CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
• Lý do chọn đề tài
Trong thời gian gần đây, tuy tình hình thế giới mà đặc biệt là khu vực Đông Nam
Á có những diễn biến phức tạp nhưng với sự ổn định về chính trị cùng với chính
sách mở cửa ưu đãi của Chính Phủ đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư trong
nước và nước ngoài đầu tư vào du lịch, ngành mà được xem là ngành kinh tế mũi
nhọn, ngành công nghiệp không khói. Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển và
đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự tăng trưởng của một nền kinh tế.
Những năm vừa qua, ngành du lịch Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, mang lại
nguồn lợi nhuận không nhỏ cho kinh tế đất nước.
Với sự phát triển như thế, nhiều công ty du lịch đã ra đời và không ngừng lớn
mạnh về số lượng cũng như chất lượng. Song song đó, nhiều địa danh, nhiều danh
lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, đã được trùng tu, tôn tạo, nâng cấp để khai
thác phục vụ khách tham quan trên khắp mọi vùng miền của đất nước. Một trong
những điểm đến của du lịch Việt Nam, phải kể đến Khu di tích địa đạo Củ Chi,
Địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như
một huyền thoại của thế kỷ XX và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới.
Địa Đạo Củ Chi ngày nay đã và đang trở thành khu du lịch sinh thái quan trọng
của Thành phố Hố Chí Minh với lượng khách bình quân khoảng 2.000 -4000
khách/ngày bao gồm cả khách nội địa và khách nước ngoài. Ngoài tham quan di
tích địa đạo, du khách còn tham gia nhiều mô hình dịch vụ ở địa đạo như bắn
súng, hồ bơi, câu cá, ăn uống, mua hàng lưu niệm, chụp hình in trên sản phẩm lưu
niệm, khu vui chơi, cắm trại Với nét đặc trưng này sẽ là tiềm năng lớn để khai
thác du lịch, tạo nên lợi thế so sánh với các điểm tham quan di tích khác. Nhưng
làm sao để khách du lịch ngày càng biết đến khu du lịch tiềm năng này? Làm sao
để thu hút số lượng khách tham quan khu di tích này ngày càng đông? Làm sao để
du khách đến với Địa Đạo Củ Chi không những hai lần mà ba lần và hơn nữa?
Nhất là đối với đối tượng là khách nội địa, khi mà trên địa bàn Thành phố có nhiều
khu vui chơi giải trí trong khi Địa Đạo Củ Chi chỉ là một di tích lịch sử. Đó không
những là câu hỏi đặt ra cho Ban Giám Đốc và cả tập thể nhân viên làm việc tại địa
đạo, mà còn với những người quan tâm, và yêu thích khu di tích lịch sử Địa Đạo
bày trong 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing
Chương 3: Thực trạng về hoạt động Marketing nhằm thu hút khách du lịch tại
Địa Đạo Củ Chi
Chương 4: Giải pháp Marketing nhằm thu hút khách nội địa đến Địa Đạo Củ Chi
Chương 5: Kết luận
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING
2.1. KHÁI QUÁT VỀ MARKETING
2.1.1. Khái niệm Marketing
Marketing là gì là một câu hỏi có rất nhiều câu trả lời nhưng khó có câu trả lời nào
có thể bao quát tất cả các khía cạnh mà marketing đề cập. Rất nhiều người nghĩ rằng
marketing chỉ là bán hàng và quảng cáo, nhưng đến đây chúng ta đều hiểu rằng chúng chỉ
là một phần bề nổi của tảng băng trôi và chúng ta sẽ nhận thức rõ điều này khi đi sâu vào
nghiên cứu các nội dung của marketing.
Ngày nay, hầu hết các trường phái nghiên cứu về marketing đều thống nhất ở quan
điểm marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Thật vậy, nếu trước đây người ta cho
rằng marketing là làm sao quảng cáo tốt để bán được hàng thì ngày nay điều mà các nhà
làm marketing quan tâm là làm thế nào để hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ nhu cầu của họ, từ
đó phát triển những sản phẩm mang lại cho khách hàng những giá trị vượt trội với mức
giá hợp lý, phân phối và cổ động một cách hiệu quả thì việc bán những sản phẩm đó
không có vấn đề gì khó khăn. Do vậy, rõ ràng là bán hàng và quảng cáo chỉ là một phần
của phối thức marketing rộng lớn, một tập hợp các công cụ phối hợp với nhau nhằm ảnh
hưởng thị trường.
