
cho thịt chắc, giảm bớt mỡ, nước do nuôi công nghiệp trong giai đoạn đầu.
Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường tự nhiên, có sự can thiệp
hợp lý của con người nhằm đảm bảo tỷ lệ nuôi sống cao, đàn gà phát triển tốt,
hiệu quả chăn nuôi cao hơn hình thức chăn nuôi quảng canh. Thời gian nuôi
một lứa gà theo phương thức này cho đến khi xuất chuồng là 65 – 70 ngày với
trọng lượng xuất chuồng từ 1,8 – 2,4kg.
Mục tiêu phương thức này mang đậm tính sản xuất hàng hóa chứ không
thuần tuý là sản xuất tự cấp tự túc. Gần đây, phương thức chăn nuôi này được
áp dụng tại nông thôn đồng bằng, trung du, ven đô và được nuôi dưới các
hình thức chăn nuôi: tập trung, bán công nghiệp, thả vườn với con giống phù
hợp với điều kiện khí hậu, cơ sở vật chất, phong tục tập quán từng vùng, tạo
ra sản phẩm có chất lượng cao, duy trì được hương vị truyền thống và đáp
ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng
2.1.3 Lý luận về kinh tế hộ nông dân
đơn vị xã hội. Trình độ phát triển của hộ từ thấp đến cao, từ tự cung, tự cấp đến
sản xuất hàng hoá hoàn toàn, thể hiện mối quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng, nó
quyết định đến mối quan hệ giữa nông hộ và thị trường.
Ngoài sản xuất nông nghiệp, các nông hộ còn tham gia vào các hoạt động
phi nông nghiệp như: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Do đó nông hộ
là chủ thể kinh tế nông thôn.
c. Kháiniệmvềkinhtếnônghộ
Như chúng ta đã biết, kinh tế hộ nông dân đã tồn tại lâu đời, độc lập và tự
chủ như các thành phần kinh tế khác. Do kinh tế hộ nông dân được tiếp cận từ
nhiều góc độ khác nhau cho nên, các khái niệm về kinh tế hộ nông dân cũng khác
nhau. Nhưng ta có thể lấy một khái niệm chung nhất đó là: “Kinh tế hộ nông dân,
là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực
như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến
hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung. Mọi quyết định
trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được nhà nước
thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển”.
Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt giữa kinh tế nông hộ với kinh tế gia đình.
Kinh tế gia đình được đặt trong mối quan hệ với kinh tế tập thể, kinh tế gia đình
xã viên là một bộ phận cấu thành của kinh tế tập thể, nên sự phát triển của kinh tế
tập thể có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình. Vì vậy không thể đồng nhất giữa
kinh tế nông hộ với kinh tế gia đình nông dân.
Ở các nước Tây âu và một số nước Châu Á, xác định kinh tế hộ là kinh tế
cá thể, nó thuộc thành phần kinh tế cá thể. Ở nước ta kinh tế hộ không thuộc thành
phần kinh tế cá thể, nó chỉ là loại hình kinh tế dùng để phân biệt với kinh tế tập thể
và kinh tế nhà nước. Nó là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng hiện tại chưa được xếp vào
thành phần kinh tế nào, nó có mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác và là
cơ sở hình thành nên kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp.
Trước đây chúng ta quan niệm, kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ làm nông
nghiệp bao gồm cả Nông- Lâm- Ngư nghiệp. Nhưng đến nay đã quan niệm kinh
tế nông hộ là kinh tế của hộ sống ở nông thôn, có nguồn thu từ sản xuất nông
kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế thích hợp nhất, với điều kiện của sản xuất
nông nghiệp và có khả năng phát huy được thế mạnh của mình trong tổ chức sản
xuất kinh doanh nông nghiệp, vì vậy cần có sự tác động và tạo điều kiện kịp thời.
Sáu là, kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của nông hộ là
chủ yếu. Trong sản xuất của nông hộ mọi nguồn lực của nông hộ đều có thể tập
trung cho sản xuất nhưng chủ yếu là nguồn lực sẵn có của nông hộ, chỉ khi nào
nguồn lực không đủ để duy trì sản xuất ở mức thấp nhất, thì mới xảy ra tình trạng
thuê mướn lao động và vay mượn vốn cho sản xuất.
