Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 26

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị
thực tập.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Lê Thị Tình
ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo trường Đại học Thương mại
đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ sau thời gian học
tập và rèn luyện tại Trường. Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn PGS,TS. Phạm
Thị Thu Thủy - người trực tiếp hướng dẫn khoa học, chỉ bảo nhiệt tình và định
hướng khoa học cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu, khảo
sát thực tế và thực hiện luận văn.
Tác giả xin cảm ơn các đồng chí cán bộ lãnh đạo và cán bộ công nhân viên
của phòng kế toán của các công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn
thành phố Hà Nội đã hỗ trợ tác giả rất nhiều trong việc cung cấp thông tin làm cơ sở
thực tế để tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác xin được cảm ơn các Thầy cô giáo và các bạn bè đã quan tâm đọc luận
văn này và mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành để bản luận văn không chỉ
có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cao trong hoạt động thực tiễn.
Trân trọng cảm ơn!
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi

TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
XK Xuất khẩu
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của các công ty quy mô vừa
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của các công ty quy mô nhỏ
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của các công ty
Bảng 2.1: Bảng kê nhập hàng tháng 6/2013
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xăng dầu là một mặt hàng thiết yếu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, kinh doanh xăng dầu được coi là một ngành kinh tế trọng yếu, có ý nghĩa chiến
lược trong phát triển kinh tế - xã hội. Ở nước ta kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực
kinh doanh không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn có ý nghĩa thúc đẩy sản
xuất, góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tăng tích lũy cho ngân sách nhà
nước. Thực tế những năm qua, kinh doanh xăng dầu đã đạt được những kết quả nhất
định. Song khó khăn, tồn tại cũng không phải là ít, sự chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh doanh xăng dầu chưa tiến hành mạnh mẽ, giá cả thị trường thế giới những năm
gần đây luôn biến động, chính sách tài chính tín dụng, thuế nhập khẩu thiếu ổn
định Do đó đây là một lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng
rất nhạy cảm và nhiều rủi ro. Hiện nay ngoài các tổng công ty lớn hoạt động lâu
năm có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xăng dầu như Petrolimex, Petec, Pvoil
còn có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào lĩnh vực kinh doanh này.
Tuy nhiên cũng có không ít các doanh nghiệp đã phá sản khi kinh doanh lĩnh vực
này. Kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện mà trong đó điều
kiện đặc biệt nhất là phải bán hàng liên tục trong mọi trường hợp kể cả lỗ. Vì vậy
nếu tài chính không vững mạnh, bộ máy quản lý lỏng lẻo, kiểm soát yếu kém thì
thất bại là điều không tránh khỏi. Kế toán là một bộ phận không thể thiếu trong các
doanh nghiệp, là một công cụ quản lí rất đắc lực, hữu hiệu và có vai trò quan trọng

vào hạch toán kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh ở một số
công ty xăng dầu thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam – Petrolimex. Từ đó tìm
ra các nguyên nhân của những tồn tại và đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các
công ty xăng dầu Miền Bắc thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam – Petrolimex.
Tuy nhiên những đề xuất, kiến nghị tác giả đưa ra chỉ phù hợp với mô hình kinh
doanh của các công ty xăng dầu trực thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam –
Petrolimex nhưng chưa sát thực tiễn với các doanh nghiệp tư nhân, các công ty kinh
doanh xăng dầu vừa và nhỏ khác độc lập với Tổng công ty xăng dầu Việt Nam. Bên
cạnh đó cơ chế kinh doanh xăng dầu của Nhà nước luôn thay đổi để phù hợp với thị
trường và tình hình phát triển kinh tế nên kế toán nói chung và kế toán doanh thu,
chi phí, xác định kết quả kinh doanh nói riêng ở các công ty kinh doanh xăng dầu
cũng luôn được điều chỉnh. Chính vì vậy những đề xuất, kiến nghị được tác giả đưa
3
ra có thể không phù hợp với các công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa
bàn thành phố Hà Nội khác.
Đề tài: “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh
tại Công ty cổ phần dịch vụ Hàng không sân bay Nội Bài” của tác giả Nông Thanh
Thủy, thực hiện năm 2011. Đề tài đã hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về kế toán
doanh thu, chi phí hoạt động kinh doanh theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế
toán hiện hành. Nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc hạch toán và theo dõi trên sổ kế
toán chứ chưa hướng dẫn trình bày trên báo cáo tài chính. Ngoài ra, giải pháp đưa
ra về việc thêm cột ở một số sổ chi tiết tài khoản nhưng do hiện nay, hầu như tất cả
các doanh nghiệp đều sử dụng kế toán máy nên giải pháp đưa ra là chưa phù hợp.
Bên cạnh đó tác giả còn nghiên cứu thêm một số bài viết liên quan khác như:
“Vận dụng Chuẩn mực chung số 01 để đánh giá tình hình tài chính, kinh doanh của
doanh nghiệp” của TS. Trương Thị Thủy và ThS. Nguyễn Đào Tùng – Học viện
Tài chính đăng trên báo điện tử tapchiketoan.info, bài viết “Vận dụng nguyên tắc
thực hiện đối với ghi nhận doanh thu trong kế toán” của TS. Lê Văn Liên và ThS.
Nguyễn Thị Hồng Vân đăng trên trang thông tin điện tử tapchiketoan.com. Những