Chúng ta định nghĩa marketing là “một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá
nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi những
sản phẩm có giá trị với những người khác”.
2.1.2. Các mục tiêu của Marketing
• Tối đa hóa mức độ tiêu dùng: Việc xác lập mục tiêu này của marketing dựa trên một
• Môi trường bên trong công ty tạo nên điểm yếu hay điểm mạnh của công ty.
Bước 2: Xác định mục tiêu và thiết kế các chiến lược marketing
Chiến lược marketing bao gồm chiến lược chọn thị trường mục tiêu (marketing
targeting). Tạo vị trí sản phẩm trên thị trường mục tiêu, các chiến lược marketing cạnh
tranh và phát triển và chiến lược marketing hỗn hợp (marketing mix).
Bước 3: Hoạch định chương trình marketing
Chương trình marketing bao gồm các quyết định: Làm cái gì? Khi nào làm? Ai sẽ
làm? Và chi phí bao nhiêu? Như vậy chương trình marketing cụ thể hóa các công việc cụ
thể thực hiện như các quyết định nghiên cứu thị trường, về sản phẩm, giá cả, chiêu thị,
phân phối…
Bước 4: Triển khai marketing Mix
Bước 5: Thực hiện chiến lược marketing
Bước 6: Kiểm tra hoạt động marketing
2.2. Vai trò và vị trí của Marketing trong doanh nghiệp
Qua nghiên cứu và phân tích lịch sử phát triển của marketing các nhà kinh tế khẳng
định marketing ra đời trước hết chính là để nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động
thương mại, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết những khó khăn rủi ro mà doanh nghiệp phải
đối mặt cũng như xác định được cơ hội của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp đưa
ra giải pháp kinh doanh có hiệu quả nhất.
Marketing còn có chức năng hết sức quan trọng đó là chức năng kết nối mọi hoạt
động của doanh nghiệp với thị trường. Marketing hướng các nhà quản trị vào việc trả lời
hai câu hỏi:
• Một là, liệu thị trường có cần hết hay mua hết số sản phẩm doanh nghiệp tạo ra hay
không?
• Hai là, liệu cái giá mà doanh nghiệp định bán, người tiêu dùng có đủ tiền mua hay
không?
Qua đó marketing đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo
thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và mong muốn của khách hàng làm chỗ dựa
vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh.
Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing của Doanh nghiệp
phương, đặc điểm phân bố dân cư,… thì chắc chắn sẽ dẫn tới thất bại và kéo theo những
hậu quả nhiêm trọng về môi trường, văn hoá, phong tục, tập quán,…Và để khắc phục
những nhược điểm này thì phương pháp tiếp cận theo hướng xã hội ra đời.
2.3.3. Marketing theo hướng xã hội.
Đây là phương pháp kết hợp được những ưu điểm của cả hai phương hướng trên.
Nó vừa quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của khách, vừa quan tâm đến tài nguyên
thiên nhiên, nguồn thực phẩm, văn hoá, tập tục dân cư mà lại không quên lợi ích kinh tế.
Nói tóm lại đây là một phương hướng Marketing hiện đại có đầy đủ những ưu điểm tuyệt
vời nhất và hạn chế được các nhược điểm một cách hiệu quả nhất. Nó vừa chú trọng thoả
mãn nhu cầu của khách hàng lại vừa chú trọng phát triển, bảo vệ và giữ gìn di sản của đất
nước. Tất cả phương hướng trên tạo bước cơ sở cho các doanh nghiệp du lịch thiết lập
nên chính sách Marketing để từ đó tận dụng được tối đa khả năng nội lực của mình, kết
hợp với các lợi thế từ bên ngoài sao cho hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt được là cao
nhất, đồng thời phù hợp và đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng mong muốn.
