NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÃ HỘI HÓA QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

CHỬ QUANG MINH

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÃ HỘI HÓA
QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2012


BẢN CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Thạc sĩ: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
xã hội hóa quản lý đê điều và phòng, chống lụt bão thành phố Hà Nội” là đề
tài do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần
Viết Ổn.
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu
trong đề tài luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình./.
Học viên

Chử Quang Minh


LÝ LỊCH KHOA HỌC

1. Trung học chuyên nghiệp:
- Hệ đào tạo: ............................ Thời gian từ: .........../............... đến ............../.......................
- Nơi học (trường, thành phố):.................................................................................................
- Ngành học: ............................................................................................................................
2. Đại học:
- Hệ đào tạo: Chính quy
- Nơi học:

Thời gian từ: 8/1998 đến 6/2003.

Đại học Thủy lợi Hà Nội.

- Ngành học: Thủy nông - Cải tạo đất.
- Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp:
Quy hoạch hệ thống thủy lợi lấy phù sa cải tạo đồng ruộng hệ thống Ấp Bắc – Nam
Hồng - huyện Đông Anh – Hà Nội.
- Ngày và nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp:
Ngày …./…./1998, tại Trường đại học Thủy Lợi
- Người hướng dẫn: TS Trần Viết Ổn
3. Thạc sĩ:
- Hệ đào tạo: Sau đại học
- Nơi học:

Thời gian từ: 9/2009 đến 6/2010

Đại học Thủy lợi Hà Nội.

- Ngành học: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước.

1


IV. KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC CAO HỌC:

Không.
V. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ:

Không.

Hà Nội, ngày
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN CỬ ĐI HỌC

tháng

năm 2012

Người khai ký tên

Chử Quang Minh

2


BẢN CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Thạc sĩ: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
xã hội hóa quản lý đê điều và phòng, chống lụt bão thành phố Hà Nội” là đề
tài do cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần
Viết Ổn.
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu
trong đề tài luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình./.

: Luật đê điều

PLPCLB

: Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão.

XHH

: Xã hội hóa

UBND

: Ủy ban nhân dân

BNN & PTNT

: Bộ Nông nghiệp và PTNT.

PCLB TW

: Phòng chống lụt, bão trung ương

QLĐĐ

: Quản lý đê điều

PCLB

: Phòng chống lụt bão


Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: ........................................ 3

4.

Phạm vi nghiên cứu:............................................................................ 4

5.

Kết quả dự kiến đạt được: ................................................................... 4

CHƯƠNG I: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HÓA ĐÊ ĐIỀU VÀ
PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO THÀNH PHỐ HÀ NỘI...................................5
1.1. Hiện trạng đê điều thành phố Hà Nội ............................................. 5
1.1.1

Đặc điểm địa hình và dân sinh ..................................................... 5

1.1.2

Đặc điểm khí hậu, thủy văn.......................................................... 7

1.2. Hiện trạng về chính sách quản lý đê điều thành phố Hà Nội ..... 11
1.2.1

Cơ chế chính sách trung ương .................................................... 11

1.2.2

Cơ chế chính sách địa phương.................................................... 12



Hệ thống đê điều mang tính cộng đồng...................................... 26

3.1.2

Quản lý đê điều có tính truyền thống, xã hội hóa ...................... 26

3.1.3

Khái niệm xã hội hóa quản lý đê điều ........................................ 27

3.2. Giải pháp về chính sách .................................................................. 35
3.2.1

Nội dung chính sách ................................................................... 35

3.2.2

Phương pháp xây dựng chính sách............................................. 37

3.3. Giải pháp về tổ chức quản lý.......................................................... 38
3.3.1

Giới thiệu về mô hình QLĐĐ và PCLB..................................... 38

3.3.2

Mô hình thí điểm ........................................................................ 40

3.4. Hỗ trợ hoạt động cho mô hình ....................................................... 53

3.5.4

Kỹ thuật xử lý sự cố đê điều trong mùa mưa bão ...................... 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 65



1

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, lũ lớn thường xuyên xuất hiện ở nhiều nước

