SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC THCS - Pdf 26

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC THCS.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủ nghĩa Mác – Lê nin khẳng định: con người là nhân tố quyết định tạo ra
mọi sự phát triển trong xã hội loài người. Để xã hội phát triển trước tiên phải tạo
ra sự phát triển con người. Đó là tiền đề, là điều kiện để phát triển xã hội. Đồng
thời, con người muốn phát triển tốt thì phải được giáo dục tốt, giáo dục là điều
kiện tiên quyết để tạo sự phát triển con người. Giáo dục THCS là một bộ phận
không thể thiếu được của ngành GD - ĐT và có vai trò rất quan trọng trong việc
tạo ra sự phát triển con người.
Nghị quyết Trung ương 2, Khoá VIII của Đảng đã khẳng định: “Giáo dục là
quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI lại tiếp tục khẳng định “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu” và chỉ rõ: “Con người là nguồn nhân lực, là nhân tố quyết định sự phát
triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Chiến lược phát triển
giáo dục 20011 – 2015 là: Tạo bước chuyển biến cơ bản về chiến lược giáo dục
theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thể giới, phù hợp với thực tiễn Việt
Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của từng
vùng, từng địa phương, hướng tới một xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền giáo dục
nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước đang
phát triển trong khu vực.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì giáo dục đào tạo nước ta vẫn còn
nhiều yếu kém. Một trong những yếu kém đó là chất lượng giáo dục đại trà còn
thấp, thể hiện ở chỗ năng lực tư duy độc lập và vận dụng kiến thức, kỹ năng của
học sinh, sinh viên vào đời sống sản xuất, vào thực tiễn còn kém, nội dung
chương trình giảng dạy còn mang nặng tính lý thuyết, thiếu gắn bó với đời sống
xã hội, thiếu các kiến thức ứng dụng và thiếu rèn luyện phương pháp tư duy.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo nên các yếu kém và chất lượng
thấp của giáo dục - đào tạo nước ta là phương pháp dạy học còn quá lạc hậu,
phần lớn lực lượng giáo viên vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học truyền
thống, lỗi thời: dạy học theo kiểu giáo điều, nhồi nhét, đã tạo cho học sinh thói

nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng, xây dựng các biện pháp cải tiến quản lý
của BGH, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THCS , góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục của thủ đô, đề xuất một số giải pháp về đổi
mới công tác quản lý của BGH trường THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học.
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1,Cơ sở lý luận khoa học :
1.1 Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người. Từ
lúc có sự phân công lao động, sự xuất hiện của các tổ chức đã hình thành nên
hoạt động quản lý và hoạt động này phát triển không ngừng theo sự phát triển của
xã hội.
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý
Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được
mục đích của tổ chức.
Theo Harold Koontz: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà
trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các
nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.
Theo F.W Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người
khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất”.
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản
lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một
hệ thống các luật lệ, các chính sách nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ
thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Chính vì vậy trong quá
trình hoạt động, người cán bộ quản lý phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo
để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích đã đề ra.
Tổng quát có thể hiểu quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.