2.4. Các chiến lược marketing tiếp cận với thị trường mục tiêu.
2.4.1. Chính sách sản phẩm.
Sản phẩm được hiểu là tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ có thể đem ra chào bán và
có khả năng thoả mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người, gây sự chú ý, kích
thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ. Sản phẩm du lịch vừa là mặt hàng cụ thể vừa là
một mặt hàng không cụ thể. Nói cách khác, sản phẩm du lịch là tổng hợp các thành tố
khác nhau nhằm cung cấp cho khách kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng. Chính
sách sản phẩm được hiểu là một chủ trương của doanh nghiệp về việc hạn chế, duy trì,
phát triển, mở rộng đổi mới cơ cấu mặt hàng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị
trường với hiệu quả phù hợp với các giai đoạn chu kỳ sống của sản phẩm. Sản phẩm du
lịch là các chương trình du lịch, các dịch vụ lưu trú, ăn uống… Do vậy đặc trưng của sản
phẩm du lịch là phải sử dụng thì mới biết. Sản phẩm du lịch phải bán cho khách trước khi
họ tiêu dùng và thấy sản phẩm đó. Vì thế khách hàng cần phải được thông tin một cách
kỹ lưỡng về tất cả những gì mà họ sẽ mua, sẽ sử dụng… Do đó cần phải có một kinh
nghiệm tích luỹ. Mặt khác, sản phẩm du lịch không lưu trữ được, không sản xuất trước
được, do vậy việc điều hoà cung cầu là rất khó khăn.Khi thực hiện chiến lược sản phẩm
nhận được chất lượng dịch vụ mà mình mua để từ đó có thể tôn tạo được hình ảnh của
dịch vụ. Nếu sản phẩm chất lượng tốt thì giá phải đặt cao để tôn vinh hình ảnh của chúng
ta. Nếu giá không đúng thì việc truyền thông sẽ có tác dụng ngược lại. Giá ảnh hưởng
đến tất cả các phần của kênh phân phối, những người bán, người cung cấp, đối thủ cạnh
tranh, khách hàng… tất cả đều chịu tác động của chính sách giá. Định giá hợp lý sẽ tạo
dựng một kênh phân phối hoạt động tốt, định nhãn thương hiệu cho các dịch vụ cũng có
thể cho phép chúng ta thực hiện chính sách giá cao. Đối với hàng hoá bình thường thì
định giá dựa trên chi phí, còn đối với hàng hoá dịch vụ thì định giá dựa trên giá trị cảm
nhận của khách hàng, dựa vào tình hình cạnh tranh còn chi phí chỉ là nền của giá. Trong
dịch vụ giá bao gồm giá trọn gói toàn phần hoặc giá từng phần.
Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc định giá cho sản phẩm dịch vụ của mình đều
phải phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. Mục tiêu định giá phải xuất phát từ mục
tiêu của doanh nghiệp và chất lượng định vị sản phẩm mà công ty đã lựa chọn. Trong
điều kiện thị trường đầy rẫy những bất lợi thì mục tiêu định giá có thể liên quan đến mức
độ lợi nhuận trong tương lai để đảm bảo duy trì sự tồn tại.
Lợi nhuận là trong tương lai còn trước mắt là phải tồn tại, bù đắp chi phí thậm chí
giá bán nhỏ hơn giá thành.
- Mục tiêu định giá có thể là tối đa hoá lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định.
- Mục tiêu định giá có thể làm tối đa hoá doanh số: dựa trên nguyên tắc định giá
để tạo ra thị phần, giá thấp hơn thì có thể tạo ra nhiều thị phần hơn để xâm nhập vào thị
trường mới.
- Mục tiêu định giá có thể là để khẳng định vị thế của mình giống như là một sự
độc quyền (định giá uy tín).
- Mục tiêu định giá trên cơ sở mong muốn thu hồi đầu tư trong một thời gian nào
đấy.
2.4.3. Chính sách phân phối
Chính sách phân phối sản phẩm và dịch vụ là phương hướng thể hiện cách mà các
doanh nghiệp khách sạn, du lịch cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng của
mình. Nó là hệ thống tổng hợp các biện pháp, thủ thuật nhằm đưa sản phẩm và dịch vụ
tới tay khách hàng cuối cùng với số lượng hàng hoá hợp lý, mặt hàng phù hợp và đảm
+ Kênh phân phối gián tiếp.
Người sản xuất → các trung gian → người tiêu dùng.
