BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
CHỬ QUANG MINH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÃ HỘI HÓA
QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO
THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2012
BẢN CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Thạc sĩ: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
- Nơi học (trường, thành phố):
- Ngành học:
2. Đại học:
- Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian từ: 8/1998 đến 6/2003.
- Nơi học: Đại học Thủy lợi Hà Nội.
- Ngành học: Thủy nông - Cải tạo đất.
- Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp:
Quy hoạch hệ thống thủy lợi lấy phù sa cải tạo đồng ruộng hệ thống Ấp Bắc – Nam
Hồng - huyện Đông Anh – Hà Nội.
- Ngày và nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp:
Ngày …./…./1998, tại Trường đại học Thủy Lợi
- Người hướng dẫn: TS Trần Viết Ổn
3. Thạc sĩ:
- Hệ đào tạo: Sau đại học Thời gian từ: 9/2009 đến 6/2010
- Nơi học: Đại học Thủy lợi Hà Nội.
- Ngành học: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước.
Ảnh 4x6
1
- Tên luận văn:
Nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội hóa Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt, bão
thành phố Hà Nội.
- Ngày và nơi bảo vệ:………………
- Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Viết Ổn
4. Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh, TOEFL. ITP
5. Học vị, học hàm, chức vụ kỹ thuật được chính thức cấp; số bằng, ngày cấp và nơi
cấp:
Chử Quang Minh
2
BẢN CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Thạc sĩ: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
xã hội hóa quản lý đê điều và phòng, chống lụt bão thành phố Hà Nội” là đề
tài do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần
Viết Ổn.
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu
trong đề tài luận văn chư
a từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình./. Học viên
Chử Quang Minh
LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ khoa học “Nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội hóa
quản lý đê điều và phòng chống lụt bão Thành phố Hà Nội” hoàn thành
ngoài sự nỗ lực của bản thân học viên còn có sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của
QLĐĐ : Quản lý đê điều
PCLB : Phòng chống lụt bão
NĐ: : Nghị định
CP : Chính phủ
QLĐND : Quản lý đê nhân dân
QLDA : Quản lý dự án
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: 1
2. Mục đích của Đề tài: 3
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 3
4. Phạm vi nghiên cứu: 4
5. Kết quả dự kiến đạt được: 4
CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HÓA ĐÊ ĐIỀU VÀ
PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO THÀNH PHỐ HÀ NỘI 5
1.1. Hiện trạng đê điều thành phố Hà Nội 5
1.1.1 Đặc đ
iểm địa hình và dân sinh 5
1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 7
1.2. Hiện trạng về chính sách quản lý đê điều thành phố Hà Nội 11
1.2.1 Cơ chế chính sách trung ương 11
1.2.2 Cơ chế chính sách địa phương 12
1.3. Hiện trạng về tổ chức quản lý đê điều và phòng chống lụt bão 14
1.3.1 Hệ thống tổ chức nhà nước về QLĐĐ và PCLB 14
1.3.2 Mô hình hoạ
t động của đội quản lý đê chuyên trách: 19
CHƯƠNG II: CÁC MÔ HÌNH QLĐĐ và PCLB ĐÃ TRIỂN KHAI Ở
MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 21
2.1. Mô hình xã hội hóa QLĐĐ và PCLB tại tỉnh Ninh Bình 21
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, lũ lớn thường xuyên xuất hiện ở nhiều nước
trên thế giới và khu vực, trận lụt thế kỷ xảy ra trong năm 1998 ở Trung Quốc
là sự cảnh báo về tính chất khác thường của thời tiết gây lũ lớn trên nhiều lưu
vực sông với nhiều đợ
t liên tiếp khác nhau. Việt Nam cũng là một trong
những nước chịu sự tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Các yếu tố bất
lợi về thời tiết cũng gia tăng và có những đột biến như trận lũ tháng 8 năm
1996 do cơn bão số 2 và số 4 kết hợp với triều cường, hồ Hoà Bình trên sông
Đà xả 7 cửa là trận lũ lớn nhất trên sông Đà trong khoả
ng thời gian 100 năm
gần đây.