thành viên của tổ chức biết được mục đích, mục tiêu của họ, biết rõ nhiệm vụ để
thực hiện và những đường lối chỉ dẫn đi tới mục tiêu.
Khả năng thực hiện chức năng lập kế hoạch dựa trên các kỹ năng nhận thức
và ra quyết định của chủ thể quản lý. Sản phẩm của lập kế hoạch là các bản kế
hoạch.
+ Tổ chức: là một quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các
thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, đồng thời phân công điều phối
các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra. Thành tựu của một tổ
chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể quản lý vào
việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cũng như tạo động lực cho tổ chức hoạt
động đồng bộ.
Chức năng tổ chức có thể xem gồm các nội dung chính sau đây:
- Thứ nhất là hình thành và không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý.
Trong đó, các bộ phận được phân chia hợp lý; mỗi bộ phận, cá nhân ứng với
từng cấp quản lý và thừa hành các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ rành mạch, có
quyền hạn tương xứng đảm bảo cho các công việc được tiến hành, phối hợp một
cách đồng bộ, nhịp nhàng; hệ thống các mối quan hệ phối hợp, quan hệ phụ thuộc
trên dưới được xác lập với mức rõ ràng cao nhất.
- Thứ hai là quá trình hình thành và không ngừng nâng cao chất lượng của
cơ cấu nhân lực. Cơ cấu nhân lực phản ánh số lượng và tỉ lệ của từng loại cán bộ,
công nhân viên và phải phù hợp với cơ cấu tổ chức quản lý. Đó là việc xác lập
tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá, tuyển dụng, sắp xếp, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng, phát
triển cán bộ công nhân viên
- Thứ ba là quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch, các hoạt động chung.
Thực chất ở đây là cho vận hành kế hoạch, thực hiện các hoạt động. Cần chú ý
xác định cụ thể tiêu chuẩn cho từng công việc, phân công rành mạch cho từng bộ
phận, cá nhân, đảm bảo các điều kiện, phương tiện, quy định tiến độ thực hiện
công việc theo thời gian.
+ Chỉ đạo: là quá trình truyền đạt, thuyết phục, tác động và thúc đẩy các
thành viên trong tổ chức thực hiện công việc hướng đến các mục tiêu cần đạt

- Kiểm tra sau công việc tập trung vào các kết quả cuối cùng để rút kinh
nghiệm chấn chỉnh, cải thiện đầu vào và các hoạt động tương lai, nó đòi hỏi phải
có những tiêu chuẩn rõ ràng về số lượng và chất lượng sản phẩm.
Thực hiện luân phiên các chức năng trên tạo nên một chu trình quản lý mở
đầu là lập kế hoạch, rồi tổ chức và kết thúc là kiểm tra. Sau đó một chu trình quản
lý mới lại kế tục. Thực tế các chức năng quản lý cơ bản trên không có sự tách
bạch, thứ tự rạch ròi và nói chung, chúng gối đầu lên nhau; có những chức năng
được thực hiện trong khi chức năng khác đang diễn ra.
1.2 Ngay từ thời tiền sử đã có hiện tượng giáo dục, đó là sự truyền thụ kinh
nghiệm xã hội của người này cho người khác, của thế hệ trước cho thế hệ sau.
Quản lý giáo dục cũng xuất hiện rất sớm, có thể nói là gắn liền với giáo dục. Lúc
ban sơ, quản lý giáo dục xuất hiện như một phần việc “kiêm nhiệm” của người
dạy. Sự phát triển giáo dục làm cho quản lý giáo dục được chuyên môn hoá dần
và trở thành một nghề trong xã hội.
Đến nay khái niệm quản lý giáo dục được quan niệm theo nhiều cách khác
nhau, chẳng hạn:
Theo Konđakôp, đó là: “Tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp
cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp túc phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối của nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu chuẩn hội tụ là
quá trình dạy học – giáo dục thể hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất.
Theo Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ
thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học
sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát
triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường”. Định

giáo dục nói chung) là quản lý dạy – học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ
trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục.
Chúng tôi quan niệm quản lý nhà trường là:
+ Thực hiện hệ thống tác động có tính nghệ thuật, hợp quy luật, hợp pháp
thông qua các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra đến tập giáo
viên – công nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội liên
quan.
+ Khai thác tối đa và sử dụng tối ưu các nguồn lực từ nhà nước, từ xã hội
hoá; phối hợp các hoạt động giáo dục, mà trung tâm là dạy – học nhằm đạt được
các mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách học sinh và phát triển nhà trường với chi
phí ít nhất và đạt sự đồng thuận cao nhất.
Quan niệm trên không chỉ đòi hỏi quản lý nhà trường có chất lượng mà cả
về hiệu quả, và lưu ý đến tính nghệ thuật trong tác động quản lý, rất cần thiết với
đặc tính sư phạm của nhà trường.
Tiêu điểm của giáo dục trong phạm vi nhà trường là hoạt động dạy học và
giáo dục bao gồm:
Quản lý chương trình dạy học và giáo dục của nhà trường
Quản lý giáo viên và phát triển nghề nghiệp của người dạy
Quản lý học sinh và các hoạt động của người học
Quản lý thiết bị, cơ sở vật chất và những điều kiện khác đảm bảo cho hoạt
động của nhà trường đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Quản lý quá trình dạy học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) nhằm làm cho quá trình
dạy học vận hành theo đường lối của Nhà nước, thực hiện được những yêu cầu
của nền giáo dục XHCN trong việc đào tạo con người mới.
Hoạt động trung tâm của nhà trường là hoạt động dạy và giáo dục của thầy
và hoạt động học tập của trò. Những hoạt động này đồng thời diễn ra trong quá
trình dạy học. Dạy học bao hàm trong nó là sự dạy và sự học gắn bó với nhau,
trong đó sự dạy về thực chất là sự tổ chức, chỉ đạo và điều khiển sự học của trò.
Do vậy, quản lý quá trình dạy học là một trong những nội dung quản lý cơ bản