Ngoài ra các doanh nghiệp còn có thể bán hàng qua catalog, qua thư, điện
thoại, fax, qua mạng internet,…
2.4.4. Chính sách xúc tiến
Cầu sản phẩm dịch vụ bao giờ cũng mang tính thời vụ và thất thường. Thông
thường khi mua sản phẩm dịch vụ nói chung khách hàng rất cần các lời khuyên của các
chuyên gia nhất là của các đại lý du lịch. Do vậy xúc tiến không những cho các kênh
phân phối mà còn phải xúc tiên cho báo chí, công luận, khách hàng… Xúc tiến không chỉ
có quảng cáo mà phải thông qua các kênh thương mại, kênh xã hội, kênh sản xuất…
Nhưng chỉ biết rằng kênh truyền thông kênh con người là rất hiệu quả. Cầu về sản phẩm
du lịch rất nhạy bén về giá cả và biến động về tình hình kinh tế. Sự trung thành của khách
hàng với các nhãn hiệu không sâu sắc. Do vậy mục đích của xúc tiến là để thuyết phục,
nhắc nhở khách hàng mua sản phẩm của mình dù sản phẩm cũ hay mới, thậm chí là thay
đổi các quan niệm, các hình ảnh… Đồng thời xúc tiến thông báo cho khách hàng các
chương trình du lịch, các sản phẩm dịch vụ mới trong kinh doanh lữ hành – khách sạn và
đặc tính của nó. Hoặc có thể thuyết phục khách hàng mua các chương trình du lịch. Trong
kinh doanh du lịch thì truyền thông thuyết phục sẽ được quan tâm nhiều nhất vì nó có thể
sửa đổi thái độ, thói quen và củng cố niềm tin của khách hàng cả trước và sau khi mua.
Xúc tiến hỗn hợp là thực hiện việc xúc tiến bằng cách kết hợp các công cụ xúc tiến
để đạt hiệu quả tốt nhất. Các công cụ đó bao gồm: Quảng cáo, xúc tiến bán (khuyến mãi),
bán trực tiếp, quan hệ công chúng và truyền thông.
Trách nhiệm của người làm quảng cáo là thu hút sự chú ý của khách hàng tiềm năng, làm
cho họ đến và tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ của mình. Tuy nhiên, để thu hút phải biết
rõ mục đích quảng cáo là gì. Quảng cáo là rất tốn tiền vì vậy phải biết để có biện pháp
khắc phục. Quảng cáo phải liên quan đến các nhiệm vụ, mục tiêu và đo lường được hiệu
quả quảng cáo, hiệu quả không thể tính trong thời gian vài tháng mà phải sau một thời
gian nào đó thì nó mới có tác dụng. Một chương trình sản xuất, nội dung quảng cáo phải
được truyền thông nhiều lần mới hy vọng sự phản hồi của thị trường, tuy nhiên một
quảng cáo lặp đi lặp lại quá nhiều lần thì khách hàng sẽ cảm thấy cũ kỹ, mất giá trị. Do
+ Với chi phí thấp và hợp lý nhất để công tác đào tạo đạt được hiệu quả cao và
năng suất khách sạn của nhân viên được phát huy tối đa.
+ Quản lý kiểm soát được chất lượng phục vụ, chất lượng công việc của nhân
viên sao cho nó đảm bảo tính ổn định và có chất lượng cao trong lao động. Bởi đây là các
yếu tố quyết định lợi nhuận và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh du
lịch.
Tuy nhiên việc đào tạo phải được diễn ra thường xuyên liên tục phù hợp với sự phát
triển của thị trường và xã hội.
2.5. Tìm hiểu chung về các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
2.5.1. Khái niệm
Kinh doanh là các hoạt động nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh
trên thị trường. Ngoài ra, theo Điều 3 Luật doanh nghiệp thì “ Kinh doanh là việc thực
hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Du lịch: Theo điều 10 Mục 1 Pháp lệnh du lịch thì “Du lịch là một hoạt động của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh
lời (Điều 10 mục 7 Pháp lệnh du lịch).
Doanh nghiệp du lịch là một hệ thống mở có quan hệ chặt chẽ với môi trường kinh
doanh. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào trong hệ thống phân công lao động xã hội nói
chung và ngành du lịch nói riêng. Doanh nghiệp du lịch là một đơn vị cung ứng trên thị
trường du lịch, đồng thời là một đơn vị tiêu thụ. Công ty lữ hành là một loại hình doanh
nghiệp kinh doanh du lịch trọn gói cho khách du lịch. Ngoài ra, công ty lữ hành còn có
thể tiến hành các hoạt động trung gian, bán các sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch
hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác, đảm bảo phục vụ các nhu cầu du
lịch của khách từ khâu đầu đến khâu cuối cùng.
