Nghiên cứu lựa chọn giảI pháp đào giếng đứng hợp lý qua vùng đất đá nứt nẻ, chứa nước nằm dưới mực nước biển cho một số mỏ hầm lò Việt Nam - Pdf 26

1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay lợng tài nguyên khoáng sản than tại Việt Nam từ mức -125 trở
lên đã bị khai thác gần hết. Theo thăm dò địa chất đến năm 2030 để đảm bảo
nhu cầu về năng lợng than cung cấp cho các nhà máy yêu cầu cần phải thăm
dò khai thác đến khoáng sản tới mức -350. Từ trớc đến nay các hệ thống khai
thông mở vỉa tại Việt Nam chủ yếu là các đờng lò bằng, lò nghiêng, giếng
nghiêng nối thông các hệ thống sân ga và hầm trạm bên dới. Các hệ thống có -
u điểm là thi công đơn giản, chủ yếu đợc chống bằng sắt vòm. Tuy nhiên
chiều dài đối với giếng nghiêng lớn do yêu cầu về các thiết bị trục tải trong
giếng. Việc khai thác các tầng khoáng sản dới sâu mức -350 khi sử dụng
giếng nghiêng có những nhợc điểm cơ bản sau: chiều dài đờng lò lớn do vậy
khai trờng yêu cầu phải rộng, chi phí xây dựng tăng do chiều dài đờng lò tăng,
các thiết bị trục tải phải lớn hơn do vậy tăng chi phí đầu t ban đầu của mỏ. Do
vậy hiện nay để khai thông khai thác các tầng khoáng sản dới sâu việc sử
dụng giếng đứng là tối u nhất.
Việc thi công giếng đứng gặp nhiều khó khăn hơn giếng nghiêng do
không gian chật hẹp, các thiết bị trục tải phải chuyên dụng, không thể tập kết
vật liệu gần gơng thi công. Các biện pháp xử lý giếng khi đi qua các vùng địa
chất phức tạp cũng cần phải có các biện pháp đặc biệt.
Với yêu cầu ngày càng cao về việc xây dựng các giếng đứng phục vụ
khai thác khoáng sản dới sâu cho thấy việc nghiên cứu, lựa chọn giải pháp đào
giếng đứng hợp lý nhất là qua vùng đất đá nứt nẻ, chứa nớc là một vấn đề vô
cùng cấp thiết. Nó đang là công việc đợc u tiên hàng đầu trong công tác xây
dựng ngầm tại Tập đoàn Công nghiệp Than và khoáng sản Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đa ra một số giải pháp xử lý vùng đất đá nứt nẻ, chứa nớc ngầm khi xây
dựng các công trình giếng đứng nằm sâu dới mực nớc biển.
2
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

xuống sâu dới mực nớc biển ở Việt Nam
- ý nghĩa thực tiễn của đề tài là đa ra giải pháp thi công có tính khả thi
cao t vấn cho các đơn vị thiết kế thi công và đơn vị thi công giếng.
7. Cấu trúc của luận văn
Đề tài đợc phân ra làm 3 chơng:
Chơng 1: Tổng quan về các biện pháp đào giếng đứng qua các vùng địa
chất phức tạp.
- Các khái niệm về các vùng địa chất phức tạp, thực trạng địa chất tại
các vùng khai thác khoáng sản
- Một số vùng địa chất phức tạp mà công trình ngầm có thể gặp phải,
một số giải pháp thi công giếng qua các vùng địa chất phức tạp trên thế giới và
tại Việt Nam.
- Một số giải pháp thi công giếng qua vùng địa chất phức tạp trên thế
giới và tại Việt Nam.
- Các biện pháp công nghệ đào giếng đứng qua vùng đá nứt nẻ, chứa n-
ớc.
Chơng 2: Nghiên cứu lựa chọn đề xuất các giải pháp thi công đào giếng
phù hợp khi qua vùng địa chất phức tạp.
- Thực trạng thi công giếng đứng qua vùng địa chất phức tạp tại Việt
Nam.
- Các yếu tố ảnh hởng đến lựa chọn giải pháp công nghệ
- Đề xuất các giải pháp thi công đào giếng đứng qua vùng địa chất phức
tạp khi sử dụng phơng pháp bơm ép vữa ximăng.
- Đánh giá lựa chọn giải pháp phù hợp cho thực tế thi công giếng đứng
tại Việt Nam
4
Chơng 3: Thiết lập dây chuyền công nghệ đào giếng
- Cơ sở thiết lập dây chuyền công nghệ
- Các giải pháp chủ yếu của công nghệ thi công giếng đứng qua vùng
địa chất phức tạp