2.1.2. 3 Tính tất yếu khách quan và vai trò kinh tế hộ nông dân
a. Tính tất yếu khách quan
Kinh tế nông hộ bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ
của các thành viên để sản xuất ra của cải vật chất nhằm đem lại thu nhập để nuôi
sống mọi thành viên, tích luỹ làm giàu cho nông hộ và đóng góp cho xã hội.
Qua nghiên cứu ở hầu hết các nước trên thế giới, người ta thấy rằng
kinh tế nông hộ là phương thức sản xuất đặc biệt, tồn tại trong mọi chế độ xã
hội, từ nô lệ qua phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Kinh tế
nông hộ có quy luật phát triển riêng của nó và trong mỗi chế độ nó có một
cách thích ứng riêng để tồn tại và phát triển.
Trong chế độ phong kiến nông hộ sản xuất ra sản phẩm thặng dư chủ
yếu để cống nạp và tiêu dùng cho gia đình, trong giai đoạn này điều kiện sản
xuất và đời sống của nông hộ vô cùng khó khăn.
Bước sang xã hội tư bản chủ nghĩa, sản xuất nông hộ chưa kịp thích
ứng với nền sản xuất xã hội. Kinh tế nông hộ nằm ngoài phạm vi của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng nông hộ vẫn có khả năng duy trì hoạt
động sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển ngay trong lòng của chủ
nghĩa tư bản.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, kinh tế nông hộ có điều kiện để phát
triển, măc dù trong một số thời điểm bị coi nhẹ và đánh giá thấp. Nhưng nông
hộ đã thực sự có sự phát triển thích ứng và phù hợp với nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa, trở thành cơ sở quan trọng cho phát triển kinh tế tập thể và hợp tác xã.
2.1.4.1 Khái niệm
Chăn nuôi gà là một nghề truyền thống của nông dân có từ rất xa xưa.
Trước đây chăn nuôi gà trong mổi gia đình ở nước ta chủ yếu là chăn thả đơn
thuần, quy mô nhỏ lẻ, chỉ đảm bảo, chỉ đảm bảo một phần nào đó cho nhu cầu
của gia đình, hoàn toàn chưa có ý thức trở thành nhu cầu trao đổi hàng hoá.
Chăn nuôi gà truyền thống là hình thức chăn thả tự nhiên và hiện nay
nó vẫn còn tồn tại ở hầu hết các vùng nông thôn của các nước đang phát triển
và các nước chậm phát triển. Việt Nam là một nước nông nghiệp và 70% dân
số sống ở nông thôn, việc chăn nuôi gà theo phương thức này vẫn là chủ yếu.
Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là: đầu tư vốn ít, thời gian
nuôi kéo dài. Do chăn thả tự do, tận dụng cùng với môi trường không đảm
bảo vệ sinh nên vật nuôi tăng trưởng kém, dễ bị mắc bệnh, hiệu qỉa chăn nuôi
không cao. Do sự gia tăng về dân số, sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, kỹ
thuật trên toàn thế giới và trong mọi lĩnh vực, ngành chăn nuôi nói chung và
ngành chăn nuôi gia cầm nó riêng cũng không ngừng phát triển. Từ chăn nuôi
theo phương thức quảng canh, chăn thả tự nhiên chuyển sang chăn nuôi theo
phương thức chăn nuôi theo hướng hàng hoá quy mô lớn, nhằm đáp ứng được
nhu cầu đòi hỏi của toàn xã hội. Những đột phá về mặt công nghệ tạo con
giống, thức ăn, thiết bị chuồng trại cũng như kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đã
tạo đà cho ngành chăn nuôi phát triển. Phương thức sản xuất cũ đã không còn
phù hợp nữa và dần dần được thay thế bằng phương thức chăn nuôi mới cho
năng xuất, chất lượng tốt và hiệu quả kinh tế cao.