2.5.2. Tình hình kinh doanh du lịch tại Việt Nam trong những năm gần đây
Năm 2011, tình hình kinh tế - xã hội nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới
Các địa phương trong cả nước, nhất là các tỉnh du lịch trọng điểm đã tập trung đầu
tư cơ sở hạ tầng, tháo gỡ các cơ chế, chính sách để thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ du lịch, phát triển sản phẩm du lịch mới, kiểm soát và nâng cao
chất lượng dịch vụ, đầu tư đào tạo nguồn nhân lực du lịch cũng như các hoạt động xúc
tiến du lịch. Nhiều khu du lịch, resort, khách sạn mới được khởi công hoặc hoàn thành
đưa vào phục vụ du lịch đã góp phần đáng kể vào vào việc tăng cường năng lực, điều
kiện cho ngành.
Các doanh nghiệp du lịch thuộc mọi thành phần kinh tế đã năng động, sáng tạo, có
tư duy và cách làm mới, tranh thủ những thuận lợi, tận dụng mọi thời cơ để thu hút khách
du lịch và nâng cao hiệu quả kinh doanh trong điều kiện còn nhiều khó khăn ở trong
nước, khu vực và thế giới.
Tổng cục Du lịch tiếp tục duy trì triển khai các nhiệm vụ thường xuyên liên quan
quản lý lữ hành, khách sạn. Đến năm 2011, cả nước có 960 doanh nghiệp lữ hành quốc
tế, trong đó chỉ có 15 doanh nghiệp nhà nước, 323 công ty cổ phần, 16 công ty liên
doanh, 603 công ty TNHH và 04 doanh nghiệp tư nhân. Về công tác quản lý cơ sở lưu trú
du lịch: Tính đến tháng 12/2011, cả nước có khoảng 12.000 cơ sở lưu trú du lịch với 265 .
000 buồng (trong đó 48 khách sạn 5 sao với 12.121 buồng; 126 khách sạn 4 sao với
15.517 buồng; 273 khách sạn 3 sao với 18.990 buồng). Đầu tư xây dựng các khách sạn,
resort có qui mô lớn, chất lượng cao đã trở thành xu hướng chủ đạo trong thu hút đầu tư
phát triển cơ sở dịch vụ của ngành du lịch.
Hoạt động hợp tác quốc tế tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh cả song phương và đa
phương nhằm tranh thủ kinh nghiệm, hợp tác và hỗ trợ quốc tế cho Du lịch Việt Nam. Dự
án du lịch với tài trợ của EU trị giá 11 triệu Euro chuẩn bị triển khai sẽ góp phần tăng
nguồn lực cho phát triển của Du lịch Việt Nam.
Trong tháng 12, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 593.408 lượt, tăng 32% so
với cùng kỳ năm 2010. Tính chung cả năm 2011 ước đạt 6.014.032 lượt, tăng 19,1% so
với năm 2010.
Năm 2012, ngành Du lịch Việt Nam tiếp nối đà tăng trưởng năm 2011; Xu hướng
đi du lịch ngày càng trở nên phổ biến, du lịch quốc tế tiếp tục tăng trưởng, đặc biệt khu
vực châu Á - Thái Bình Dương; Vịnh Hạ Long được lọt vào danh sách là một trong 7 kỳ
Hưng, huyện Củ Chi, là đơn vị sự nghiệp hành chính có thu được thành lập vào ngày 08
tháng 02 năm 1994 theo quyết định số 463/QĐ-UB-NC của Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh. Với diện tích trên 200 ha, trực thuộc Bộ tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh,
Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi hàng năm đón tiếp và phục vụ cho trên 1 triệu lượt
khách đến tham quan địa đạo, viếng Đền Tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược, là một trong
những điểm du lịch lịch sử, văn hóa hấp dẫn với du khách trong nước và nước ngoài.
Ngay từ sau ngày giải phóng – Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Tư lệnh
Thành phố và Huyện ủy – Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi có chủ trương giữ gìn Khu di
tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (Bến Dược và Bến Đình) để tôn tạo, bảo tồn di sản quý của
người dân Củ Chi trong công cuộc chống Mỹ cứu nước.