- Tính nguy hiểm, mất an toàn trong thi công.
- Chỉ số giá thành một mét lò trong điều kiện đặc biệt so với điều kiện
bình thờng lấy làm chuẩn (điều kiện chuẩn do ngời xây dựng tạm đa ra để
xem xét ).
Hiện nay cùng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân loại
các điều kiện địa chất đặc biệt, phức tạp.
6
Một quan niệm phân chia theo đặc điểm của khối đá do cấu tạo tự nhiên
của nó, ở đây chia ra loại bở rời, loại liền khối, loại khô, loại chứa nớc
Tồn tại quan điểm chia điều kiện địa chất đặc biệt, phức tạp theo hai
nhóm: một nhóm ảnh hởng đến giải pháp đào là điều kiện về thủy văn, điều
kiện mỏ - địa chất, các nhóm ảnh hởng đến giải pháp chống là các điều kiện
về địa cơ học. Các phân loại này chỉ là quy ớc, mang tính chung, cha có các
tiêu chuẩn hóa rõ ràng. Vì vậy khi phân chia mới chỉ dựa theo mặt định tính
mà cha đi vào mặt định lợng của các điều kiện. Trong mỗi các phân chia sẽ
ứng dụng các phân chia nhỏ hơn.
Các yếu tố tạo nên các điều kiện địa chất đặc biệt phức tạp:
- Phay phá địa chất là các phá hủy cục bộ tạo ra một dải ảnh hởng cho
việc đào và chống giữ công trình ngầm. Tại các phay phá và vùng lân cận có
những diễn biến phức tạp về các điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công
trình, tính hóa lý của khối đá làm cho quá trình chống giữ trở nên vô cùng
khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp.
- Nổ khí, nổ đá, va đập tạo ra các xung và những chuyển dịch có gia tốc
lớn, tốc độ cao, áp lực lớn. Những hiện tợng trên đặc biệt ảnh hởng đến an
toàn cho ngời, thiết bị thi công. Tính ổn định của công trình cũng bị đe doạ, ở
đây cũng phải có các giải pháp hữu hiệu.
- Nhiệt độ cao là tác nhân ảnh hởng lớn, trực tiếp tới ngời và thiết bị thi
công. Không có giải pháp hữu hiệu đặc thù cho quá trình này thì không cho
phép xây dựng công trình đợc. Các giải pháp kéo theo hàng loạt chi phí khác
và các điều kiện đảm bảo.