trên thế giới và khu vực, trận lụt thế kỷ xảy ra trong năm 1998 ở Trung Quốc
là sự cảnh báo về tính chất khác thường của thời tiết gây lũ lớn trên nhiều lưu
vực sông với nhiều đợt liên tiếp khác nhau. Việt Nam cũng là một trong
những nước chịu sự tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Các yếu tố bất
lợi về thời tiết cũng gia tăng và có những đột biến như trận lũ tháng 8 năm
1996 do cơn bão số 2 và số 4 kết hợp với triều cường, hồ Hoà Bình trên sông
Đà xả 7 cửa là trận lũ lớn nhất trên sông Đà trong khoảng thời gian 100 năm
gần đây.
Do tác động biến đổi khí hậu toàn cầu, mức độ và ảnh hưởng của lũ ngày
càng gia tăng. Các trận lũ lớn trên lưu vực sông Hồng phần lớn xảy ra vào
nửa sau của thế kỷ XX, trong vòng 50 năm đã xảy ra 2 trận lũ vượt mực nước
thiết kế và 2 trận lũ xấp xỉ mực nước thiết kế đê tại Hà Nội. Đó là các trận lũ
tháng 8 năm 1945 có mực nước tại Hà Nội đạt 14,43m và lũ tháng 8 năm

tạm).
Hai công trình đầu mối phân lũ là Vân Cốc và Đập Đáy; 25 vị trí đường
tràn điều tiết trong vùng chậm lũ Chương Mỹ và Mỹ Đức; Công trình chậm lũ
Lương Phú có 2 đường tràn; Hệ thống nổ mìn gồm 360 ống nhồi bằng bê tông
đã được chôn trong đê tương ứng từ K0+130-K0+350 đê hữu Đà.
Hệ thống Giếng giảm áp (GGA) trên tuyến đê hữu Hồng gồm 279 giếng,
trong đó: huyện Phúc Thọ có 56 GGA; huyện Đan Phượng có 16 GGA;
huyện Từ Liêm có 55 GGA; quận Hoàng Mai có 90 GGA; huyện Thanh Trì
có 62 GGA.
Tổng số trụ sở và kho bãi vật tư dự trữ chống lụt bão: 36 vị trí trải dài
trên các tuyến đê.


3

Những năm gần đây đê điều trên địa bàn thành phố đã được Nhà nước
quan tâm đầu tư củng cố, nhưng giai đoạn vừa qua chưa được thử thách với lũ
cao, hơn nữa trên hệ thống đê vẫn còn 8 khu vực trọng điểm và trong thực tế
mấy năm vừa qua tuy lũ nhỏ nhưng vẫn thường xuyên có nhiều sự cố phải xử
lý trong lũ. Do vậy sự cố đê điều luôn có yếu tố bất ngờ mà chúng ta chưa
lường hết, nên chỉ có tăng cường tuần tra phát hiện ngay từ đầu và chuẩn bị
tốt mọi điều kiện vật tư, kỹ thuật xử lý kịp thời mọi diễn biến hư hỏng mới có
thể đảm bảo an toàn hệ thống đê điều.
Hiện nay, thành phố Hà Nội, là thủ đô của cả nước, là đô thị đặc biệt,
trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở chính của các
cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ
quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; trung tâm lớn về văn hóa, khoa học
và công nghệ, giáo dục, y tế, kinh tế và giao dịch quốc tế; nơi diễn ra các hoạt
động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước, đã và đang có tốc độ đô
thị hóa nhanh, với nhiều thành phần kinh tế phát triển thì việc đặt vấn đề

Hệ thống đê điều trên địa bàn thành phố Hà Nội.

5.

Kết quả dự kiến đạt được:
Các giải pháp nhằm xã hội hóa công tác quản lý đê điều và phòng chống

lụt bão trên địa bàn thành phố Hà Nội.


5

CHƯƠNG I
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HÓA ĐÊ ĐIỀU VÀ PHÒNG,
CHỐNG LỤT, BÃO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Hiện trạng đê điều thành phố Hà Nội
1.1.1 Đặc điểm địa hình và dân sinh
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông
Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02'
kinh độ Đông.
Phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc
Phía Nam tiếp giáp các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình
Phía Đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên
Phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ

Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố
Hà Nội có diện tích 3.324,92 km², nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập
trung chủ yếu bên hữu ngạn.




7

1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
1. Mưa, bão
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận
nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. Thuộc vùng
cận nhiệt đới ấm, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất
dồi dào và có nhiệt độ cao. Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và
lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm. Một đặc điểm rõ nét
của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Mùa
nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình
28,1 °C. Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt
độ trung bình 18,6 °C. Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng
10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông.
Khí hậu Hà Nội cũng ghi nhận những biến đổi bất thường. Vào tháng 5
năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C. Tháng 1
năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C. Đầu tháng 11 năm 2008,
một trận mưa kỷ lục đổ xuống các tỉnh miền Bắc và miền Trung khiến 18 cư
dân Hà Nội thiệt mạng và gây thiệt hại cho thành phố khoảng 3.000 tỷ đồng.
2. Về lũ:
Hà Nội chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ hệ thống sông Hồng. Hàng năm
thường xuất hiện nhiều đợt lũ từ báo động cấp II, III trở lên. Đến nay, Hà Nội
đã từng phải trải qua những trận lũ lịch sử, gây thiệt hại lớn về người và của,
ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của nhân dân. Chẳng hạn, trận lũ tháng
III/1971 là trận lũ lịch sử trên lưu vực sông Hồng từ đầu thế kỷ cho đến nay,
với mực nước thực đo tại Hà Nội lên tới 14.13m, vượt quá mức thiết kế của
đê là 83cm. Trận lũ năm 1996, với mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội là 12.43m,
vượt quá mức báo động III 0,93m, thời gian lũ trên mức báo động III kéo dài
6 ngày. Trận lũ từ ngày 10 đến ngày 16/8/2002, mực nước tại Hà Nội cao nhất

