Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền
lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu. Với xu thế nhất thể hóa các khu vực và
toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia nói riêng và khu
vực nói chung, đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế, tài chính trước những
thách thức lớn lao đòi hỏi phải cải cách toàn diện.
Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân
thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo
động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công
bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn
định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”. Cụ thể hoá Nghị
quyết đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010,
trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các
nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu
và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”. Việc ban hành kịp thời Luật này là góp phần thể chế
hoá chính sách thuế của Đảng.
Để đạt được mục tiêu gia nhập vào WTO, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa vụ
thuế. Chẳng hạn từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới 25
lần, thuế trước bạ giảm 50%. Hiện nay ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại phí
không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải giảm tới 30%-40%. Theo tính
toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và chi phí này, Nhà nước bị thất thu trên 1.000
tỷ đồng. Hiện ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ yếu gồm xuất nhập
khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60.000 tỷ đồng mỗi năm. Số thu từ
xuất khẩu dầu thô cũng vào khoảng 25%. Như vậy còn khoảng 50% ngân sách Nhà
nước là các khoản thu nội địa, nhưng khoản thu nội địa này cũng đang một ngày giảm
do chính sách thuế liên tục được thay đổi để thực hiện theo cam kết. Tính đến thời điểm
thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích và
tổng hợp, các phương pháp định tính, định lượng, các công cụ thống kê, và sưu tầm các
tài liệu liên quan.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục đề tài tham khảo, và phụ lục,
những nội dung chính của đề tài được trình bài trong ba chương:
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 2 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
* Chương I: Những vấn đề chung về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý về
thuế thu nhập cá nhân.
* Chương II: Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân.
* Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập
cá nhân ở nước ta.
Để hoàn thành được luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức tận tình của
cô Ts.Lê Nguyệt Châu. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô, đã hướng dẫn em
trong thời gian qua.
Do thời gian và vốn kiến thức còn nhiều hạn hẹp nên chắc chắn không thể tránh
được những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài viết
được hoàn thiện hơn!
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ
CÔNG TÁC QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1. Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân
1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và
phát triển của Nhà nước. Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư
cùng với sự phân chia giai cấp, Thuế được giai cấp thống trị dùng như một công cụ để
theo pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu
nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của
cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu
thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,…
(3)
. Thuế này được coi là loại
thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông
qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
(1)
Nguồn: Hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện hành, Tác giả- Pts Nguyễn Thị Kim Tuyển, Pts Phan
Mỹ Hạnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.( từ trang 267-305).
(2)
Nguồn: Phát biểu của chủ tịch ủy ban Thuế của chính phủ Nhật bản, trên www.vibonline.com.vn
(3)
Giáo trình luật tài chính 2, Ts Lê Nguyệt châu, tr. 22
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 4 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc
vào năm 1799. Lúc đầu Anh Quốc đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời
nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng
vào năm 1942, một số nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như Ðức
(1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp (1916). Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng năm
1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-xia năm 1949, Trung quốc
năm 1984; Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani năm
1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992
Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN. Ưu điểm của
cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước.
Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua
xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính
thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả
năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao.
Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng
phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người
có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất
lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì
sẽ phải tính thuế suất càng cao.
Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế
khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ
cấu kinh tế.
1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của
điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở nước ta
là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt. Là một bộ phận của hệ thống
thuế nên thuế TNCN vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò
riêng mà các loại thuế khác không có được.
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế- xã hội
* Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên
cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước. Thuế TNCN được
tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế
TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia
nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống
vật chất tinh thần. Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên
của thu nhập bình quân đầu người.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 6 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
* Góp phần thực hiện công bằng xã hội
* Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 7 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược
điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi
tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải
chịu thuế như nhau. Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng
phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
* Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN
Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN còn
góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa
các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp
kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập
tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận
được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu
nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo
sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế
Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện
hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế
thế giới. Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của
Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế
theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định.
Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnh của
chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá
nhân mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu
biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ,
công chức, công dân theo quy định của Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006.
nhập doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, cá nhân có thu
nhập từ tiền lương, tiền công và một số thu nhập theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao hiện hành sẽ được điều chỉnh theo Luật thuế thu nhập cá nhân.
Ngoài ra, có bổ sung thêm với đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập chịu thuế từ
đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế, quà tặng.
Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là cá
nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được đối xử
như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN. Thêm vào đó, việc điều tiết thu nhập của cá nhân
kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều
tiết hợp lý thu nhập dân cư. Điều này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở
Việt Nam vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 9 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có
quy mô lớn).
Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối tượng
cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả
thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài). Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ
là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo
12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã bổ sung thêm một điều
kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là “cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt
Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo
hợp đồng thuê có thời hạn”
(4)
. Quy định như vậy làm cho việc xác định đối tượng nộp
thuế được thuận lợi hơn, bao quát hết các đối tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp
thuế một cách hợp lý.
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân
chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Tuy nhiên, Pháp
ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau. Một số khoản thu
nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi
tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu nhập từ chuyển
nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán. Tuy nhiên, phần thu nhập từ lãi
tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng
khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế thu nhập cá nhân. Việc
miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ trong dân cư vào các
kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh,
khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã hội.
Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh
thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã bổ sung các khoản thu
nhập sau vào diện miễn thuế từ thu nhập như thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm,
làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ; lương hưu;
tiền thưởng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
hành vi vi phạm pháp luật; học bổng nhận từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức
trong và ngoài nước theo quy định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều
kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt
động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái
phiếu chính phủ. Đối với khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước
khi tính thuế nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ
kinh doanh; không áp dụng đối với cá khoản thu nhập khác. Với quy định này, Luật đã
khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
Đồng thời, đây cũng chính là một khoản "chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở
chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 11 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện. Chẳng hạn như, một người có thu
nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu đồng (thu nhập bình quân tháng
30 triệu đồng) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào lụt 10 triệu đồng. Khi đó, 10 triệu
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
người nước ngoài (cụ thể như bảng 1)
Bậc
thuế
Thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)
Thu nhập tính thuế/tháng (triệu
đồng)
Thuế suất (%)
1 Đến 60 Đến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 240 Trên 10 đến 20 15
4 Trên 240 đến 420 Trên 20 đến 35 20
5 Trên 420 đến 660 Trên 35 đến 55 25
6 Trên 660 đến 960 Trên 55 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35
Bảng 1 : Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Với biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng bậc
thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế
suất giữa các bậc thuế giảm đi. Việc hạ thuế suất cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện
tinh thần mở rộng diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự
đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải. Mặc khác, việc giảm mức thuế
suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất,
kinh doanh; khuyến khích người dân làm giầu chính đáng.
Đối với các khoản thu nhập còn lại. Luật thuế thu nhập cá nhân quy định biểu thuế
luỹ tiến toàn phần (như bảng 2):
Loại thu nhập tính thuế Thuế suất (%)
1 Thu nhập từ đầu tư vốn 5
2 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều chức năng, trong đó có
chức năng lãnh đạo.
Như vậy quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng
trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân, để thay đổi
quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt
ra.
1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà
nước, Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công
việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thuế TNCN. Nội dung của
công tác quản lý thuế TNCN bao gồm :
1.2.2.1. Quản lý các đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu
trừ theo quy định
a. Xác định đối tượng nộp thuế
Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là đối
tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng
của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến hành
xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và
“nguồn phát sinh thu nhập”.
Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải
nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 14 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập
phát sinh tại nước đó.
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế
thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước
đó.
Hiện nay, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “nơi cư trú”. Tuy nhiên,
được từ bên trong hay bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một cá nhân không phải là
người cư trú cũng như cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc hoặc những người
không cư trú và sống bên trong biên giới ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân
trên bất kỳ thu nhập thu được từ bên trong biên giới Trung Quốc.
(6)
Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và không
cư trú. Đối với cá nhân cư trú thì phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính
trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại
Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký
thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn,
có thu nhập chịu thuế phát sinh bấc cứ trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam điều phải nộp
thuế còn cá nhân không cư trú thì không đáp ứng về điều kiện nêu trên nhưng có thu
nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam cũng phải nộp thuế.
Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng,
để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào. Như vậy, có thể thấy
tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định
nghĩa đối tượng nộp thuế sao cho phù hợp với tình hình của mình.
b. Xác định đối tượng tính thuế
Việc xác định đối tượng tính thuế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu
được đề cập đến trong chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam cũng như các
nước trên thế giới. Căn cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế thu nhập cá nhân
áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho ngân sách
nước đó. Để tính được thuế TNCN phải nộp, trước tiên phải xác định được những
khoản thu nhập nào là đối tượng chịu thuế, khoản thu nhập nào là đối tượng không chịu
thuế và tính toán thu nhập đó như thế nào. Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác
trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ… cơ quan thuế xác định được
thu nhập tính thuế. Từ thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ xác định được thuế phải nộp,
sao cho người nộp thuế chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao. Có như vậy mới
đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong việc thu thuế TNCN.
độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ
cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi
sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu
trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định
của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải
quyết tệ nạn xã hội; Tiền thù lao dưới các hình thức; Tiền nhận được từ tham gia hiệp
hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; Các
khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền;
Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong
tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải
tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận,
(
7)
Theo bách khoa từ điển.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 17 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
Trong đó thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá nhân, bình
quân tháng trong năm nằm trong giới hạn phải nộp thuế do biểu thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao quy định.
Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập phát sinh theo từng lần,
từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, nằm trong mức giới hạn phải nộp thuế thu
nhập, được tính theo biểu thuế toàn phần bao gồm: Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
Tiền lãi cho vay; Lợi tức cổ phần; Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ
thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn
trong các tổ chức kinh tế; Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; Thu nhập từ
chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
Thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh doanh
cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp (các chi phí cần thiết và liên
quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người
nộp thuế đã thực hiện);
Thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương tự
(cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp như: ca sĩ,
nhà báo, nhạc công…);
Thu nhập từ lãi cổ phần, lãi cho vay, lãi tiền gửi (chi phí mua các chứng khoán có
giá);
Thu nhập từ thừa kế (theo quan hệ thừa kế là trực hệ, quan hệ vợ chồng hay quan
hệ khác);
Các khoản trả có tính chất lương như trợ cấp ốm đau, lương hưu, trợ cấp tai nạn lao
động, trợ cấp thất nghiệp… được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội do chúng là đối tượng
của chính sách xã hội nên nhiêu nước không thu thuế đối với các khoản thu nhập này.
Các khoản phúc lợi xã hội như sử chữa nhà cửa, thiên tai,chữa bệnh, dịch họa hoặc
chi phí của người tàn tật…Thu nhập được sử dụng cho các khoản chi phí này thường
được miễn thuế thu nhập. Sở dĩ như vậy là để bảo đảm bảo có sự bình đẳng với những
người không phải chi những khoản chi phí này.
Các khoản chi phí nuôi người phụ thuộc mang tính chất gánh nặng gia đình cũng
được quy định thành một khoản khấu trừ tùy theo quy đđịnh của Nhà nước. Tất cả các
khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ thể gọi là
suất miễn thu.
Các khoản chi phí cá nhân khác nhằm tái tạo sức lao động, chi phí đảm bảo điều
kiện sống tối thiểu của cá nhân.
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 19 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
Đây là một trong những đặc điểm của thuế TNCN là có quan tâm đến sinh hoạt của
đối tượng nộp thuế và tính thuế theo khả năng. Điều này cũng cho thấy thu nhập cá
nhân luôn gắn với các chính sách xã hội.
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN
(8)
…để nhân dân nắm bắt các quy định về đối tượng thuộc diện nộp thuế, quyền và nghĩa
vụ của các đối tượng đồng thời tạo trong cán bộ và các tầng lớp nhân dân, tổ chức ý
thức tự giác chấp hành quy định của Luật, ủng hộ, tự giác và đồng tình trong việc chi trả
thu nhập… qua đó kịp thời biểu dương các cá nhân tự giác thực hiện và chấp hành
nghiêm túc các quy định về nộp thuế; phát hiện, phê phán kịp thời những hiện tượng,
hành vi vi phạm quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân cũng như bảo đảm sự công
bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân trong cộng
đồng xã hội.