các moong khai thác lộ thiên do vậy sự ảnh hởng từ nớc mặt cũng là một trong số
những vấn đề quan trọng luôn đợc đợc đặt lên hàng đầu trong việc xử lý các sự cố
gặp phải khi xây dựng công trình ngầm qua vùng địa chất phức tạp.
8
Một số khu vực mỏ bị ảnh hởng của các mỏ cũ khai thác từ thời Pháp,
các mỏ than khai thác không theo quy hoạch, đây là những khu vực đất đá rất
yếu do đã bị biến động về cấu trúc địa chất. Các đờng lò cũ là nơi chứa nớc,
bùn là một mối nguy cơ tiềm tàng luôn luôn có thể gây sập đổ, bục nớc, bục
bùn nếu nh không đợc thăm dò và có các biện pháp xử lý hợp lý trớc và sau
khi thi công. Tuy nhiên việc sử lý những vấn đề này luôn chiếm một khối lợng
thời gian, chi phí rất lớn do vậy cần phải có những phơng án thật phù hợp,
hiệu quả, kinh tế để xử lý các vấn đề này.
1.1.3 Một số vùng địa chất phức tạp mà công trình có thể gặp phải
Thi công công trình ngầm trong các điều kiện địa chất phức tạp đòi hỏi
công nghệ cao và chi phí đào lớn. Một số các vùng địa chất phức tạp mà công
trình ngầm có thể gặp phải:
+ Đào trong phay cát chảy
+ Đào trong đất đá có hiện tợng nổ khí, nổ bụi
+ Đào trong điều kiện ngập nớc
+ Đào trong điều kiện bùng nền mạnh
+ Đào trong vùng đất đá sụp đổ liên tục quanh hang đào
+ Đào qua sông biển
1.2. Một số giải pháp thi công giếng qua vùng địa chất phức tạp
1.2.1. Một số giải pháp thi công giếng qua vùng địa chất phức tạp
trên thế giới
Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì rất nhiều các công
nghệ, giải pháp thi công công trình ngầm đã đợc phát triển và áp dụng rộng
rãi, các giải pháp đã đợc áp dụng: ximăng hoá khối đá, đông cứng khối đá
bằng các dung dịch khí hoá lỏng, gia tăng độ bền của khối đá mà công trình
ngầm đào qua bằng các phơng pháp lực .v.v. Một số công trình hiện nay trên

chống.
Các công nghệ này đều có mặt u nhợc điểm khác nhau và có thể áp
dụng vào từng điều kiện địa chất công trình nhất định. Tuy nhiên với thực tế
hiện trạng thi công các công trình công nghiệp nói chung và các công trình
xây dựng giếng đứng nói riêng cho thấy, các công nghệ đặc biệt để xử lý nớc
ngầm thông thờng chi phí rất lớn, các thiết bị phục vụ , công trình phụ trợ đi
theo .v.v. thờng rất tốn kém cồng kềnh, do vậy nhiều công trình không thể sử
dụng đợc các công nghệ đó. Điều này dẫn đến hiệu quả thi công không cao,
để đảm bảo chất lợng công trình nhiều khi phải tăng mác của vật liệu chống.
1.2.2. Các giải pháp đã áp dụng tại Việt Nam
Hiện nay các công trình xây dựng giếng đứng chủ yếu là các giếng
thông gió phục vụ thi công hầm giao thông, hầm ngầm đờng dẫn các lò nối
trong công tác thủy điện. Giếng đứng với đờng kính lớn không nhiều, mới chỉ
có giếng đứng Mông Dơng, giếng đứng Hà Lầm. Khi thi công và xử lý qua
các tầng đất đá yếu, các tầng chứa nớc thì các biện pháp công nghệ bị rất
nhiều hạn chế. Để thi công qua những đoạn giếng đứng này hiện nay tại Việt
Nam vẫn sử dụng các phơng pháp thông thờng nh bơm ép vữa ximăng, dùng
một số các loại phụ gia có tính chất trơng nở mục đích để tạo một lớp màng
11
ngăn, lấp kích các khe nứt xung quanh thành giếng ngăn không cho nớc ngầm
chảy vào gơng giếng rồi mới tiếp tục thi công đào sâu.
Giếng đứng Mông Dơng để xử lý các dò thấm và mạch nớc nơi thành
giếng sử dụng phơng pháp bơm ép vữa để gia cố. Giếng đứng Hà Lầm để gia
cố đất đá tại các tầng đất đá chứa nớc, trong dự án đã đa ra hai phơng án xử lý
đất đá tại các tầng chứa nớc là đông cứng đất đá bằng phơng pháp nhiệt và xử
lý bơm ép vữa xi măng vào các khe nứt tạo thành lớp tờng chắc nớc bao quanh
khu vực giếng.
Thực tế thi công và lựa chọn của từng dự án cho thấy các công trình
trên cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn rất hạn chế cho việc sử dụng các công
nghệ tiên tiến. Đơn cử nh khi xử lý đất đá tại giếng đứng Hà Lầm, nếu sử