huyện Từ Liêm có 55 GGA; quận Hoàng Mai có 90 GGA; huyện Thanh Trì


9

có 62 GGA.
Tổng số trụ sở và kho bãi vật tư dự trữ chống lụt bão: 36 vị trí trải dài
trên các tuyến đê.
Đánh giá về chất lượng công trình: Hệ thống đê điều thành phố Hà Nội
được hình thành từ lâu, những năm gần đây đê điều trên địa bàn thành phố đã
được Nhà nước quan tâm đầu tư củng cố. Hàng năm, trước và sau lũ chất
lượng công trình trên các tuyến đê được rà soát đánh giá cụ thể theo tiêu chí
về: cao trình đê; mặt cắt ngang đê, tre chắn sóng, gia cố mặt đê, đường hành
lang chân đê; thân đê, nền đê; kè; cống dưới đê; các công trình quản lý… trên
cơ sở đó để xác định các vị trí xung yếu nhằm xử lý và bố phòng trong mùa
mưa lũ. Chất lượng công trình của các tuyến đê được đánh giá như sau:
* Vể chất lượng các tuyến đê:
Các tuyến đê: hữu sông Đà, sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ, sông
Cầu, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi, sông Mỹ Hà
- Về cao trình: qua so sánh với mực nước lũ thiết kế tương ứng với các
tuyến đê cho thấy đều đủ cao trình.
- Về mặt cắt ngang đê: phần lớn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, còn một số
đoạn đê có hệ số mái chưa đảm bảo như: tại Cổ Đô, Phong Vân (tuyến đê hữu
Hồng), từ K31+000 – K33+500, từ K28+503 – K48+165 (tuyến tả Hồng), tại
đê Yên Thường, Dương Hà, Phù Đổng (tuyến đê tả Đuống), tại đê Dương
Liễu, Quế Cát, Yên Sở, An Thượng… (tuyến đê tả Đáy). Mặt đê đều đã được
cứng hóa bằng bê tông và bê tông nhựa, tuy nhiên còn một số đoạn thuộc các
tuyến đê hữu Hồng, tả Đáy mặt đê một số đoạn đang bị xuống cấp nghiêm
trọng.
- Về thân đê và nền đê: Trong những năm qua công tác khoan phụt vữa

* Vể chất lượng các cống:
Toàn thành phố hiện có 194 cống qua đê, với kết cấu bê tông cốt thép,
phần lớn được xây dựng từ lâu do vậy nhiều cống bị xuống cấp như cống tưới


11

trạm bơm Bội Đầu (tuyến đê hữu Hồng), cống tưới trạm bơm Lời (tuyến đê
hữu Đuống), cống tưới Cống Thôn trạm bơm Cống Thôn. Hàng năm, trước
mùa mưa lũ, Chi cục QLĐĐ và PCLB thành phố Hà Nội phối hợp với Ban
chỉ huy PCLB và TKCN các quận huyện, các công ty khai thác công trình
thủy lợi kiểm tra, đánh giá chất lượng cống qua đê. Qua đó, có cơ sở đề xuất
sửa chữa và lập phương án vận hành, cũng như tuân thủ quy trình vận hành
cống theo quy định.
1.2. Hiện trạng về chính sách quản lý đê điều thành phố Hà Nội
1.2.1 Cơ chế chính sách trung ương
- Quyết định số 43/1997-PCLBTƯ ngày 25/4/1997 của Ban chỉ đạo
phòng chống lụt bão Trung ương về trực ban PCLB của Văn phòng Ban chỉ
đạo Trung ương, văn phòng Ban chỉ huy PCLB các cấp và văn phòng Ban chỉ
huy PCLB các ngành.
- Quyết định số 2016 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và PTNT về việc
phụ cấp nặng nhọc, đọc hại, nguy hiểm.
- Công văn số 262/TCCP-BCTL ngày 16/2/1998 của Ban tổ chức cán bộ
Chính phủ về việc chế độ phụ cấp lưu động đối với kiểm lâm viên và quản lý
đê.
- Thông tư liên tịch ban tổ chức cán bộ, bộ tài chính, Bộ nông nghiệp và
PTNT số 18/1999/TTLT-BTCCP-BTC-BNN&PTNTngày 28/6/1999 về
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 93/1999/QĐ-TTG ngày 5/4/1999 của Thủ
tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với Kiểm soát viên đê điều tham
gia trực tiếp xử lý sự cố khi có báo động lụt, bão.