Do tác động biến đổi khí hậu toàn cầu, mức độ và ảnh hưởng của lũ ngày
càng gia tăng. Các trận lũ lớn trên lưu vực sông Hồng phần lớn xảy ra vào
nửa sau của thế kỷ XX, trong vòng 50 năm đã xảy ra 2 trận lũ vượt mực nước
thiết kế và 2 trận lũ xấp xỉ mực nước thiết kế đ
ê tại Hà Nội. Đó là các trận lũ
tháng 8 năm 1945 có mực nước tại Hà Nội đạt 14,43m và lũ tháng 8 năm
1969 có mực nước tại Hà Nội đạt 13,66m, lũ tháng 8 năm 1971 là 14,82m, lũ
tháng 8 năm 1996 đạt 13,46m (kết quả hoàn nguyên lũ theo địa hình lòng dẫn
năm 1993 -1996). Đặc biệt năm 2008 đợt mưa lớn lịch sử xảy ra từ 30/10 đến
3/11/2008 đã gây úng ngập sâu trên diện rộng, lượng mưa trung bình đo đượ
c
là 604mm làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân và gây thiệt hại lớn
cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội toàn thành phố Hà Nội.
đã được chôn trong đê tương ứng từ K0+130-K0+350 đê hữu Đà.
Hệ thống Giếng giảm áp (GGA) trên tuyến đê hữu Hồng gồm 279 giếng,
trong đó: huyện Phúc Thọ có 56 GGA; huyện Đan Phượng có 16 GGA;
huyện Từ Liêm có 55 GGA; quận Hoàng Mai có 90 GGA; huyện Thanh Trì
có 62 GGA.
Tổng số trụ sở và kho bãi vật tư dự
trữ chống lụt bão: 36 vị trí trải dài
trên các tuyến đê.
3
Những năm gần đây đê điều trên địa bàn thành phố đã được Nhà nước
quan tâm đầu tư củng cố, nhưng giai đoạn vừa qua chưa được thử thách với lũ
cao, hơn nữa trên hệ thống đê vẫn còn 8 khu vực trọng điểm và trong thực tế
mấy năm vừa qua tuy lũ nhỏ nhưng vẫn thường xuyên có nhiều sự c
ố phải xử
lý trong lũ. Do vậy sự cố đê điều luôn có yếu tố bất ngờ mà chúng ta chưa
lường hết, nên chỉ có tăng cường tuần tra phát hiện ngay từ đầu và chuẩn bị
tốt mọi điều kiện vật tư, kỹ thuật xử lý kịp thời mọi diễn biến hư hỏng mới có
thể đảm bảo an toàn hệ thố
ng đê điều.
Hiện nay, thành phố Hà Nội, là thủ đô của cả nước, là đô thị đặc biệt,
trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở chính của các
cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ
quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; trung tâm lớn về văn hóa, khoa học
và công nghệ, giáo dục, y tế, kinh tế
và giao dịch quốc tế; nơi diễn ra các hoạt
động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước, đã và đang có tốc độ đô
thị hóa nhanh, với nhiều thành phần kinh tế phát triển thì việc đặt vấn đề
nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội hóa quản lý đê điều và phòng chống lụt
bão thành phố Hà Nội nhằm đảm bảo an toàn đê đ
1.1. Hiện trạng đê điều thành phố Hà Nội
1.1.1 Đặc điểm địa hình và dân sinh
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông
Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02'
kinh độ Đông.
Phía Bắc tiếp giáp với các t
ỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc
Phía Nam tiếp giáp các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình
Phía Đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên
Phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ
Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập
trung chủ yếu bên hữu ngạn.
6
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Nhờ phù
sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu
ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác. Phần diện
tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức,
v
ới các đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia Dê 707 m, Chân Chim 462 m,
Thanh Lanh 427 m, Thiên Trù 378 m Khu vực nội thành có một số gò đồi
thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn.
Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì.
Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức.
Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm.
10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thườ
ng. Vào tháng 5
năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C. Tháng 1
năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C. Đầu tháng 11 năm 2008,
một trận mưa kỷ lục đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư
dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng.
2. Về lũ:
Hà Nội chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ hệ thống sông Hồng. Hàng năm
thường xuất hiện nhiều đợt lũ từ báo động cấp II, III trở lên. Đến nay, Hà Nội
đã từng phải trải qua những trận lũ lịch sử, gây thiệt hại lớn về người và của,
ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của nhân dân. Chẳng hạn, trận l
ũ tháng
III/1971 là trận lũ lịch sử trên lưu vực sông Hồng từ đầu thế kỷ cho đến nay,
với mực nước thực đo tại Hà Nội lên tới 14.13m, vượt quá mức thiết kế của
đê là 83cm. Trận lũ năm 1996, với mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội là 12.43m,
vượt quá mức báo động III 0,93m, thời gian lũ trên mức báo động III kéo dài
6 ngày. Trận lũ từ ngày 10 đến ngày 16/8/2002, mự
c nước tại Hà Nội cao nhất
8
ở mức 12,01m trên BĐIII là 0,51m, mực nước trên BĐIII kéo dài 36 giờ.