Một điều cần chú ý là nớc chứa trong cát khi đóng băng giữ vai trò
ximăng gắn kết các hạt cát lại. Vì lẽ đó nếu cát bão hoà nớc thì khi đóng băng
sẽ có độ bền cao hơn. Nhng nếu cát chứa quá nhiều nớc (thừa nớc) thì độ bền
của cát đóng băng sẽ giảm do độ bền của nớc đóng băng thấp hơn so với cát
chứa nớc đóng băng.
Nh vậy cát chứa nớc bão hòa đóng băng sẽ có độ bền cao nhất và do đó
phơng pháp đóng băng nhân tạo rất hữu hiệu với cát chứa nớc.
b. Công nghệ đóng băng nhân tạo
Ngời ta tạo ra các lỗ khoan trong địa tầng cát có nớc. Trong ống làm
lạnh sẽ chuyển động chất làm lạnh. Nhiệt độ của chất làm lạnh có thể đạt
-35
0
C. Chất làm lạnh thờng là dung dịch CaCl
2
.
Khi trao đổi nhiệt với lớp đất đá thì nhiệt độ của đất đá giảm đi, nhiệt
độ của dung dịch làm lạnh tăng lên. Quá trình diễn ra nh vậy cho đến khi
xung quanh lỗ khoan hình thành vùng đất đá đông cứng có bán kính cần thiết
ứng với thời gian làm đông cứng xác định nào đó. Khi có nhiều lỗ khoan đóng
băng và xếp theo hình dạng nhất định ta sẽ có đợc vùng đóng băng cần thiết.
Để tiến hành đào hầm bình thờng ta phải tạo đợc vòng đá gia cờng có
đủ khả năng chặn áp lực nớc, áp lực mỏ khi đào hầm. Chiều dày của vòng đá
đóng băng đợc xác định theo công thức: [5]
[ ]
[ ]






- hệ số tỷ lệ ; k
1
=1,2ữ1,5; P - áp lực mỏ
lên lớp đá đóng băng, Mpa; h - chiều dài đào một chu kỳ, m; - giới hạn bền
của đá đóng băng tại thời điểm thi công lò, Mpa;
Bán kính của tâm lỗ khoan đóng băng đến tâm đờng lò sẽ là (R1)
R1 = R + E/2 (1.3)
Để kể đến độ lệch lỗ khoan m và mức truyền nhiệt về hai phía của lỗ
khoan không đều (tỷ lệ 6/4) bán kính của tâm lỗ khoan đóng băng sẽ là
R2 = R + m + 0,6E (1.4)
Số lỗ khoan sẽ là
N = 2p(R + m + 0,6E)/l (1.5)
l - Khoảng cách giữa hai lỗ khoan (khoảng cách này phụ thuộc vào thời
điểm đóng băng, nhiệt độ dung dịch làm lạnh, nhiệt độ môi trờng,
công suất trạm làm lạnh thờng l=0,8ữ1,3m)
c. Các phơng pháp đóng băng đã đợc áp dụng trên thế giới
* Làm đông dung dịch muối
Ngời ta cho chạy vào các hố khoan phân bố trong đất một dung dịch
muối mà nhiệt độ biến thiên từ -15
o
C đến -30
o
C. Dịch thể làm lạnh có thể là
một dung dịch muối Natri hoặc Magnesium. Các muối ấy phải nguyên chất,
bởi vì nếu có tạp chất vào có thể làm thay đổi điểm đông lạnh. Các máy làm
lạnh về cơ bản sử dụng ammoniac làm chất đông lạnh.
Nếu để đào giếng mỏ, thì cần từ 3 tuần đến 1 tháng để tạo ra một bức t-
ờng dầy 1,5m với các lỗ khoan cách nhau 0,8 đến 1,2m.
Để thi công một đoạn lò trung bình 25m
2