nhiệm vụ giảng dạy giáo dục của giáo viên, các nhiệm vụ học tập rèn luyện của
học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1Những đặc điểm của trường THCS
Để các tác động quản lý hợp quy luật và có tính nghệ thuật cao nhất, cần
phải xem xét kỹ một số đặc điểm dưới đây trong quá trình quản lý một trường
trung học cơ sở:
+ Trường THCS là một tổ chức giáo dục cơ sở thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân, có tư cách pháp nhân, là nơi tiếp nhận một bộ phận lớn học sinh tốt
nghiệp tiểu học và tiếp tục giáo dục - đào tạo các em qua các lớp 6, 7, 8 và 9 để
từng bước hoàn thành nhiệm vụ của GDPT. Mục tiêu tổng quát của nhà trường
là: “Giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục tiểu học, từng
bước hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ
thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn
hướng phát triển, tiếp tục học THPT.
+ Cấp THCS là cấp tiếp theo của giáo dục phổ thông, tiếp nối liên tục với
cấp tiểu học, góp phần tạo nên sự chỉnh thể của chương trình giáo dục phổ thông
và sự liên thông mềm dẻo với trung học phổ thông. Cấp THCS có nhiệm vụ trực
tiếp tạo nguồn cho bậc THPT ; vừa góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung. Nói cụ thể
hơn, trường THCS, một mặt chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng và
thái độ về khoa học xã hội, nhân văn, toán học, khoa học tự nhiên, kĩ thuật – công
nghệ để họ có khả năng tiếp tục học cao hơn; mặt khác cần hình thành và phát
triển ở họ những hiểu biết về nghề phổ thông thiết thực cho cuộc sống để tham
gia lao động sản xuất và khi có điều kiện thì tiếp tục học lên.
+ Do mỗi học sinh có đặc điểm riêng về tâm sinh lý, sức khỏe, hoàn cảnh,
nguyện vọng cho nên giáo dục, dạy học ở trường THCS phải chú ý tới sự phân
hoá ở mức độ thích hợp trên cơ sở đảm bảo tính phổ thông với nội dung học vấn
nền tảng, làm cơ sở cho sự phát triển hài hoà và toàn diện nhân cách học sinh.
+ Phải coi trọng việc giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS nhằm giúp học