Chăn nuôi gà đồi của nông dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang có thể
hiểu: “là phương thức chăn nuôi dựa trên cơ sở thâm canh, tăng năng xuất
trên mọi đơn vị diện tích chuồng trại, sử dụng các giống gà lai để tạo ra năng
suất, hiệu quả cao trong cùng một thời gian, cùng với sự đầu tư về trang thiết
bị máy móc, chuồng trại chăn nuôi. Thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi gà
đồi là thức ăn được chế biến theo phương pháp công nghiệp kết hợp với thức
ăn có sẵn trong sản xuất nông nghiệp như: cám gạo, cám ngô, cám mạch, rau
xanh, , điều kiện môi trường chăn nuôi được chủ động điều chỉnh phù hợp
+ Trọng lượng thân thịt/Trọng lượng thịt hơi
2.1.5 Vai trò của nghề chăn nuôi gà đồi
* Cung cấp thực phẩm và chữa bệnh
Từ lâu, thịt gà là một loại thực phẩm rất được ưa chuộng trên thế
giới. Nếu so sánh với thịt lợn và thịt bò, lượng đạm thịt gà cao hơn rất
nhiều lần, trong khi đó lượng mỡ ít hơn. Ngoài ra, thịt gà được chế biến
thành nhiều món ăn ngon khác nhau: cơm gà, gà chiên, gà nướng. gà
tần, gà hấp, gà luộc, …Ở các cửa hiệu thức ăn nhanh thế giới như
McDonald, KFC thịt gà luôn được đưa lên hàng đầu thực đơn.
Nhu cầu về thịt gà có lẽ chỉ đứng sau thịt lợn trên thế giới với mức
tiêu thụ khoảng trên 80 triệu tấn hàng năm.
* Nguồn phân bón cho cây trồng và thức ăn cho cá
Ngoài sản phẩm chính là gà thương phẩm, gà thuốc, chăn nuôi gà còn
thu được một lượng phân bón khá lớn dùng cho trồng trọt, nguồn phân thải có
thể dùng cho đồng ruộng hoặc vườn cây, ao cá,…đem lại hiệu quả tối đa cho
sản xuất nông nghiệp.
* Mang lại thu nhập cho nông dân
Chăn nuôi gà được đánh giá là ngành có nhiều rủi ro nhưng đây cũng là
ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tại huyên Yên Thế, Tỉnh Bắc Giang tính
đến năm 2010 đã phát triển đàn gà lên hơn 5,0 triệu con, là địa phương có
tổng đàn gà lớn nhất phía Bắc nước ta, nhiều hộ đã vươn lên thành hộ khá, hộ
giàu với phong trào chăn gà nơi đây. Nuôi gà tại Yên Thế đã trở thành một
điển hình về hiệu quả kinh tế với tổng giá trị lên tới 550 tỷ đồng hàng năm,
được nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh đánh giá cao và tới tham quan học
hỏi. Dù gặp nhiều khó khăn và dịch bệnh nhưng năm 2009 có hộ chăn nuôi đã
đạt tới lợi nhuận hơn 45 triệu đồng trên một lứa nuôi 1500 con.
Ngoài ra phát triển chăn nuôi gà đồi giúp tận dụng tốt những sản phẩm
từ trồng trọt, tận dụng được các phế phụ phẩm trong sinh hoạt hàng ngày để
tạo ra các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao phục vụ cho đời sôngs con
người. Phát triển chăn nuôi gà đồi giúp tạo ra những thay đổi về cơ cấu lao
thể vài triệu đồng, có thể hàng trăm triệu hay hàng tỷ đồng. Tuy nhiên trong
điều kiện hiện nay, khi mà thu nhập và tích lũy của người dân huyện Yên Thế
cón khá khiêm tốn thì việc đầu tư phát triển chăn nuôi gà vườn đồi theo
phương thức chăn nuôi quy mô lớn không phải chuyện dễ dàng.
* Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất (hệ thống giao thông, hệ thống điện, hệ
thống cấp thoát nước, hệ thống các cơ sở dịch vụ chăn nuôi, hệ thống chợ
nông thôn,…) ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi gà vườn đồi. Ở Yên Thế,
hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất phát triển không đều giữa các xã.
Những xã có cơ sở hạ tàng phục vụ sản xuất phaqts triển thì ngành chăn nuôi gà
vườn đồi phát triển và ngược lại. Tuy nhiên người chăn nuôi chỉ có đủ năng lực
và chủ động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất
trong cơ sở của mình mà không thể đầu tư xây dựng đồng thời phục vụ nhiều
ngành sản xuất. Để có một hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đáp ứng
được các yêu cầu sản xuất nói chung, chăn nuôi gà vườn đồi nói riêng cần phải
có sự hỗ trợ từ Nhà nước và phía cộng đồng.