- Các ống làm lạnh
* Dịnh thể nitơ
Nguyên lý tơng tự nh nguyên lý dùng CO
2
, song nhiệt độ hạ thấp có thể
đến -196
o
C. Nhng dùng khí Nitơ hay khí CO
2
có các điều lợi sau
- Nhiệt độ hạ thấp hơn
- Không cần thu hồi khí đã hoá nóng
- Vận chuyển Nitơ lỏng dễ dàng, nhà máy lạnh có thể để xa.
Phơng pháp này làm lạnh rất nhanh, có thể bố trí hệ thống dẫn dễ dàng
đạt nhiệt độ từ -30
o
C đến -50
o
C. Tờng dày 1m đợc tạo ra xung quanh các ống
khoan cách nhau 1m sẽ đợc hình thành sau 1 ngày (dùng khí CO
2
phải mất 4
ngày) và nhiệt độ có thể đến -30
o
C.
Thiết bị cơ bản bao gồm các thiết bị làm lạnh, các máy bơm khí Nitơ
hoá lỏng xuống lòng đất.
15
Hình 1.2. Thiết bị bơm khí nitơ làm lạnh đất đá
c. u điểm, nhợc điểm của công nghệ:

thiết bị đặc biệt chuyên dụng (máy bơm, máy trộn, đờng ống phun áp lực
cao); nó bắt đầu đợc sử dụng không những trong công trình kỹ thuật thủy
công mà còn đợc ứng dụng trong công trình ngầm đặc biệt là các công trình
tàu điện ngầm để gia cố các chubin kim loại; khi xây dựng hầm lò, giếng cũng
nh các công trình biển; các mố cầu, các công trình công nghiệp và dân dụng,
các công trình thủy lợi.
ở các công trình kỹ thuật thủy công, việc phun xi măng đợc thực hiện:
- Vào nền đập đất, đập trọng lực, đập bê tông hình cung để cải thiện
tính chất thấm và lèn chặt nền;
- Vào khối đá xung quanh vỏ chống công trình ngầm cũng với mục đích
nêu trên.
- Vào các đập bê tông để xử lý các mối liên kết bị biến dạng;
Vữa xi măng
Phụ gia (nếu có)
Vữa xi măng bơm
Máy khuấy
Van chỉnh áp
Tam pôn
Đồng hồ áp
ống dẫn vữa
17
- Xử lý các lỗ rỗng ở phía ngoài vỏ chống kim loại và các kết cấu kim
loại khác ở các công trình sử dụng vỏ chống kim loại kín;
- Xử lý bê tông xốp (kết cấu bê tông không đợc đầm lèn chặt gây các lỗ
trống);
- Xử lý những chỗ rỗng bên ngoài vỏ chống công trình ngầm;
- Xử lý các vết nứt và chỗ rỗng tại mối tiếp giáp bờ đập;
- Để lấp chèn các hầm phụ và các hầm thăm dò địa chất.
Hình 1.3 Sơ đồ bơm ép vữa xi măng phổ biến
b. Bản chất công nghệ bơm ép vữa xi măng