độ kế toán Việt Nam tại các Công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó phát hiện những tồn tại, vướng mắc tại doanh
nghiệp, tìm ra nguyên nhân từ đó đưa ra những giải pháp và điều kiện thực hiện giải
pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh tại
các Công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các
công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
• Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về kế toán doanh thu bán hàng
hóa, chi phí, xác định kết quả kinh doanh theo cách tiếp cận kế toán tài chính.
+ Đề tài tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ thực trạng kế toán doanh thu, chi phí,
xác định kết quả kinh doanh tại các công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên
địa bàn thành phố Hà Nội và phát hiện các vấn đề tồn tại cần khắc phục.
+ Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu và đề cập đến vấn đề kế toán doanh thu, chi phí,
xác định kết quả kinh doanh mà không đề cập tới vấn đề công tác kế toán nói
chung.
- Về không gian nghiên cứu
5
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả
kinh doanh tại các công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố
Hà Nội. Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay có khoảng 50 công ty kinh doanh
xăng dầu vừa và nhỏ trong đó doanh nghiệp có quy mô vừa chiếm khoảng 59%, còn
lại quy mô nhỏ chiếm khoảng 41% (Nguồn số liệu: Theo tài liệu thống kê của Tổng
cục thống kê đến tháng 8/2013). Tác giả chia các công ty kinh doanh xăng dầu ra
làm 2 nhóm theo quy mô doanh nghiệp để thuận tiện cho việc nghiên cứu. Cụ thể là
nhóm các doanh nghiệp quy mô vừa và nhóm các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Tại
mỗi nhóm doanh nghiệp tác giả chọn 1 công ty làm đại diện để lấy mẫu minh họa

giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra. Trong cuộc phỏng vấn, người
phỏng vấn nêu những câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn về những vấn đề liên quan đến
kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh tại các công ty. Thêm vào
đó là việc trao đổi với các nhân viên, các cấp quản lý về những vấn đề đặt ra đối với
việc hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của các
công ty.
+ Phương pháp phân tích số liệu: sau khi đã thu thập dữ liệu bằng các phương pháp
nêu trên, tác giả tiến hành hệ thống hóa, xử lý và cung cấp thông tin bằng phương
pháp phân tích dữ liệu. Mục đích của phương pháp này là phân tích các thông tin
đầu vào đã thu thập được để đưa ra các thông tin, kết luận phù hợp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán doanh thu, chi
phí, xác định kết quả kinh doanh thương mại nói chung và hoạt động kinh doanh
xăng dầu nói riêng.
- Về mặt thực tiễn:
+ Phân tích những ưu điểm và hạn chế của việc vận dụng lý luận vào tổ chức kế
toán ở một số công ty kinh doanh xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà
Nội.
+ Chỉ ra được các nguyên nhân của những tồn tại trong công tác kế toán doanh thu,
chi phí, xác định kết quả kinh doanh tại các Công ty kinh doanh xăng dầu vừa và
nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
+ Đề xuất những giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp để hoàn thiện công tác
kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh tại các Công ty kinh doanh
xăng dầu vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu luận văn
7
Ngoài phần lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ,
danh mục từ viết tắt, mở đầu và kế luận,thì nội dung của luận văn được kết cấu
trong 3 chương:

Doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch được xác định một
cách đáng tin cậy. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn các
điều kiện ghi nhận theo quan điểm của chuẩn mực kế toán.
- Doanh thu hoạt động tài chính: là doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức,
lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác được coi là thực hiện
trong kỳ. Tiền lãi trong doanh thu hoạt động tài chính bao gồm lãi cho vay, lãi tiền
gửi ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu tín phiếu, chiết
khấu thanh toán được hưởng do thanh toán tiền hàng trước thời hạn quy định
Doanh thu hoạt động tài chính còn bao gồm cổ tức, lợi nhuận được chia; thu nhập
từ hoạt động mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn; thu nhập từ thu hồi hoặc
thanh lý các khoản vốn góp liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư vào công
9
ty con, đầu tư khác; thu nhập từ các hoạt động đầu tư khác; lãi tỷ giá hối đoái;
chênh lệch do bán ngoại tệ; chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn; các khoản doanh thu
hoạt động tài chính khác.
- Thu nhập khác: bao gồm các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không
thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, gồm thu về thanh lý, nhượng
bán TSCĐ; thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; thu tiền bảo hiểm được
bồi thường; thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước; thu
các khoản thuế được giảm, được hoàn lại; các khoản thu khác.
- Các khoản giảm trừ doanh thu:
+ Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua hàng với số lượng lớn.
+ Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua người mua hàng do hàng
hóa kém chất lượng, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu
+ Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách
hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Các khoản giảm trừ sẽ làm giảm doanh thu bán hàng và doanh nghiệp sẽ tìm
mọi cách để khoản giảm trừ không tăng mà phải giảm, điều này có nghĩa là công ty
phải nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình.

cửa, máy móc, trang thiết bị, công cụ lao động trong quá trình sử dụng các tài sản
này sẽ bị hao mòn và giá trị hao mòn của tài sản sẽ được tính vào chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp. Đây chính là các khoản khấu trừ tài sản. Các khoản khấu
trừ này sẽ làm giảm giá trị của tài sản từ đó dẫn tới làm giảm vốn chủ sở hữu.
Chi phí trong kinh doanh đều được biểu hiện ra bằng tiền, khoản chi phí được
biểu hiện bằng các khoản tiền chi ra như: chi phí tiền lương, điện, nước, vận
chuyển….từ đó làm giảm lượng tiền của doanh nghiệp dẫn tới giảm lợi ích kinh tế
trong kỳ. Hay các khoản chi phí kinh doanh phát sinh trong kỳ do mua ngoài như:
mua hàng hóa, mua dịch vụ mà doanh nghiệp chưa thanh toán cho người bán sẽ
làm phát sinh các khoản nợ và dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu.
Chi phí có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất,
công dụng, vai trò, vị trí trong quá trình kinh doanh. Để thuận lợi cho công tác
quản lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí. Xét về mặt lý luận
cũng như trên thực tế có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí. Tùy theo
việc xem xét chi phí trên các khía cạnh và góc độ khác nhau mà lựa chọn tiêu thức
phân loại chi phí cho thích hợp. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài
11
chính là cách được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp thương mại. Dựa vào
cách phân loại này người ta phân chia chi phí kinh doanh thành các loại sau:
- Giá vốn hàng bán: là giá thực tế xuất kho của số sản phẩm đã bán được hoặc
là giá thành thực tế dịch vụ hoàn thành, đã được xác định là tiêu thụ và các khoản
khác được tính vào giá vốn để kết quả kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao gồm lương nhân viên bán
hàng, các chi phí giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi
phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa, chi phí bảo quản, đóng gói , vận chuyển,
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động
quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung của toàn doanh
nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí
nguyên vật liệu, CCDC dùng cho quản lý, đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ

ảnh hưởng đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh, kỳ tính kết quả kinh doanh. Hay nói
cách khác, sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm thường trải qua
nhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên, chi phí sản xuất luôn chỉ tham
gia xác định kết quả kinh doanh ở kỳ mà sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ.
Ngược lại với chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ phát sinh trong kỳ nào thì được ghi
nhận ngay trong kỳ đó vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và trực tiếp làm
giảm lợi nhuận trong kỳ.
- Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
trong cùng một kỳ kế toán. Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng, Chi phí
quản lý doanh nghiệp
Các chi phí này được ghi nhận với 2 chỉ tiêu: "Chi phí bán hàng" và "Chi phí quản
lý doanh nghiệp" trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của kế toán tài chính.
Việc phát sinh và bù đắp các chi phí này chỉ diễn ra trong cùng một kỳ kế toán, do
đó, loại chi phí này còn được gọi là chi phí thời kỳ.
Ở những doanh nghiệp thương mại, sự chuyển hoá của chi phí sản phẩm là quá
trình chuyển hoá từ giá mua, chi phí mua hàng hoá thành giá trị giá hàng hoá chờ
bán. Khi hàng hoá được tiêu thụ giá vốn hàng chờ bán sẽ chuyển sang giá vốn hàng
bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Đồng thời chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp được ghi nhận vào một khoản chi phí làm giảm lợi nhuận
trong kỳ phát sinh.
13
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với hoạt động:
- Biến phí hay gọi là chi phí biến đổi, đó là các khoản chi phí thường tỷ lệ với mức
độ hoạt động. Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản
phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành Trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp sản xuất, biến phí thể hiện như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí năng lượng, hoa hồng bán hàng Còn trong doanh nghiệp
thương mại biến phí thể hiện là giá vốn của hàng mua vào. Mức độ hoạt động của
doanh nghiệp tăng giảm thì tổng số biến phí thay đổi theo, nhưng xem xét trên một
đơn vị mức độ hoạt động là một sản phẩm, một giờ công thì chúng lại không thay

=
Doanh
thu bán
hàng
-
Giảm
giá hàng
bán
-
Chiết khấu
thương
mại
-
Hàng
bán bị
trả lại
-
Thuế TTĐB, XK,
thuế GTGT theo
phương pháp trực
tiếp
Kết quả hoạt
động tài chính
=
Doanh thu hoạt động tài
chính
-
Chi phí hoạt động tài
chính
Vậy:

TNDN
1.2. Kế toán doanh thu, chi phí hoạt động kinh doanh theo quy định của chuẩn
mực kế toán Việt Nam
1.2.1. Các nguyên tắc kế toán theo chuẩn mực số 01 – Chuẩn mực chung
Kế toán doanh thu, chi phí là những nội dung kế toán quan trọng trong hệ
thống kế toán doanh nghiệp, đây là các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc đánh giá
tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố này đều
được trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Nếu kế toán ghi nhận các yếu tố doanh thu, chi phí chưa chính xác, sẽ dẫn
đến thông tin trên báo cáo tài chính bị sai lệch. Dựa trên những quy định trong
chuẩn mực kế toán số 01 yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán doanh thu, chi phí
hoạt động kinh doanh là phải tuân thủ những nguyên tắc trong chuẩn mực số 01 để
có thể thu thập, xử lý, cung cấp các thông tin để lập báo cáo tài chính trung thực và
hợp lý nhất. Đó là các nguyên tắc sau:
15
- Cơ sở kế toán dồn tích: quy định mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí
phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh , không căn cứ vào thời điểm thực
tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền.
Như vậy, việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải được ghi nhận tại “thời điểm
phát sinh” mà không phải là thời điểm thu tiền, chi tiền. Cơ sở kế toán dồn tích
nhằm đảm bảo kết quả kinh doanh của kỳ kế toán được xác định hợp lý dựa trên sự
phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Từ đó thì thông tin về doanh thu, chi phí và kết
quả hoạt động kinh doanh được trình bày trên báo cáo hoạt động kinh doanh là có
ích cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính của doanh
nghiệp.
Dựa trên cơ sở kế toán dồn tích, chuẩn mực Việt Nam đã đưa ra nguyên tắc
phù hợp nhằm quy định thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí, để đảm bảo tính
chính xác, tin cậy cho thông tin kế toán trong kỳ.
- Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc phù hợp quy định việc ghi nhận doanh thu và chi

nhất quán theo các phương pháp đã được doanh nghiệp lựa chọn như: phương pháp
tính giá hàng tồn kho phải thống nhất, nhất quán qua nhiều kỳ kinh doanh; hay việc
sử dụng theo một đơn vị tính toán, đo lường thống nhất giữa các kỳ kế toán của
doanh nghiệp. Do đó, khi các phương pháp, chính sách kế toán thay đổi thì số liệu
phản ánh trên báo cáo tài chính, số liệu kết quả kinh doanh sẽ không còn phản ánh
chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
- Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết
để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn.
Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
+ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không quá lớn;
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
+ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả
năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về
khả năng ghi nhận chi phí phát sinh.
Đặc biệt, khi có sự mâu thuẫn về nguyên tắc thì trước hết phải tuân thủ nguyên
tắc thận trọng. Tuân thủ nguyên tắc này khiến cho việc ghi nhận doanh thu và chi
phí về cơ bản sẽ là đáng tin cậy và trung thực.
Về ghi nhận doanh thu: Doanh thu được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất
cả năm điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn
17
liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; Doanh nghiệp
không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền
kiểm soát hàng hóa; Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Doanh nghiệp
đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; Xác định được chi
phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Về ghi nhận chi phí: Chi phí được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh khi các chi phí này làm giảm bớt các lợi ích kinh tế trong tương lai có
liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải được
xác định một cách đáng tin cậy.