địa bàn thành phố, theo đúng nội dung ghi trong Luật đê điều và các Nghị
định của Chính Phủ;
7. Quản lý tài sản, dụng cụ, vật tư dự trữ phòng chống lụt, bão của thành
phố, Trung ương đầu tư, quản lý tài chính, tài sản, quản lý cán bộ công chức,


13

viên chức, lao động hợp đồng của chi cục theo đúng quy định hiện hành của
Thành phố và Nhà nước;
8. Thu thập và quản lý thông tin, tư liệu, lưu giữu hồ sơ, lý lịch công
trình về hệ thống đê điều và công trình liên quan đến an toàn đê điều và
phòng, chống lụt, bão. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định;
9. Thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng thường trực phòng, chống lụt bão
& Tìm kiếm cứu nạn Thành phố. Tham mưu giúp Sở Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn, Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão Thành phố chuẩn bị lực
lượng, thực hiện chỉ đạo mọi mặt phòng, chống lụt, bão và khắc phục hậu quả
do lũ gây ra;
10. Theo dõi nguồn vốn đầu tư, tu bổ đê điều , phòng chống lụt, sử dụng,
thực hiện có hiệu quả các nguồn vốn sự nghiệp quản lý đê điều, dự án đầu tư,
tu bổ, duy tu, bảo dưỡng, sủa chữa các công trình đê điều, phòng chống lụt,
bão theo phân cấp hiện hành;
11. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ,
pháp luật về đê điều, phòng, chống lụt, bão cho các lực lượng tuần tra canh
gác đê, bảo vệ đê điều. Tham gia chỉ đọa xử lý sự cố ở đê, đập, hồ chứa nước
vừa và lớn;
12. Thẩm định và lập thủ tục trình, cấp phép xây dựng các công trình có
liên quan đến đê điều, hành lang thoát lũ và khai thác tài nguyên ở lòng sông,
thềm sông theo quy định;
13. Nghiên cứu ứng dụng, triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật về tu

các cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội và mỗi công dân trong việc
quản lý, bảo vệ, xây dựng tu bổ đê điều và phòng chống lụt bão, khắc phục
hậu quả do lụt bão gây ra. Để kế thừa và phát triển các quan điểm cơ bản của
sắc lệnh số 70 và điều lệ bảo vệ đê điều, đồng thời nhằm sửa đổi, bổ xung cho
phù hợp với tình hình phát triển, đổi mới của đất nước, Nhà nước đã ban hành
sắc lệnh về đê điều ngày 16/11/1989, Pháp lệnh phòng chống lụt bão ngày


15

20/3/1993, Pháp lệnh về đê điều được sửa đổi thông qua ngày 24/8/2000 và
Pháp lệnh phòng chống lụt bão được sửa đổi, bổ xung ngày 24/8/2000 và các
Nghị định số 171/2003/NĐ-CP ngày 26/12/2003 của Chính phủ, Nghị định số
08/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về quy định, hướng dẫn chi
tiết một số điều của Pháp lệnh đê điều và pháp lệnh phòng chống lụt bão.
Hiện nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đê điều
và phòng chống lụt bão đã được Nhà nước thể chế hóa bằng Luật, các Nghị
định hướng dẫn một cách đồng bộ, đó là: Luật đê điều số 79/2006/QH11 đã
được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006; Nghị định
113/2007/NĐ-CP ngày 28/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật đê điều; Nghị định 129/2007/NĐ-CP ngày
02/8/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về đê điều.
Với đặc điểm về địa hình, khí hậu, thủy văn và chất lượng đê điều Thành
phố Hà Nội nêu trên, hệ thống đê điều Thành phố Hà Nội có vị trí đặc biệt
quan trọng. Nếu xảy ra các sự cố đê điều ở bất kỳ tuyến đê nào, địa phương
nào trên địa bàn thành phố đều gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh
hoạt và sản xuất của nhân dân, đặc biệt nếu xảy ra sự cố vỡ đê sông ở bất kỳ
vị trí nào đều gây ra những hậu quả khó lường về con người, kinh tế của
thành phố, do đọ sâu ngập lụt lớn. Chính vì vậy, thành phố Hà Nội rất quan
tâm đến công tác quản lý, bảo vệ công trình đê điều, hộ đê phòng lụt. Ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status