cách lớn hoặc đợc cấp bằng băng tải để trộn tại vị trí bơm ép. Thời gian sử
dụng nếu vữa chế tạo từ xi măng portland thông thờng, không có phụ gia là
không quá 3 giờ kể từ khi trộn vữa.
Thiết bị để bơm ép vữa bao gồm các thùng trộn có thiết bị cân đong.
Các máy bơm vữa, các sàng và lọc thủy lực, ống dẫn, đầu ép, thiết bị đo, điều
chỉnh, các thiết bị khoan, phơng tiện vận chuyển (băng tải, goòng v.v.)
* Bơm ép vữa lấp đầy.
Bơm ép vữa lấp đầy là công tác bắt buộc cả trong trông trình ngầm có
áp và không áp với ca loại vỏ bê tông, với bất kỳ thế nằm nào của đá. Có thể
19
bắt đầu ngay sau khi dỡ côp-pha và độ bền của bê tông đủ để tiếp nhận áp lực
bơm ép từ khoảng cách gơng đến vị trí phụt không lớn hơn 50 ữ 60 mét.
Bản chất bơm ép vữa lấp đầy là lấp các khoảng trống sau vỏ bê tông do
co ngót về thể tích sau khi đổ.
Trong công trình ngầm không áp, áp lực bơm ép vữa lấp đầy, có thể lấy
sơ bộ bằng 1 ữ 3 kG/cm trong những lỗ khoan đợt đầu. Tăng 1,5 ữ 2 lần cho
những lỗ khoan đợt sau và các đợt sau. Trong hầm có áp, áp lực bơm ép lấy
bằng 3 ữ 5 kG/cm cho lỗ khoan đợt 1 tùy thuộc vào loại vỏ công trình ngầm,
tính chất của đá, tăng 1,5 ữ 2 lần cho lỗ khoan đợt hai và những đợt sau.
Vữa bơm ép vào sau vỏ công trình ngầm bằng các bơm thủy lực. Bơm
đầy vữa với áp lực qua các lỗ khoan, khoan trong vỏ công trình ngầm hoặc qua
những ống thép đặt sẵn trong quá trình đổ bê tông.
Thành phần vữa có thể lấy sơ bộ nh sau: ép đợt đầu từ 1:0:0,4 đến
1:1,5:0,6 (theo trọng lợng xi măng, cát, nớc) với lợng tiêu vữa nhỏ hơn hoặc
bằng 1 m
3
/1m mặt trong vỏ công trình ngầm và từ 1:1,5:0,7 đến 1:3,0:2,0 khi
lợng tiêu hao vữa lớn hơn 1 m3/1m mặt trong vỏ công trình ngầm.
Để bơm ép vữa đợt hai và các đợt tiếp theo về mặt nguyên tắc là lấy tỷ
lệ N/X từ 0,4 đến 2,0 và lớn hơn hoặc vữa ít cát hơn.

Trong công nghệ bơm ép vữa đã khẳng định rằng việc phun xi măng có
thể đạt yêu cầu khi các kích thớc của các vết nứt lớn hơn 0,1mm (100àm)
(1àm = 0,001mm).
Các hạt của xi măng Portland thông thờng đợc sản xuất theo dây chuyền
công nghiệp có thể có các kích thớc từ 1ữ100àm. Khi đó, sự phân bố của các hạt
có đờng kính khác nhau ở trong khối lợng chung sẽ nh sau (lấy trung bình).
Bảng 1.1 Tơng quan về sự hình thành cầu nối [16]
21
Kích thớc (àm) <10
10-20 20-40 40-60 60-120 >120
Hàm lợng (%) 25% 20% 20% 15% 15% 5%
Thành phần cỡ hạt xi măng của nhà máy cung cấp cụ thể có thể khác
biệt so với số liệu trên trong một dải rộng, trong đó cỡ hạt cũng khác nhau
theo chủng loại và mác xi măng. Về nguyên tắc ở trong xi măng mác cao các
cỡ hạt nhỏ sẽ nhiều hơn so với xi măng mác thấp. ở trong xi măng nghiền
thêm, hạt <10àm sẽ lớn hơn 50% và không có các cỡ hạt lớn hơn 40àm.
Nh thế, xi măng là một khối hạt khác nhau, khối hạt này chuyển động ở
trong vữa cùng với nớc dới áp lực dọc theo các vết nứt và chèn lấp chúng. Sẽ
có một thời điểm, khi mà ở lối vào của các vết nứt nhở hoặc tại các chỗ thu
hẹp của các vết nứt lớn hơn bị bít (đóng) đối với sự xâm nhập tiếp theo của
vữa vào vết nứt. Điều đó xảy ra do sự hình thành cầu nối gồm từ 2-3-4 hạt xi
măng. Sơ đồ về sự hình thành cầu nối.
d
w
cầu nối gồm hai hạt
- khi d = 20àm, w = 40 àm.
- khi d = 30àm, w = 60 àm.
- khi d = 50àm, w = 100 àm.
d
w