+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học – giáo dục thông
qua ba loại hoạt động cơ bản là dạy học, hoạt động xã hội và giáo dục lao động -
nghề nghiệp.
+ Xây dựng các đoàn thể, tổ chức, đặc biệt là tập thể sư phạm, tập thể lớp tự
quản với yêu cầu mạnh về tính tổ chức, ngày càng vững về chuyên môn, có
không khí chan hoà - hợp tác – học hỏi – hỗ trợ lẫn nhau.
+ Quản lý tốt việc thu chi tài chính; phát triển, sử dụng hiệu quả và bảo
quản cơ sở vật chất – kỹ thuật của nhà trường; chăm lo hoàn thiện điều kiện làm
việc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên, công nhân viên.
+ Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục.
+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra nội bộ trên cơ sở cải
tiến công tác kế hoạch, cụ thể hoá hệ thống tiêu chuẩn công việc, phối hợp các
chủ thể kiểm tra và kết hợp với thanh tra từ bên ngoài nhằm tăng cường mối liên
hệ nghịch thường xuyên, bền vững.
+ Thường xuyên đổi mới quản lý, trong đó chú ý tăng cường dân chủ hoá
và tự quản nhà trường, củng cố khối đoàn kết hướng về mục tiêu chung và nâng
cao văn hoá quản lý.
2.3 Nội dung quản lý trường trung học cơ sở
Công việc quản lý ở trường THCS rất phức tạp và đa dạng. Tuy nhiên, có
thể chia thành những nội dung chủ yếu dưới đây:
+ Quản lý các hoạt động dạy học – giáo dục, chằng hạn như dạy và học,
giáo dục lao động – kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, hoạt động chính trị – xã
hội, hoạt động giáo dục thể chất, thẩm mỹ
+ Quản lý nhân sự: cán bộ, giáo viên, công nhân viên.
+ Quản lý hoạt động phục vụ như công tác tài chính, hành chính quản trị,
thư viện
+ Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.
Các nội dung trên có quan hệ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, ba nội dung
sau có vai trò như những phương tiện phục vụ cho nội dung quản lý hoạt động
dạy và giáo dục.

diễn ra trong môi trường với điều kiện tốt nhất, đúng với nguyên lý giáo dục và
các nguyên tắc dạy học nhằm đạt đến mục tiêu dạy học của trường THCS. Quản
lý dạy học của ban giám hiệu chủ yếu và trực tiếp là quản lý công việc chuyên
môn của giáo viên.
N DUNG D HỌC
HS - GV- CBNV
CSVC-PT-KT
HĐ DẠY P. PHÁP HĐ HỌC
HS với cấu trúc trình độ mới:
- Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Thái độ, niềm tin, giá trị
Mục tiêu quản lý dạy học ở trường THCS
Mục tiêu quản lý dạy học là trạng thái mong muốn của hệ thống dạy học
sau một khoảng thời gian xác định mà quá trình dạy và học được thực hiện.
Khoảng thời gian đó có thể là một học kỳ, một năm học hay một cấp học
Quản lý dạy học ở trường THCS trong giai đoạn hiện nay cần đạt các mục
tiêu chủ yếu sau đây:
+ Đảm bảo và nâng cao chất lượng theo mục tiêu dạy học thông qua hình
thức dạy học chính khoá và ngoại khoá.
+ Học sinh học tập chuyên cần, nền nếp, chủ động, tích cực; có phương
pháp tích cực, thích hợp và tăng cường tự học.
+ Đảm bảo quy chế chuyên môn; làm giảm dần những yếu tố thụ động, phát
huy những yếu tố tích cực của phương pháp dạy truyền thống; tăng cường vận
dụng, phát triển các phương pháp dạy học tích cực – “lấy học sinh làm trung
tâm” trong thực tế dạy học.
+ Tích cực và sử dụng hiệu quả đồ dùng học tập, các phòng chức năng, đặc
biệt là áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
+ Đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nhất là tự bồi
dưỡng; chủ động hỗ trợ, giúp nhau tiến bộ về chuyên môn.
IV. GIẢI PHÁP :

- Giúp cho các hoạt động, công việc dạy của nhà trường được tiến hành
suôn sẻ, trật tự, ổn định, đảm bảo các yêu cầu cơ bản và đúng tiến độ thời gian.
- Đảm bảo được chất lượng ban đầu, chất lượng nền của quá trình dạy học.
- Tạo nền tảng và môi trường thuận lợi cho việc duy trì và nâng cao chất
lượng dạy học. Nền nếp chuyên môn không chỉ là một mục tiêu của quản lý dạy
học mà còn là một yếu tố của văn hoá dạy học, một phương tiện để giữ vững và
nâng cao chất lượng – hiệu quả dạy học.
Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý việc thực hiện quy chế chuyên
môn, ban giám hiệu trường THCS Bế Văn Đàn đã tiến hành những biện pháp như
sau :
1.1 Thứ nhất là xây dựng và quán triệt quy chế chuyên môn trong
HĐGV
+ Xây dựng các nguyên tắc xây dựng quy chế nội bộ
- Nội dung của quy chế nội bộ là sự cụ thể hoá và bổ sung những quy định
cần thiết nhưng không được mâu thuẫn với các văn bản của cấp trên
- Nội dung quy định cần cụ thể, rành mạch, cô đọng, rõ nghĩa và dễ nhớ. Số
lượng các quy định vừa phải, thể hiện tính trọng tâm, không tràn lan.
- Vừa sức, khả thi, mọi giáo viên đều có thể thực hiện được.
- Đảm bảo tính dân chủ và tập trung. Cần tạo điều kiện cho tất cả giáo viên
tham gia thảo luận, góp ý bản quy chế dự thảo và hạn chế thấp nhất sự áp đặt.
- Nội dung các quy định bao gồm những yêu cầu về chất lượng và cả số
lượng, chú ý tính lượng hoá để thuận lợi cho việc thực hiện và kiểm tra đánh giá.
- Không làm ảnh hưởng đến sự sáng tạo, chủ động của giáo viên trong quá
trình dạy học.
+ Quy chế chuyên môn gồm những khâu chủ yếu sau:
- Chuẩn bị dạy học: Làm kế hoạch dạy học năm, soạn giáo án, phương tiện
dạy học.
- Việc dạy trên lớp và hướng dẫn học tập ở nhà
- Kiểm tra – thi cử - đánh giá học sinh
- Tự bồi dưỡng chuyên môn và sinh hoạt chuyên môn

những hoạt động đặc thù phục vụ cho yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả.
2.1 Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
+ Tính tất yếu của việc bồi dưỡng chuyên môn.
Chất lượng đội ngũ giáo viên quyết định trực tiếp chất lượng học tập của
học sinh. “Chất lượng giáo viên tự nó là thành phần của chất lượng giáo dục tổng
thể, đồng thời là thành phần của chất lượng hệ thống sư phạm và thành phần của
chất lượng quá trình giáo dục trong nhà trường phổ thông”. Như vậy, để nâng cao
chất lượng đầu ra của quá trình dạy học, điều trước tiên là phải nâng cao chất
lượng đầu vào, mà trung tâm là chất lượng giáo viên.
Nhìn chung, chất lượng đội ngũ giáo viên của chúng ta hiện nay còn thấp,
chưa ngang tầm với nhiệm vụ. “Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo
dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục còn có những hạn chế, bất cập. Vì thế, BDCM cho giáo viên, mà cốt
lõi là tự bồi dưỡng, hay còn gọi là tự học tự rèn là nhiệm vụ thường xuyên, tất
yếu để đảm bảo công cuộc đổi mới giáo dục phục vụ đắc lực cho sự phát triển
kinh tế, xã hội một cách bền vững.
+ Hoạt động BDCM thông thường được tổ chức ở cấp Sở ,cấp quận và cấp
trường, trong đó có hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên. Nhà trường đã xác
định phải có vị trí chủ lực trong việc BDCM cho giáo viên, và tự bồi dưỡng có ý
nghĩa quyết định nhất. Vì, suy cho cùng, BDCM ở cấp nào, dưới bất kỳ hình thức
nào cũng đều thông qua con đường tự bồi dưỡng của GV, và việc BDCM chỉ
thực sự có chất lượng, hiệu quả khi bản thân GV chủ động, tích cực tự học, tự rèn
để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
+ Việc BDCM tập trung vào mục tiêu khắc phục những khiếm khuyết do
quá trình đào tạo ở các trường sư phạm để lại; bổ sung, cập nhật những kiến thức,
kỹ thuật mới, những nội dung liên quan đến việc cải cách giáo dục - đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa theo hướng kết
hợp dạy chữ, dạy người và dạy nghề; phát triển năng lực sư phạm cho đồng bộ,
tương ứng với sự phát triển giáo dục. Càng về sau này, việc khắc phục những
khiếm khuyết trong quá trình học tập ở trường sư phạm sẽ càng ít đi do sự cải