* Khoa học kỹ thuật và công nghệ
Yếu tố này ảnh hưởng đến chăn nuôi gà đồi trên các phương diện: một
là các giống gà mới có năng xuất cao dựa vào chăn nuôi đã làm cho năng suất
chăn nuôi được nâng cao. Nếu như trước đây, nông dân thường sử dụng các
giống gà truyền thống của địa phương thì đến nay cơ cấu giống đã có nhiều
thay đổi. Một số giống gà mới vừa cho năng suất cao vừa có chất lượng thịt
tốt đưa vào chăn nuôi trên diện rộng làm cho thu nhập từ chăn nuôi gà của
người nông dân được cải thiện hơn. Hai là, với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật và công nghệ, chăn nuôi gà theo phương thức bán công
nghiệp hay (gà vườn đồi) ngày càng tỏ ra có ưu thế, tính kinh tế nhờ quy mô
ngày càng được khai thác tốt hơn làm cho giá thành sản xuất giảm, từng bước
tăng được lợi thế cạnh tranh của ngành hàng chăn nuôi gà vườn đồi. Ba là,
trình độ chuyên môn kỹ thuật của người chăn nuôi ngày càng được năng cao
đã góp phần thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
phẩm và ngày cang tiêu dùng nhiều hơn các sản phẩm gà đã qua chế biến.
Những yêu cầu mới của thị trường đòi hỏi ngành hàng chăn nuôi gà đồi phải
có những sự điều chỉnh căn bản cả về quy mô, cơ cấu, chủng loại sản phẩm,
phương thức chăn nuôi và phát triển công nghệ chế biến. Tuy nhiên trong
điều kiện hiện nay, khi đa số nông dân huyện Yên Thế còn khó khăn về vốn
đầu tư và chưa quen với phương thức chăn nuôi tiên tiến thì sự thay đổi để
phù hợp nhu cầu thị trường đang gặp rất nhiều khó khăn.
* Yếu tố về chính sách:
Thông qua hệ thống chính sách vĩ mô, Nhà nước có thể điều tiết được sự
phát triển các ngành kinh tế nói chung, ngành hàng chăn nuôi gà đồi nói riêng.
Nhà nước có thể sử dụng hai hệ thống chính sách sau đây để điều tiết sự phát
triển của ngành hàng chăn nuôi gà đồi:
+ Chính sách thuế và hàng rào phi thuế: Nhà nước có thể sử dụng hàng
rào thuế và phi thuế để bảo vệ sản xuất trong nước. Hiện nay nước ta đã ra
nhập một số tổ chức thương mai lớn như AFTA,WTO, hàng rào thuế phải
từng bước cắt giảm theo lộ trình hội nhập, chính sách thuế phải tuân thủ các
luật lệ quốc tế. Trong điều kiện chính sách thuế xuất nhập khẩu tiến tới bình
đẳng giữa các quốc gia, Nhà nước sẽ sử dụng các biện pháp phi thuế để đảm
bảo sản xuất trong nước mà phổ biến nhất hiện nay là sử dụng hàng rào kỹ
thuật( các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định
của từng quốc gia).
+ Chính sách hỗ trợ phát triển: trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới,
các hình thức hỗ trợ qua giá cho mọi ngành sản xuất nói chung, ngành hàng
chăn nuôi gà đồi nói riêng không được luật pháp quốc tế chấp nhận. Để
khuyến khích phát triển chăn nuôi gà đồi, Nhà nước ban hành các chính sách
hỗ trợ không qua giá như: hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và
thương mại, hỗ trợ quy hoạch phát triển sản xuất, hỗ trợ vốn tín dụng, hỗ trợ
kỹ thuật thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ
KHKT và công nghệ mới vào sản xuất.
+ Ngoài ra Nhà nước còn sử dụng các chính sách khác để điều tiết sự
+ Công tác phòng chống dịch cúm còn nhiều bất cập cả từ phía nhà
nước và sự thiếu hiểu biết của người chăn nuôi.