giảm độ rộng ban đầu) vết nứt và cản trở vữa chuyển động về phía trớc. Để
các hạt xi măng luôn luôn ở trong trạng thái lơ lửng, cần phải trộn vữa liên tục
ở trong thùng trộn và bơm nó đi. Đó chính là yêu cầu cơ bản của điều kiện kỹ
thuật của bơm vữa xi măng.
Khi vữa chuyển động vào chỗ tiếp xúc của vữa và đất đá xuất hiện các
lực cản, chúng sẽ tăng lên theo mức độ khoảng cách xa của vữa so với lỗ
khoan. Do có độ xốp bề mặt của vết nứt và và tốc độ nhỏ ở tại chỗ tiếp xúc, sẽ
xảy ra quá trình bám dính và lắng của các hạt xi măng lên mặt phẳng vết nứt,
điều đó có nghĩa là dẫn đến việc co thắt dần rãnh di chuyển của vữa nghĩa là
làm tăng tính cản trở. Cũng chính trong thời gian đó xảy ra quá trình nén vữa
dới áp lực vào chỗ tiếp xúc của lớp xi măng bám dính cùng với việc tách nớc
từ lớp đó vào trong vữa.
23
Với sự tăng sức cản và sụt áp, khi vữa di động từ lỗ khoan, tốc độ bị giảm
xuống, khi đó lợng lắng đọng và bám dính vào đá của xi măng tăng lên, tiếp tục
co thắt rãnh di động của vữa. Kết quả của quá trình là sẽ xảy ra sự khép kín kênh
dẫn đó tại đầu phía xa của vết nứt so với lỗ khoan, sự chuyển động của vữa chấm
dứt. Bởi vì nớc, hàm lợng có trong vữa có thể thấm qua lỗ rỗ với kích thớc bằng
0,2àm , khi thử dò lỗ khoan nó tiếp tục chuyển động xuyên qua xi măng, kéo
theo cùng với nó những hạt nhỏ nhất, những hạt này sẽ vít chặt lỗ rỗ, sau đó
chuyển động của nớc bị dừng lại. Quá trình phun xi măng kết thúc.
Chiều rộng ban đầu của vết nứt càng lớn, tất nhiên sức cản sự di động
của vữa dọc theo vết nứt càng nhỏ, sụt áp càng nhỏ theo chiều dài, bán kính
lan truyền của vữa so với lỗ khoan càng lớn.
Hình 1.5 Vữa ximăng sau khi đ-
ợc bơm ép lấp đầy các kẽ nứt
của đá
e. Phơng pháp và trình tự thi công bơm ép vữa xi măng
Để bơm ép vữa xi măng vào nền móng, trớc hết ngời ta khoan vào vùng
đất đá, sau đó bơm rửa và ép nớc thí nghiệm (Hình 1.7) để đánh giá độ nứt, hở

Hình 1.8 Khoá van cho bơm ép vữa xi măng
* Phơng pháp bơm ép một lần
Lỗ khoan đợc khoan đến chiều sâu thiết kế rồi đặt thiết bị bơm ép, bơm
ép cho toàn bộ lỗ khoan. Phơng pháp này chỉ đợc áp dụng cho lỗ khoan không
sâu, khe nứt nhỏ, áp lực phun 1,5 át. Chất lợng phun của phơng pháp này
không cao. Thi công theo phơng pháp này nhanh, đơn giản.
Khóa van

Trích đoạn Phơng pháp hoá (sử dụng các loại phụ gia đặc biệt) [4] a Nguyên lý làm việc của phụ gia Nguyên lý làm việc Thiết kế dây chuyền công nghệ bơm ép Thiết bị bơm, ép vữa: Dây chuyền công nghệ bơm phụt vữa * Dây chuyền công nghệ bơm phụt vữa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status