Năm 1978 phục hồi, sửa chữa một số căn hầm và đường địa đạo, đồng thời đã tiếp
một số đoàn khách quốc tế, một số đoàn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cựu chiến binh trở
về thăm lại căn cứ cũ – chiến trường xưa. Do nhu cầu tham quan tìm hiểu, nghiên cứu
ngày càng tăng của khách, nên đầu năm 1980 Thành ủy và Bộ Chỉ huy Quân sự Thành
phố Hồ Chí Minh chủ trương lập kế hoạch khôi phục tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp và qui
tập hiện vật về khu di tích. Địa đạo Bến Đình (căn cứ của huyện ủy Củ Chi) cũng được
sửa chữa gia cố.
Đầu năm 1990, được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho phép liên
doanh với Công ty Du lịch Thành phố để khai thác lượng khách trong ngoài nước đến với
địa đạo và bắt đầu được thu phí tham quan với giá vé còn rất thấp (1 USD/người nước
ngoài), khách Việt Nam gần như miễn phí. Năm 1994, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh quyết định đổi tên từ “ Xí nghiệp Liên doanh Du lịch 87” thành “Khu di tích
lịch sử địa đạo Củ Chi” chính thức không còn liên doanh với Công ty Du lịch Sài Gòn và
được hoạch toán độc lập, là “Đơn vị sự nghiệp có thu”.
Từ năm 1991 đến nay, Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi bắt đầu phát triển mạnh
mẽ, tăng nhanh về số lượng khách và doanh thu. Khu di tích đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ
tầng và mở rộng quy trình tham quan như nâng cấp các căn hầm, hệ thống đường địa đạo
được gia cố, tăng cường các hoạt động dịch vụ kinh doanh như: Mở nhà hàng ăn uống,
khu bắn súng thể thao quốc phòng, khu bắn súng sơn, hàng lưu niệm, hồ bơi, hồ mô
phỏng Biển Đông, khu tái hiện vùng giải phóng… để đưa vào hoạt động, phục vụ khách
3.1.3. Cơ cấu tổ chức và quản lý Khu di tích lịch sử Địa Đạo Củ Chi
3.1.3.1. Tổ chức bộ máy
Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi có tất cả 11 phòng ban, bộ phận gồm 04 phòng
chuyên môn: phòng Hành chính, phòng Kế toán tài vụ, phòng Kế hoạch kinh doanh,
phòng Xây dựng và 07 bộ phận trực thuộc gồm: Đội bảo vệ, bộ phận Nhà hàng, Đội xe ô
tô, bộ phận Đền tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược, Đội Công viên cây xanh, bộ phận địa đạo
Bến Dược - Vùng giải phóng và bộ phận địa đạo Bến Đình dưới sự điều hành của Ban
giám đốc gồm có 05 người: 01 Giám đốc và 04 Phó Giám đốc.
3.1.1.2. Nhân sự
Tổng số cán bộ, công nhân viên của Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi là 380 người,
trong đó:
Nam: 248 người
Nữ: 132 người
Tuổi đời: Cao nhất: 55 tuổi, Thấp nhất: 21 tuổi
Nguồn nhân lực của Khu di tích lịch sử Địa Đạo tăng từ 3% -5%/ năm, cơ cấu lao
động không thay đổi trong các năm qua. Lao động nghiệp vụ trực tiếp phục vụ khách
( hướng dẫn, thuyết minh, bán hàng, tiếp viên, đầu bếp…) chiếm tỉ trọng khá cao 66,7%,
lao động gián tiếp và sản xuất chiếm 19%, còn lại là Ban quản lý chiếm 14,3% . Về trình
độ, ở Địa Đạo Củ Chi chỉ có 19,5% số lao động đạt trình độ Đại học và trên Đại học, chủ
yếu tập trung ở đội ngũ quản lý và các phòng chuyên môn, trình độ trung cấp, cao đẳng,
trung cấp chiếm 30% tập trung cho đội ngũ hướng dẫn, thuyết minh. Tỉ lệ này là thấp so
với yêu cầu phát triển. Lao động chủ yếu được đào tạo tại chỗ hoặc các khóa huấn luyện
nghiệp vụ ngắn hạn còn chiếm tỉ lệ khá cao (trên 50%)
3.1.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:
a/. Khối quản lý
• Ban Giám Đốc : Gồm có 01 Giám đốc và 04 Phó giám đốc
• Giám Đốc:
- Phụ trách chung, trực tiếp tổ chức, điều hành mọi hoạt động của đơn vị.