Tuy nhiên, ở Bắc Bộ nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, trong
vòng 10 năm trở lại đây chưa xảy ra lũ lớn, mặt khác sau khi hồ Sơn La đi
vào hoạt động, về lý thuyết có thể khống chể được mực nước tại Hà Nội
không vượt quá 13,40m, các vùng khác không vượt quá 13,10m. Do vậy , dễ
sinh tư tưởng chủ quan trong phòng chống.
3. Đặc đ
iểm về chất lượng công trình
được Nhà nước quan tâm đầu tư củng cố. Hàng năm, trước và sau lũ chất
l
ượng công trình trên các tuyến đê được rà soát đánh giá cụ thể theo tiêu chí
về: cao trình đê; mặt cắt ngang đê, tre chắn sóng, gia cố mặt đê, đường hành
lang chân đê; thân đê, nền đê; kè; cống dưới đê; các công trình quản lý… trên
cơ sở đó để xác định các vị trí xung yếu nhằm xử lý và bố phòng trong mùa
mưa lũ. Chất lượng công trình của các tuyến đê được đánh giá như sau:
* Vể chất lượ
ng các tuyến đê:
Các tuyến đê: hữu sông Đà, sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ, sông
Cầu, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi, sông Mỹ Hà
- Về cao trình: qua so sánh với mực nước lũ thiết kế tương ứng với các
tuyến đê cho thấy đều đủ cao trình.
- Về mặt cắt ngang đê: phần lớn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, còn một số
đoạn đê có hệ số mái chưa đả
m bảo như: tại Cổ Đô, Phong Vân (tuyến đê hữu
Hồng), từ K31+000 – K33+500, từ K28+503 – K48+165 (tuyến tả Hồng), tại
đê Yên Thường, Dương Hà, Phù Đổng (tuyến đê tả Đuống), tại đê Dương
Liễu, Quế Cát, Yên Sở, An Thượng… (tuyến đê tả Đáy). Mặt đê đều đã được
cứng hóa bằng bê tông và bê tông nhựa, tuy nhiên còn một số đoạn thuộc các
tuy
ến đê hữu Hồng, tả Đáy mặt đê một số đoạn đang bị xuống cấp nghiêm
trọng.
- Về thân đê và nền đê: Trong những năm qua công tác khoan phụt vữa
gia cố thân đê, lấp các hồ ao gần chân đê, xây dựng hệ thống giếng giảm áp
được thực hiện trên các tuyến đê. Song vẫn còn nhiều vị trí thường xuyên xảy
10
ra hiện tượng thẩm lậu ở mái đê như tại huyện Phú Phượng, Ba Vì, Thường
Tín, Phú Xuyên (tuyến đê hữu Hồng); số lượng hồ ao gần chân đê chưa được
11
trạm bơm Bội Đầu (tuyến đê hữu Hồng), cống tưới trạm bơm Lời (tuyến đê
hữu Đuống), cống tưới Cống Thôn trạm bơm Cống Thôn. Hàng năm, trước
mùa mưa lũ, Chi cục QLĐĐ và PCLB thành phố Hà Nội phối hợp với Ban
chỉ huy PCLB và TKCN các quận huyện, các công ty khai thác công trình
thủy lợi kiểm tra, đánh giá chất lượng cống qua đê. Qua đ
ó, có cơ sở đề xuất
sửa chữa và lập phương án vận hành, cũng như tuân thủ quy trình vận hành
cống theo quy định.
1.2. Hiện trạng về chính sách quản lý đê điều thành phố Hà Nội
1.2.1 Cơ chế chính sách trung ương
- Quyết định số 43/1997-PCLBTƯ ngày 25/4/1997 của Ban chỉ đạo
phòng chống lụt bão Trung ương về trực ban PCLB của Văn phòng Ban chỉ
đạo Trung ương, vă
n phòng Ban chỉ huy PCLB các cấp và văn phòng Ban chỉ
huy PCLB các ngành.
- Quyết định số 2016 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc
phụ cấp nặng nhọc, đọc hại, nguy hiểm.
- Công văn số 262/TCCP-BCTL ngày 16/2/1998 của Ban tổ chức cán bộ
Chính phủ về việc chế độ phụ cấp lưu động đối với kiểm lâm viên và quản lý
đê.