(nếu có)
mua, hàng mua
trả lại, CKTM
được hưởng
sinh trong
quá trình
mua hàng
Giá mua của hàng hóa là số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người bán theo hợp
đồng hoặc hóa đơn. Nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ thì giá
mua của hàng hóa là giá mua chưa có thuế GTGT đầu vào. Nếu doanh nghiệp tính
thuế theo phương pháp trực tiếp thì giá mua của hàng hóa đã bao gồm cả thuế
GTGT.
Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng gồm các chi phí: vận chuyển, bốc xếp
hàng hóa, chi phí bảo hiểm
Giảm giá hàng mua là số tiền mà người bán giảm trừ cho người mua bao gồm: giảm
giá đặc biệt, bớt giá, hồi khấu
Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận là chi phí
sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi
nhận. Cụ thể giá gốc hàng tồn kho đã bán được ghi nhận trong khoản mục “giá vốn
hàng bán”. Ghi nhận giá trị hàng tồn kho đã bán vào chi phí trong kỳ phải đảm bảo
nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu.
Giá vốn được xác định căn cứ vào 4 phương pháp định giá hàng tồn kho sau:
+ Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này, sản phẩm, vật tư,
hàng hóa xuất kho thuộc lô hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó
để tính.
+ Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO): Phương pháp này dựa trên giả định là
hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng còn lại cuối
kỳ là hàng được mua và sản xuất ở thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá
trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ,
giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá trị của hàng nhập kho ở thời điểm cuối

cho giá trị hàng tồn kho cuối kỳ thấp hơn rất nhiều so với giá cả hiện tại. Phương
pháp này đưa ra kết quả thu nhập thuần thấp vì giá vốn hàng bán được xác định cao
hơn.
- Phương pháp bình quân gia quyền: Không gắn doanh thu tại một thời điểm
với hàng xuất kho tại thời điểm đó, mà là giá xuất kho trung bình. Khi giá đơn vị
tăng hoặc giảm thì tổng giá hàng xuất kho nằm ở khoảng giữa giá trị hàng tồn kho
theo phương pháp LIFO và FIFO.
Nếu giá đang giảm dần, các phương pháp kế toán xác định hàng xuất kho nêu trên
sẽ cho kết quả hoàn toàn ngược lại. Tóm lại mỗi phương pháp định giá hàng xuất
kho đều có ảnh hưởng lên báo cáo tài chính vì vậy việc lựa chọn phương pháp nào
20
phải được công khai trên các báo cáo và phải sử dụng nhất quán trong niên độ kế
toán không thay đổi tùy tiện để đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán.
- Phương pháp giá đích danh: Phản ánh giá vốn hàng bán trong kỳ chính xác
nhất vì hàng hóa xuất kho thuộc lần nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lần nhập
đó để tính giá vốn hàng xuất kho. Dù giá giảm hay tăng đều không làm ảnh hưởng
tới giá trị của hàng tồn kho, bảo đảm cân đối giữa doanh thu và chi phí, phản ánh
lợi nhuận một cách chính xác nhất.
* Chi phí hoạt động kinh doanh theo chuẩn mực số 17 – Thuế TNDN
Theo Chuẩn mực số 17, lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ,
trước khi trừ thuế TNDN, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và
chế độ kế toán.
Lợi nhuận kế toán phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách kế toán mà doanh
nghiệp lựa chọn phù hợp với các quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán
áp dụng như: chính sách khấu hao, chính sách phân bổ tài sản đã xuất dùng, chính
sách ghi nhận doanh thu,
Sự khác biệt giữa chính sách thuế và chế độ kế toán tạo ra các khoản chênh
lệch trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí cho một kỳ kế toán nhất định, dẫn tới
chênh lệch giữa số thuế thu nhập phải nộp trong kỳ với chi phí thuế thu nhập của
doanh nghiệp theo chế độ kế toán áp dụng. Các khoản chênh lệch này được phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status