Là người đại diện pháp lý của Khu Di Tích Lịch Sử Địa Đạo Củ Chi trước pháp luật và
chịu trách nhiệm trước thủ trưởng Bộ Tư lệnh thành phố Hồ Chí Minh về mọi hoạt động
năng khi cần thiết.
• Phòng kế hoạch kinh doanh:
- Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong công tác xây dựng cơ bản cũng như
công tác quy hoạch phát triển và mở rộng đơn vị.
- Triển khai các phương án và quản lý các hoạt động kinh doanh, Tổ chức
quản lý tài sản, hàng hóa, vật tư, công cụ, tham mưu trong việc sử dụng đồng vốn có hiệu
quả.
- Xây dựng kế hoạch tài chính cho đơn vị và xây dựng chỉ tiêu hàng năm cho
các bộ phận.
- Xây dựng các chiến lược tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường
kinh doanh.
• Phòng xây dựng cơ bản:
- Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong việc tổ chức quản lý thực hiện công
tác xây dựng cơ bản .
- Lập kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư xây dựng và các dự án sửa chữa
các công trình bị xuống cấp hư hỏng.
- Thực hiện công tác sửa chữa thường xuyên các công trình nhỏ.
b/. Khối trực tiếp phục vụ du khách:
Chia làm 02 mảng như sau: Mảng phục vụ khách và mảng kinh doanh.
• Khối Địa Đạo, Đền Bến Dược, Khu tái hiện Vùng Giải Phóng
- Bộ phận địa đạo: Thực hiện nhiệm vụ đón tiếp, thuyết minh, hướng dẫn du
khách tham quan địa đạo chiến của Củ Chi.
- Bộ phận Đền tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược: Tổ chức lễ dâng hương cho
mọi du khách khi đến đây viếng Đền.
- Bộ phận tái hiện Vùng Giải Phóng Củ Chi: Thực hiện mô hình động tái
hiện lại những quan cảnh làng mạc, con người và cảnh sinh hoạt của những vùng khác
nhau trên đất Củ Chi trong thời kỳ chiến tranh như: Vùng giải phóng, vùng tranh chấp,
vùng trắng, vùng tạm chiến.
• Khối kinh doanh dịch vụ: Nhà hàng, Dịch vụ bán hàng, Xưởng sản
xuất:
3.2.1.3. Khu tái hiện Vùng Giải Phóng Củ Chi và 3 mô hình đặc trưng thu nhỏ
Khu tham quan rất rộng lớn và sinh động, tái hiện lại
cuộc sống, chiến đấu của người dân Củ Chi trước và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước. Khu tái hiện Vùng Giải phóng được chia ra thành nhiều vùng như: Vùng giải
phóng, vùng tranh chấp, vùng trắng, vùng bị tạm chiến (ấp chiến lược)
Đặc biệt tại đây, có mô hình sa bàn về trận càn
Cedarfalls mà quân đội Mỹ đã thực hiện trên vùng tam giác sắt rất ác liệt kéo dài nhiều
ngày đêm. Trận càn được thể hiện trên sa bàn hiện đại bậc nhất Việt Nam, với sự phối
hợp âm thanh, ánh sáng cùng sự chuyển động cơ học của các mô hình và cách bố trí khói
lửa hài hòa, sống động.
3.2.1.4. Ba mô hình đặc trưng thu nhỏ:
a/ Chùa Một Cột (Hà Nội): Gắn liền với lịch sử
của thủ đô Hà Nội và từ lâu Chùa Một Cột cũng là biểu tượng của đất nước Thăng Long
ngàn năm văn vật. Chùa Một Cột đã được Bộ Văn Hóa xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc,
nghệ thuật ngày 18/4/1962. Mô hình Chùa Một Cột thu nhỏ tại Khu di tích lịch sử Địa
Đạo Củ Chi có tỷ lệ bằng 9/
10
so với ngôi chùa ở Hà Nội.