cực tự bồi dưỡng của đội ngũ GV và đánh giá việc tự học tự rèn. Muốn đánh giá
được việc tự học tự rèn, trước hết phải có một kế hoạch và chuẩn BDCM cụ thể,
hợp lý.
2.2 Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học
+ Phương pháp dạy học
- Phương pháp dạy học được hiểu là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt
động chung của GV và học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo.
- Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học. Theo tổng hợp
của Thái Duy Tuyên, PPDH có nhiều dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt
mục đích đặt ra.
Phản ánh sự vận động của nội dung dạy học
Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh.
- Đối với giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, quan hệ giữa phương
pháp, nội dung và mục tiêu thường được mô tả theo sơ đồ tuyến tính:
MT ND PP
Theo đó, mục tiêu chi phối nội dung, còn nội dung thì quyết định phương
pháp. Do cách tiếp cận như vậy, trong ba lần cải cách giáo dục đã qua, chỉ có tập
trung vào việc thay đổi mục tiêu và nội dung không đề cập tới việc cải cách
phương pháp. Tiếp cận theo sơ đồ tuyến tính như trên trong điều kiện hiện nay có
phần không hợp lý. Thực tế hiện nay, người GV chọn phương pháp không chỉ
căn cứ vào nội dung mà còn trực tiếp từ mục tiêu. Ngay trong quá trình dạy học
cụ thể, nhiều trường hợp GV phải điều chỉnh lại nội dung như bổ sung, cập nhật
tri thức, cấu trúc lại bài học Sự điều chỉnh đó có cơ sở từ phương pháp. Thật
vậy, “Phạm trù phương pháp trong giáo dục nên hiểu, không chỉ là phương pháp
thực hiện nội dung mà còn là phương pháp lựa chọn nội dung, cách thiết kế
chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo. Do vậy hiện nay có xu thế tiếp
cận theo sơ đồ tam giác. Theo đó, mục tiêu trực tiếp chi phối phương pháp,

tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Yêu cầu tích cực, hiện đại của PPGD trong nhà trường phổ thông đã được
cụ thể hoá trong Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với lứa tuổi
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
+ Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Bế Văn Đàn
- Dạy học theo lối truyền thống đã trở thành thói quen bao đời, một sức ì
thâm căn cố đế trong tâm lý và hoạt động ở cả người dạy lẫn người học. Người
dạy cảm thấy an toàn, không mất thời gian; người học cũng thấy nhẹ nhàng, ít vất
vả. Cộng thêm sự thiếu thốn về CSVC, thiết bị dạy học, nội dung chương trình
nặng nề, chỉ đạo chưa kiên quyết nên phần lớn giáo viên càng có cớ dựa dẫm
không quan tâm nghiên cứu, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Vì vậy,
ban giám hiệu nhà trường đã xác định đổi mới PPDH là quá trình lâu dài, và đối
với GV – có thể nói – là còn dạy thì còn phải tiếp tục đổi mới.
- Thực chất của đổi mới PPDH ở trường THCS Bế Văn Đàn trong giai đoạn
hiện nay là làm thay đổi các phương pháp dạy học nhằm phục vụ tốt nhất mục
tiêu dạy học trong tình hình mới. Đó là quá trình làm hẹn chế dần các phương
pháp dạy học truyền thống thụ động, đồng thời tăng cường sử dụng những
phương pháp dạy học tích cực – hướng về học sinh, những biện pháp tích cực hoá
học sinh và quá trình học tập, như dạy học cá nhân hoá, dạy học phân hoá, dạy
học tích hợp
- Quản lý việc đổi mới PPDH hướng đến những mục tiêu sau:
Đội ngũ giáo viên của nhà trường nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng,
tính bức xúc và xu thế đổi mới PPDH; có lòng mong muốn và kiên trì đổi mới.
Thấy rõ được những đặc điểm, nhược điểm của các PPDH thụ động, lấy
GV làm trung tâm; có hiểu biết về bản chất, cấu trúc, đặc trưng, ưu điểm và hạn
chế của các PPDH tích cực, lấy học sinh làm trung tâm.
Thể hiện nhiệm vụ đổi mới PPDH liên tục, từ suy nghĩ đến hành động

sau:

Trích đoạn Quản lý việc hướng dẫn cách học cho học sinh V.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Đối với Bộ GDĐT và Sở GDĐT:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status