- Thông tư liên tịch ban tổ chức cán bộ, bộ tài chính, B
ộ nông nghiệp và
PTNT số 18/1999/TTLT-BTCCP-BTC-BNN&PTNTngày 28/6/1999 về
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 93/1999/QĐ-TTG ngày 5/4/1999 của Thủ
tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với Kiểm soát viên đê điều tham
gia trực tiếp xử lý sự cố khi có báo động lụt, bão.
- Quyết định số 132/2006/QĐ-TTG ngày 31/5/2006 của Thủ tướng
6. Trực tiếp quản lý mọi hoạt động, công tác của các Hạt quản lý đê trên
địa bàn thành phố, theo đúng nội dung ghi trong Luật đê điều và các Nghị
định của Chính Phủ;
7. Quản lý tài sản, d
ụng cụ, vật tư dự trữ phòng chống lụt, bão của thành
phố, Trung ương đầu tư, quản lý tài chính, tài sản, quản lý cán bộ công chức,
13
viên chức, lao động hợp đồng của chi cục theo đúng quy định hiện hành của
Thành phố và Nhà nước;
8. Thu thập và quản lý thông tin, tư liệu, lưu giữu hồ sơ, lý lịch công
trình về hệ thống đê điều và công trình liên quan đến an toàn đê điều và
phòng, chống lụt, bão. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định;
9. Thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng thường tr
ực phòng, chống lụt bão
& Tìm kiếm cứu nạn Thành phố. Tham mưu giúp Sở Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn, Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão Thành phố chuẩn bị lực
lượng, thực hiện chỉ đạo mọi mặt phòng, chống lụt, bão và khắc phục hậu quả
do lũ gây ra;
10. Theo dõi nguồn vốn đầu tư, tu bổ đê điều , phòng chống lụt, sử dụng,
thực hiện có hiệu quả
các nguồn vốn sự nghiệp quản lý đê điều, dự án đầu tư,
tu bổ, duy tu, bảo dưỡng, sủa chữa các công trình đê điều, phòng chống lụt,
bão theo phân cấp hiện hành;
11. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ,
pháp luật về đê điều, phòng, chống lụt, bão cho các lực lượng tuần tra canh
gác đê, bảo vệ đê đ
iều. Tham gia chỉ đọa xử lý sự cố ở đê, đập, hồ chứa nước
vừa và lớn;
12. Thẩm định và lập thủ tục trình, cấp phép xây dựng các công trình có
Ngay từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Bác Hồ đã ký sắc
lệnh 70 là văn bản đầu tiên của nhà nước ta về việc thành lập Ủy ban nhân
dân hộ đê. Sau hòa bình, Nhà nước ta ra Nghị định 173/CP ngày 20/10/1963,
ban hành điều lệ bả
o vệ đê điều, nhằm nâng cao trách nhiệm của chính quyền
các cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội và mỗi công dân trong việc
quản lý, bảo vệ, xây dựng tu bổ đê điều và phòng chống lụt bão, khắc phục
hậu quả do lụt bão gây ra. Để kế thừa và phát triển các quan điểm cơ bản của
sắc lệnh số 70 và điều lệ bảo v
ệ đê điều, đồng thời nhằm sửa đổi, bổ xung cho
phù hợp với tình hình phát triển, đổi mới của đất nước, Nhà nước đã ban hành
sắc lệnh về đê điều ngày 16/11/1989, Pháp lệnh phòng chống lụt bão ngày
15
20/3/1993, Pháp lệnh về đê điều được sửa đổi thông qua ngày 24/8/2000 và
Pháp lệnh phòng chống lụt bão được sửa đổi, bổ xung ngày 24/8/2000 và các
Nghị định số 171/2003/NĐ-CP ngày 26/12/2003 của Chính phủ, Nghị định số
08/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về quy định, hướng dẫn chi
tiết một số điều của Pháp lệnh đê điều và pháp lệnh phòng chống lụt bão.
Hiện nay, hệ th
ống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đê điều
và phòng chống lụt bão đã được Nhà nước thể chế hóa bằng Luật, các Nghị
định hướng dẫn một cách đồng bộ, đó là: Luật đê điều số 79/2006/QH11 đã
được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006; Nghị định
113/2007/NĐ-CP ngày 28/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một s
ố điều của Luật đê điều; Nghị định 129/2007/NĐ-CP ngày
02/8/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về đê điều.
Với đặc điểm về địa hình, khí hậu, thủy văn và chất lượng đê điều Thành
phố Hà Nội nêu trên, hệ thống đê điều Thành phố Hà Nội có vị trí đặc biệt