1.2.2.3. Công tác đào tạo cán bộ công chức trong quản lý thuế
(9)
Từ khi mới thành lập ngành thuế đã xác định công tác đào, tạo bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức thuế là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm hàng đầu. Hơn 16 năm qua cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương đã đẩy
mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhiều hình thức: vừa đào tạo chính quy vừa tăng
cường tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý thuế và học hỏi các nước trên thế giới và
tiến hành như sau:
Thực hiện được mục tiêu trên, đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế sẽ được đào
tạo, bồi dưỡng tập trung theo ba nội dung cơ bản: Một là giáo dục đạo đức, tác phong
nghề nghiệp, trách nhiệm pháp luật và phương pháp giao tiếp, ứng xử. Hai là đào tạo,
bồi dưỡng các kiến thức kinh tế, pháp luật liên quan nhằm nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ quản lý. Ba là đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng quản lý thuế
theo cấp độ từ cơ bản đến chuyên sâu và nâng cao từng loại công chức thực hiện các
chức năng và lĩnh vực quản lý thuế khác nhau, trước mắt tập trung vào các kỹ năng
tuyên truyền pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra kiểm tra, kiểm tra; quản
lý kê khai và kế toán thuế; quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu nợ thuế; dự báo thu ngân
những nhà kinh doanh, nhà đầu tư Tính nhạy cảm và phức tạp như vậy đòi hỏi phải rất
thận trọng để tránh những sai sót không đáng có trong chính sách và biện pháp, có thể
tạo ra những phản ứng xã hội.
Một chính sách thuế được cho là công bằng, nếu không có biện pháp quản lý khả
thi tất yếu sẽ dẫn tới bất công trong thực tế. Thực tế thu thuế thu nhập cá nhân hiện hành
đối với những người hành nghề tự do cho thấy rõ như vậy.
Để bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp ngay từ đầu, đòi hỏi các
nhà soạn thảo luật giải trình biện pháp và Quốc hội chỉ thông qua từng chính sách khi
biện pháp được giải trình có tính khả thi, trả lời được rõ ràng, cụ thể và có sức thuyết
phục những câu hỏi còn vướng mắt khi áp dụng chính sách thuế Tính thuế thế nào?
Chẵng hạn như:
- Theo luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế từ kinh doanh của hộ nhỏ được xác định
bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí. Như vậy đối với các hộ nhỏ trước nay vẫn thu
Thuế Giá trị gia tăng và Thuế Thu nhập doanh nghiệp bằng cách khoán thì cách tính
doanh thu và chi phí những hộ này thế nào?
- Đối với thu nhập từ lao động của những người thu nộp tại nguồn, cách thu đối với
những người có thu nhập ở nhiều nơi, cách quyết toán và hoàn thuế như thế nào để bảo
đảm đơn giản về thủ tục mà lại không thất thu, giải quyết nhanh gọn, không phiền hà
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 22 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
cho người nộp thuế. Cách thu đối với những người hành nghề tự do làm sao đơn giản
thủ tục nhưng đặt được thu nhập của họ vào tầm kiểm soát của cơ quan thuế. Đây là hai
vấn đề về mặt biện pháp cần được giải quyết ổn thỏa.
- Biện pháp thu thuế trong những trường hợp chuyển nhượng chứng khoán. Đối với
những chứng khoán giao dịch qua thị trường chứng khoán, dự luật quy định thu tại
nguồn, tức là qua các công ty chứng khoán. Vậy các công ty này vừa phải thường xuyên
thu thuế khi phát sinh mỗi chuyển nhượng, vừa phải quyết toán thuế cả năm cho từng
khách hàng của mình hay sao? Giải quyết ra sao khi một nhà đầu tư lại mua bán thông
qua nhiều công ty chứng khoán? Những chuyển nhượng ngoài thị trường chứng khoán
dưới hình thức tài khoản séc hoặc bằng thẻ ATM cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ
quan thuế trong việc giám sát. Phương pháp thu thuế TNCN thông qua hệ thống ngân
hàng, điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát
chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế. Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống
ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều
kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN và xây dựng mạng
thông tin nội bộ và phần mềm ứng dụng để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi
phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn
rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công.
1.2.3.3 Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý
thuế, đặc biệt là thuế TNCN. Nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công tác
quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra
thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế.
Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của
những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý
thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao, ở tầm hoạch định chính sách cần phải có
trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến ngành thuế.
1.2.3.4. Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản lý thu
thuế và thanh tra thuế. Quản lý thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản
lý thu nhập của các đối tượng. Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ
thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan
thuế trong việc giám sát. Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán trong dân cư chủ
yếu thông qua ngân hàng thì nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu thuế TNCN
thông qua hệ thống ngân hàng. Điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ
quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế. Chính vì vậy,
sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 24 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân
thành lập ngành thuế nhà nước, hợp nhất ba hệ thống tổ chức: Thu quốc danh, thuế công
thương nghiệp, thuế nông nghiệp. Ngành Thuế nhà nước được tổ chức qua ba cấp từ
tổng cục thuế, cục thuế đến chi cục thuế, được xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm và sự
GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 25 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm