Phần thứ nhất
khái quát ngữ văn địa phơng Bắc Giang
I- Khái quát địa phơng:
1. Địa phơng: Là khái niệm chỉ đơn vị làng, xã cụ thể, nhng cũng có thể
chỉ đơn vị một huyện, một tỉnh, thậm chí một xứ, khu, vùng, miền rộng lớn hơn
trong phạm vi một nớc.
Làng là đơn vị c trú cơ bản của nông thôn ngời Việt, là nhân tố duy trì cơ
cấu một xã hội truyền thống của ngời Việt. Tuỳ từng địa phơng, ngoài những nét
chung, làng ngời Việt có những đặc điểm riêng biểu hiện ở thế đất, ở nghề
nghiệp, ở diện mạo, ở mật độ dân c và ở cách bố trí nhà cửa vờn tợc trong khuôn
viên. Những đặc điểm riêng ấy phân biệt làng này với làng khác và là những cơ
sở để hình thành nên cái gọi là văn hoá làng đặc sắc của ngời Việt qua trờng kỳ
lịch sử.
Làng đồng nghĩa với thôn, xóm thờng đợc dùng lộn qua các thời đại và tuỳ
theo tập tục từng địa phơng. Có khi danh từ làng cũng đợc dùng lẫn lộn với cả từ
xã, ghép chung thành danh từ làng, xã. Thực ra, làng với xã là hai khái niệm
hoàn toàn khác nhau. Làng là tiếng Việt cổ. Xã là từ Hán - Việt. Xã có nghĩa là
nền đất để tế thần (thời thợng cổ, c dân một vùng hàng năm thờng tập hợp lại để
làm lễ tế thần trên một cái nền đất), lâu dần, để thuận tiện trong giao dịch, ngời
ta gọi khu vực ấy là xã. Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất gồm nhiều làng. Lớn
hơn xã là huyện, đơn vị hành chính gồm nhiều huyện. Lớn hơn là xứ, khu, vùng,
miền, tuy hiện nay không phải là đơn vị hành chính nhng đã từng khái niệm chỉ
đơn vị hành chính qua nhiều triều đại lịch sử hoặc chúng tôi lâu đời trong dân
gian. Ví nh xứ Bắc là tên gọi Bắc Ninh, Bắc Giang từ thế kỷ thứ X. Đây là cách
gọi theo nguyên tắc quy chiếu, còn tồn tại mãi đến thời Lê - Nguyễn, không chỉ
trong dân gian mà còn đợc dùng trong cả các văn bản hành chính quy phạm của
Nhà nớc.
Xem nh vậy, khi nói tới khái niệm địa phơng chúng ta cần đợc hiểu một
cách rộng rãi và linh hoạt, nhất là đối với việc nghiên cứu, tìm hiểu văn học dân
gian, văn học viết địa phơng và những tiền đề về lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội
đã sản sinh ra nó.
làng tha, con ngời Bắc Giang có điều kiện giao lu, tiếp xúc với các vùng miền
khác và con ngời ở những vùng miền khác cũng dễ dàng tiếp xúc, giao lu và gia
nhập vào đại gia đình các dân tộc ở Bắc Giang. "Chín ngời mời làng" là câu nói
cửa miệng của các c dân ở vùng đất này. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng
làm nên bộ mặt văn hoá làng - một thứ phôncơlo rất đặc sắc của vùng văn hoá
Bắc Giang.
2. Bắc Giang là một vùng chiến lợc trọng yếu:
Trải nghìn năm Bắc thuộc, Bắc Giang luôn đợc xem là vùng đất cửa ngõ
quan trọng của chốn thợng kinh, "đứng đầu phên dậu phía Bắc" (Nguyễn Trãi),
là đất "quan hà nghìn dặm phơng sung yếu" (Lê Quý Đôn). Mảnh đất này đã
từng là chiến trờng chính diễn ra những trận quyết chiến chiến lợc, kết thúc vử
vang sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc ta: thắng Tần (218-209 TrCN),
thắng Tống (1076+1077), thắng Nguyên (1285), thắng Minh (1427). Trong bài
"Phú Xơng Giang" nổi tiếng, Lý Tử Tấn (1378-1457) đã từng ghi nhận "trời đất
khéo đặt, non sông vốn thiêng, nơi đây vũ công lừng lẫy, giúp nên đất nớc bình
yên". Cho tới thời kỳ cận đại, Bắc Giang vẫn là chiến trờng chính của nghĩa
quân Đề Thám chống thực dân Pháp ròng rã suốt ba mơi năm (1884- 1913).
Trong hoàn cảnh lịch sử trờng kỳ chống ngoại xâm đó, con ngời Bắc
Giang một mặt đợc hun đúc và khơi dậy tinh thần thợng võ, dũng cảm, khí phách
và lối sống anh hùng của dân tộc, một mặt, phải không ngừng huy động sức
mạnh và bản lĩnh văn hoá dân tộc vào cuộc đấu tranh bền bỉ, liên tục, lâu dài
chống chính sách đồng hoá toàn diện và tập trung nhất của kẻ thù ở khu vực
trung tâm này. Đây cũng là đặc điểm là đặc điểm nổi bật, in dấu rõ nét trong văn
học dân gian cũng nh trong văn học viết.
3. Bắc Giang là một vùng đất khoa cử và cách mạng:
Trong lịch sử khoa cử của các triều đại phong kiến Việt Nam, số ngời thi
đỗ và đỗ đầu trong các kỳ thi đại khoa là ngời Kinh Bắc đều vào loại cao so với
cả nớc. Chẳng thế mà dân gian vùng này còn lu truyên câu phơng ngôn "Một giỏ
sinh đồ, một bồ ống cống, một đống ông nghè, một bè tiễn sĩ, một bị trạng
nguyên, một thuyền bảng nhỡn". Tỉnh Bắc Giang có làng Yên Linh, tục gọi là
bộ lạc chủ nhân văn hoá Sơn Vi cách chúng ta ngày nay trên dới hai vạn năm.
Bởi thế quá trình hình thành và phát triển ngữ ngôn tiếng Việt ở Bắc Giang gắn
liền với quá trình hình thành và phát triển lịch sử lâu đời của ngời Việt trên dải
đất này.
Là một tỉnh miền núi đa dân tộc, song đặc trng vùng núi của Bắc Giang
không rõ nét nh các tỉnh miền núi khác (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà
Giang ) Dân số Bắc Giang tính đến 31/12/2004 có khoảng 1.566.000 ngời, gồm
8 dân tộc chủ yếu: Việt (Kinh), Tày, Nùng, Sán, Dìu, Cao Lan, Sán Chí, Hoa,
Dao, đang sinh sống, trong đó có dân tộc Kinh chiến số lợng đông nhất (87,9%).
Đặc điểm nổi bật của sự phân bố dân c Bắc Giang là dân tộc Kinh sống
tập trung chủ yếu ở các huyện trung du, thị xã, các dân tộc ít ngời sống tập trung
ở các huyện miền núi. So với các tỉnh miền núi khác, có thể thấy tính chất sống
xen kẽ, thậm chí xen kẽ đến tận cấp bản giữa các dân tộc ở Bắc Giang là một
điểm khá đặc biệt. Với nhiều thành phần dân tộc c trú trong một thôn, bản, xã,
huyện ngời dân nơi đây đã chọn tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ dân
tộc ít ngời rất ít khi đợc sử dụng, nếu có thì cũng giới hạn trong một phạm vi rất
nhỏ là ngôn ngữ sinh hoạt trong gia đình, thôn bản ở những vùng sâu, vùng xa.
Ngôn ngữ Bắc Giang nằm trong khu vực phơng ngữ Bắc bộ nên những đặc
điểm ngữ âm, từ vựng về cơ bản không có gì khác biệt so với các tỉnh lân cận,
Chính vì vậy, những lỗi chính tả có ở học sinh Bắc Giang cũng cơ bản là những
lỗi chính tả mà học sinh vùng Bắc bộ mắc phải.
Căn cứ những đặc điểm trình bày trên, phần Tiếng Việt lớp 6, 7 trong Ngữ
văn địa phơng Bắc Giang nói riêng, khu vực Bắc bộ nói chung. Các loại lỗi chính
tả do cách phát âm của các phơng ngứ miền khác không đợc đề cập tới trong tài
liệu này. Trong quá trình giảng dạy, nếu thấy cần thiết, giáo viên có thể tham
khảo, lựa chọn bài tập trong SGK và các tài liệu khác.
ở lớp 8, 9 nội dung chơng trình chủ yếu thuộc phần từ vựng địa phơng. Hệ
thống bài tập đợc lựa chọn về cơ bản là các bài tập trong SGK Ngữ văn. Bên
cạnh đó, ngữ văn địa phơng Bắc Giang sẽ đa thêm một số bài tập để giúp giáo
viên và học sinh có thêm t liệu giảng dạy và học tập.
ợt lên mọi gian nan, vất vả của cuộc sống đời thờng.
c) Bắc Giang có cả một kho tục ngữ, cao dao, dân gian phong phú và đa
dạng. Nó là tiếng nói trí tuệ và tình cảm về một Bắc Giang giàu đẹp, con ngời
Bắc Giang hào hoa và thợng võ. Trong 49 làng quan họ của gốc xứ Kinh Bắc,
Bắc Giang có 5 làng mà quan họ Thổ Hà (Việt Yên) là một điển hình, sản phẩm
văn hoá phi vật thể này là niềm tự hào chính đáng của dân Kinh Bắc - Bắc Giang.
Ngoài hát quan họ, hát ví, hát sẩm, hát chèo của ngời Kinh, Bắc Giang còn có
hát Soonghao của ngời Tày, Sịnh ca của ngời Cao Lan, Schắngcộộ của ngời Sán
Chí, Lợn của ngời Nùng
2. Mời thế kỷ văn học viết trung đại Bắc Giang đã đóng góp cho đất nớc
nhiều tác giả, tác phảm văn học đủ loại. Các tác giả văn học trung đại trớc hết là
những nhà trí thức khoa bảng. Những viên quan lại trong bộ máy Nhà nớc phong
kiến Việt Nam từ Trung ơng tới địa phơng. Tuy nhiên, những trớc t ác của họ đều
đã có đóng góp tích cực cho nền văn học viết Việt Nam trên tiến trình phát triển
của lịch sử văn học. Những tác giả tiêu biểu nổi bật là Thân Nhân Trung (1418-
1499), Giáp Hải (1507-1586). Ngoài ra Bắc Giang còn có những tác giả nổi tiếng
khác nh: Đào S Tích (1347-1396), Đoàn Xuân Lôi (thế kỷ XIV), Nguyễn Đình
Mỹ (thế kỷ XV), Ngô Văn Cảnh (1443- ?), Thân Nhân Tín (1439 - ?) Thân Toàn
(thế kỷ XVII).
3. Phát huy truyền thống văn học trung đại, văn học hiện đại Bắc Giang
tiếp tục phát triển mạnh cả về số lợng và chất lợng. Bắc Giang là quê hơng của
các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng nh Tơng Phố, Anh Thơ, Đồ Phồn, Lê Đạt, Lê Kim,
Đỗ Chu, Trần Ninh Hồ, Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Quang Hà, Lê Quang Trang,
Anh Vũ, Vơng Tùng Cơng họ là những hội viên Hội nhà văn Việt Nam, có chỗ
đứng chắc chắn trong nền văn học nớc nhà.
Hội văn học nghệ thuật Bắc Giang có một đội ngũ đông đảo các nhà thơ,
nhà văn. Nhiều cây bút xuất hiện khá lâu và trong số họ có nhiều tên tuổi đã trở
lên quen thuộc với bạn đọc cả nớc nh: Đặng Tiến Huy, Đỗ Nhật Minh, Tế Nhị
Cẩn, Duy Phi, Ngô Đạt, Vũ Huy Ba, Dơng Quang Luân, Anh Hoàng, Ngọc Đ-
ờng, Bùi Thế Căn, Nguyễn Xuân Mát, Đỗ Vinh, Quách Đăng Khoa, Trọng Việt,
Chữ viết của ta theo nguyên tắc ghi âm vị. Vì vậy, chính tả phải dựa trên
chuẩn mực về ngữ âm, tức là chính âm. Đồng thời, chính tả trong chữ viết của ta
hiện nay còn phải dựa vào những quy tắc của chữ quốc ngữ.
Trong thực tế những trờng hợp viết sai chính tả thờng theo hai nguyên
nhân chính. Một, thiếu những hiểu biết về quy tắc trong hệ thống chữ quốc ngữ
và hai, ảnh hởng của những cách phát âm riêng của địa phơng. Trong phạm vi
nội dung học tập đợc quy định tại chơng trình địa phơng, phần tiếng Việt ở lớp 6,
7, việc chữa lỗi chính tả chỉ đề cập đến nguyên nhân thứ hai.
Các tiếng địa phơng trong tiếng Việt có sự phát âm không đúng với chuần
mực, âm thanh ở các vị trí: âm đầu, âm cuối, thanh điẹu và có thể ở cả âm chính
và âm đệm. Tình hình đó dẫn đến chỗ trong thực tế thờng xảy ra lỗi chính tả ở
các vị trí tơng ứng trong âm tiết. Sau đây là những lỗi phổ biến cùng với những
cơ sở và biện pháp sửa chữa.
1.1. Các lỗi về phụ âm đầu:
1.1.1. tr/ch
Trong phát âm ngời Bắc bộ không phân biệt tr với ch. Để giúp phân biệt
hai âm này, có thể dựa vào một số quy tắc sau đây:
a) Quy tắc trong âm tiết (tiếng).
- tr không kết hợp với các vần oa, oă, oe,
- ch có thể kết hợp với các vần trên (ví dụ: choáng váng, choắt, chí choé).
b) Quy tắc trong từ Hán Việt .
Các yếu tố Hán Việt mang dấu nặng hoặc dấu huyền đều viết với tr.
- ch không kết hợp đợc với các yếu tố Hán Việt ấy. (ví dụ: trịnh trọng, vũ
trụ, trị an, triệu phú, trạng nguyên truyền thống, phong trào, trừng trị, trần thế,
trầm tính )
c) Quy tắc trong từ láy:
- tr và ch không láy với nhau, vì vậy khi biết tiếng thứ nhất viết là tr, thì
tiếng thứ hai cũng viết nh vậy (tơng tự với ch) (ví dụ: chăm chỉ, chững chạc, chắt
chiu , trống trải, trâng tráo, trần trụi )
- Trong các từ láy vần, trừ vài từ viết là tr (trót lọt, trọc lóc, trụi lủi ) còn
c) Quy tắc ngữ nghĩa:
- Chỉ l mới có hiện tợng gần âm, gần nghĩa với các từ có phụ âm đầu nh:
lỡ, nhỡ, nhầm, lầm, nhỡ nhàng, lỡ làng, nhọ nhem, lọ lem, nhố nhăng, lố lăng,
nhanh nhẹn, lanh lẹn, nhớn, lớn, nhem nhuốc, lem luốc
- Chỉ n mới có hiện tợng gần âm gần nghĩa với các từ có âm đầu là đ: đây
này, nầy, đó, nợ, nớ, đâu, nao, nào/đấy, nãy , nấy.
1.1.3. x/s
Ngời Bắc bộ có xu hớng phát âm x thành s, phân biệt chúng có thể dựa
vào các quy tắc:
a) Quy tắc trong âm tiết:
- s không kết hợp với các vần oăn, oe, uê, còn x lại có khả năng này: xoắn,
xun, xoe, xuê xoa
b) Quy tắc trong từ láy s và x không láy với nhau, vì vậy chỉ có hiện tợng
điệp phụ âm đầu s hoặc x: sắc sảo, sáng sủa, sằng sặc, xào xạc, xanh xao, xơ
xác, xao xuyến
- Trong các từ láy vần, chỉ có âm đầu x không có s: loà xoà, bờm xờm liêu
xiêu, lì xì, lộn xộn, xích mích, xo ro (ngoại lệ: lụp xụp có thể viết thành lụp sụp).
c) Quy tắc ngữ nghĩa:
- Những từ chỉ tên các loài vật, cây cối thờng viết với s: sả, sung, sên, sến,
sấu, sim, sóc
- Những từ chỉ tên các thức ănm, nấu nớng thờng viết với x: xôi, xáo, xúch
xích, lạp xờn, phở xào, cái xanh, xông, xiên nớng thịt
- Những từ chỉ mức độ, tính chất không bình thờng thờng viết với x: xiên
xiệu, xảo, xếch, xoàng
1.1.4. r và d và gi
Trong phát âm ba âm r và d và gi, có xu hớng phát âm thành d. Có thể dựa
vào các quy tắc sau để phân biệt:
a) Quy tắc trong âm tiết:
- Chỉ có d mới đi trớc các vần có âm đệm (oa, oă, uâ, uê, uy) còn r và gi
thì không: doạ, danh, duyên, duệ, doãn, duyệt, duy (trừ hai từ phien âm tiếng
đối. Bởi vật, nếu giáo viên thấy học sinh ở trờng mình thờng mắc những lỗi cha
đợc nêu ra trong bài học, hoặc những lỗi thờng gặp ở địa phơng khác nhng học
sinh ở trờng mình, địa phơng mình cũng có mắc thì vẫn có thể đa nội dung đó
vào luyện tập.
III- tiến trình tổ chức luyện tập dạy - học:
Giáo viên có thể tổ chức tiết học theo các hoạt động sau:
Hoạt động 1: Giáo viên giao chio học sinh những bài tập luyện viết đúng
các phụ âm đầu hoặc vần (hoặc thanh điệu - nếu học sinh ở địa phơng mình có
mắc).
Hoạt động 2: Giáo viên cho học sinh làm các bài tập điền từ.
Hoạt động 3: Giáo viên cho học sinh làm những bài tập phát hiện và sửa
lỗi chính tả.
Hoạt động 4: Giáo viên đọc cho học sinh luyện viết đúng chính tả một
đoạn văn.
Hoạt động 5: Giáo viên giao cho học sinh làm bài tập viết đoạn văn.
Bài 16 (lớp 6 tập 1)
Truỵên dân gian Bắc Giang
(2 tiết)
I- Mục tiêu cần đạt
1. Học sinh nắm đợc một số truyện kể dân gian (truyền thuyết, truyện cời)
hoặc sinh hoạt văn hoá dân gian địa phơng nơi đang sinh sống.
2. Biết liên hệ, so sánh với phong phúơ văn học dân gian đã học trong ngữ
văn 6, tập 1 để thấy sự giống nhau và khác nhau của hai bộ phận văn học dân
gian này.
3. Kể lại hai truyện (một truyền thuyết, một truỵên cời) trong ngữ văn địa
phơng Bắc Giang.
II- những điềuđiều cần lu ý;
1. Trọng tâm chơng trình ngữ văn 6 tập 1 là truyện dân gian với 4 thể loại
chính: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cời, truyện ngụ ngôn. sách ngữ văn
địa phơng Bắc Giang đã nêu phơng hớng giúp học sinh chuẩn bị tìm hiểu ở nhà
1. Tuỳ tình hình cụ thể của từng trờng, tổ chuyên môn có thể quyết định
lựa chọn một trong bốn truyền thuyết hoặc ba trong bảy truyện cời trong ngữ văn
địa phơng Bắc Giang để giảng dạy trên lớp. Hàng năm các trờng có thể thay đổi
tác phẩm hoặc thê rèn luyện để giảng dạy cho phong phú, sinh động.
2. Ngoài truyện dân gian đã đợc chọn giảng trên lớp, giáo viên cần hớng
dẫn học sinh đọc và tìm hiểu ý nghĩa của các truyện dân gian khác trong ngữ văn
địa phơng Bắc Giang để học sinh có thể hiểu biết sâu rộng hơn về truyện dân
gian Bắc Giang.
3. Hớng dẫn giảng dạy truyện dân gian: Thánh mẫu thợng ngàn, Thạch
linh thần tớng, Hùng linh công Vũ thành (truyền thuyết), xôi chả, về hay ở, đẹp
hơn cái ô của ông phó Lý, bạn học của quan, con cũng nói khoác thế, cây dã gãy,
cây đa con ngòi (truyện cời).
thánh mẫu thợng ngàn
Mục tiêu cần đạt:
Giúp học sinh:
1. Nắm đợc nội dung, ý nghĩa và một số nét nghệ thuật tiêu biểu của
truyền thuyết Thánh mẫu thợng ngàn
2. Chỉ ra và hiểu đợc ý nghĩa của những chi tiết tởng tợng, kỳ ảo của
truyền thuyết.
3. Kể lại đợc truyện này.
II- những điều cần lu ý:
1. Truyền thuyết Thánh mẫu thợng ngàn có nhiều dị bản. Có thể tìm hiểu
thêm văn bản truyền thuyết này trong lễ hội Bắc Giang, Sở Văn hoá và thông tin
Bắc Giang xuát bản năm 2002 và truyện cổ xứ Bắc - bảo tàng Hà Bắc xuất bản
năm 1990.
2. Truyền thuyết Thánh mẫu thợng ngàn là truyền thuyết địa danh, giải
thích nguồn gốc hình thành địa danh Suối Mỡ ở xã Nghĩa Phơng, huyện Lục
Nam. Truyện đợc gắn với thời đại các vua Hùng.
Truyền thuyết luôn có xu hớng lịch sử hoá thời gian của câu chuyện.
Truyện kể vào thời Hùng Vơng thứ IX Hùng dịnh vơng và hoàng hậu An Nơng.
a) Chi tiết Quế Nơng nổi tiếng xinh đẹp, nổi tiếng khéo tay, hay làm, nết
na, thuỳ mị. Quế Nơng tuy là công chúa, sinh ra và lớn lên trong nhung lụa, nh-
ng lại có những phẩm chất rất đáng quý của ngời lao động.
b) Chi tiết Quế Nơng xin vua cha cho đi ngao du sơn thuỷ để mong đợc
gặp mẹ: Quế Nơng là một ngời con hiếu thảo.
c) Chi tiết Quế Nơng quyết tâm đi tìm nguồn nớc, đem lại mùa xuân cho
dân bản, chi tiết Quế Nơng đem hết tiền của hộ thân ban phát cho dân chúng và
dạy dân các công việc lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống: công trạng to lớn
của Quế Nơng trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, đem lại cuộc sống hạnh
phúc cho nhân dân.
2. ý nghĩa của truyền thuyết Thánh mẫu thợng ngàn:
- Giải thích suy tôn nguồn gốc cao quý thiêng liêng của Suối Mỡ.
Ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt.
Ca ngợi, biết ơn ngời có công đem lại cuộc sống no ấm, hạnh phúc cho
nhân dân.
3. So sánh so với các truyền thuyết đã học để thấy những điểm giống
nhau và khác nhau, từ đó thấy đợc nét đặc sắc của truyền thuyết Bắc Giang:
Giống ở các chi tiết:
+ Tởng tợng kỳ ảo: cuốn sách luyện phép lạ.
+ Bàn tay công chúa có sức mạnh vô hình: ấn xuống đá nứt ra, nớc từ các
khe núi ào ạt dội xuống.
- Khác ở các chi tiết:
+ Sự ra đời của công chúa bình thờng nh những con ngời bình thờng.
+ Công chúa nổi tiếng khéo tay hay làm, nết na, thuỳ mị và rất thơng mẹ:
những phân cấp tốt đẹp của ngời lao động.
Hoạt động 4: Hớng dẫn học sinh kể lại truyền thuyết Thánh mẫu thợng
ngàn.
- Yêu cầu: đúng cốt truyện, đầy đủ các chi tiết tiêu biểu, cố gắng dùng lời
văn (nói) của cá nhân để kể, kể có sáng tạo và diễn cảm.
Hoạt động 5: Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
của hội Bổ Đà.
III- tiến trình tổ chức các hoạt động dạy - học:
Hoạt động 1: Giới thiệu bài.
Bắc Giang có truyền thống đánh giặc giữ nớc, truyền thống đo còn in đậm
trong lịch sử dân tộc, lu truyền trong truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết
Thạch linh thần tớng đánh giặc Man giúp Hùng Đạo Vơng giữa yên bờ cõi từ
thời vua Hùng - một trong những truyền thuyết hàng đầu của Bắc Giang - là một
ví dụ tiêu biểu.
Hoạt động 2:
Hớng dẫn học sinh đọc văn bản và tìm hiểu các chú thích.
Giáo viên có thể chia truyện thành 3 đoạn, hớng dẫn học sinh đọc và nhận
xét về cách đọc:
Đoạn 1: từ đầu đến chú bé vẫn chẳng biết nói biết cời (sự ra đời của Thạch
tớng)
Đoạn 2: từ bấy giờ có giặc Man nổi lên đến thiên hạ lại đợc thái bình.
(công trạng của Thạch tớng)
Đoạn 3: từ giặc tan đến hết ( sự bất tử hoá hình tợng Thạch tớng).
- Giáo viên hớng dẫn học sinh tìm hiểu các chú thích
Hoạt động 3: Hớng dẫn học sinh thảo luận các câu hỏi:
1. ý nghĩa của một số chi tiết tiêu biểu.
a) Tiếng nói đầu tiên của Thạch tớng là tiếng nói đòi đi đánh giặc.
Thạch tớng lên bảy mà vẫn cha biết nói. Nghe xứ giả và xá nhân tìm ngời
tài giỏi đánh giạc giúp nớc, Thạch tớng bỗng nhiên cất tiếng nói đòi đợc đi đánh
giặc: "Hãy về tâu với vua làm cho ta một con voi đá cao mời trợng và trao cờ
thiên hoàn cho ta thì giặc Man sẽ bình".
Chi tiết này mang nhiều ý nghĩa:
- Ca ngợi ý thức đánh giặc cứu nớc thờng trực của Thạch tớng.
- ý thức đánh giặc cứu nớc tạo cho Thạch tớng khả năng và sức mạnh thần
kỳ.
- Thạch tớng là hình ảnh của nhân dân, khi yên bình nhân dân sống âm
+ Ra đời thần kỳ
+ Tiếng nói đầu tiên là tiếng nói đòi đợc đi đánh giặc: thờng trực lòng yêu
nớc.
+ Đánh giặc xong bay về trời.
Khác ở các chi tiết:
+ Voi đá: thời kỳ xuất hiện công cụ bằng đá.
+ Cờ thiên đế: ngọn cờ nghĩa
+ Xin đợc lập đền thờ Thạch mẫu và phụng dỡng cha mẹ nuôi: lòng biết
ơn đối với ngời có công sinh thành, dỡng dục.
Hoạt động 4: Hớng dẫn học sinh kể lại truyền thuyết Thạch linh thần tớng.
Yêu cầu: đầy đủ các chi tiết tiêu biểu, kể có sáng tạo và hấp dẫn ngời nghe.
Hoạt động 5: hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Đối với những trờng có điều kiện, giáo viên có thể hớng dẫn học sinh đi
thăm quan, dự lễ hội chùa Bổ.
IV- Tài liệu tham khảo:
1. Nhiều tác giả: di tích Bắc Giang, bảo tàng Bắc Giang xuất bản năm 2001.
2. Nhiều tác giả: lễ hội Bắc Giang, Sở văn hoá - thông tin xuất bản năm
2002.
Hùng linh công
I- Mục tiêu cần đạt:
Giúp học sinh:
1. Nắm đợc nội dung, ý nghĩa và một số nét nghệ thuật tiêu biểu của
truyền thuyết Hùng Linh Công.
2. Kể lại đợc truyện này.
II- những điều cần lu ý:
1. Chùa I Sơn còn đợc gọi là chùa I a, tên chữ là I sơn tây tự, là nơi thờ
Phật cùng thánh phụ, thánh mẫu - cha mẹ Đức thánh I Sơn.
2. Đền I a là tên thờng gọi của đền I Sơn nằm ở phía đông của núi I sơn
nên có tên chữ là I sơn đông từ, là nơi thờ Đức thánh Hùng Linh Công với long
ngai tợng thờ, đồ tế khí cùng 21 đạo sắc phong của các triều Lê - Nguyễn.
điều cần lu ý trên đây để giới thiệu bài học.
Hoạt động 2: hớng dẫn học sinh đọc truyện và tìm hiểu các chú thích.
- Giáo viên có thể chia truyện thành 3 đoạn, hớng dẫn học sinh đọc và
nhận xét về cách đọc (về ngữ âm ngữ điệu):
Đoạn 1: từ đầu đến ngời có thiên tài, thiên tớng (Sự ra đời của Hùng linh
Công).
Đoạn 2: từ lúa này khắp nơi có hổ dữ tác quái đến nhổ những tre cạnh đ-
ờng quật vào đầu giặc (công trạng của Hùng Linh Công).
Đoạn 3: từ giặc tan đến hết (sự bất tử hoá hình tợng Hùng Linh Công)
- Giáo viên hớng dẫn học sinh tìm hiểu các chú thích.
Hoạt động 3: Hớng dẫn học sinh thảo luận các câu hỏi.
1. ý nghĩa của một số chi tiết tiêu biểu
- Chi tiết Hùng Linh Công đo tới cánh rừng nài thì hổ dữ nơi ấy đề gầm
gào kéo nhau ra tự phục: sức mạnh chinh phục thiên nhiên, xây dựng đất nớc của
nhân dân ta thời cổ.
- Chi tiết Hùng Linh Công hợp binh cùng T hánh Gióng đánh giặc Ân thể
hiện sức mạnh, mu lợc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi của nhân
dân ta thời cổ.
- Chi tiết Hùng Linh Công cỡi trên mình con hổ đen, tay cầm thanh kim
đao bay lên từ cửa chùa Y Sơn, đến đỉnh núi thì hoía: ngời anh hùng ra đời thần
kỳ thì ra đi cũng thần kỳ, phi thờng. Nhân dân tôn trọng, yêu mến ngời anh hùng
nên đã để Hùng Linh Công trở về với cõi bất tử.
2. ý nghĩa của hình tợng Hùng Linh Công.
- Là hình tợng tiêu biểu rực rỡ của cộng đồng các dân tộc Bắc Giang trong
công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên và ngoại xâm, mở đầu trang sử dựng nớc
và giữ nớc của nhân dân Bắc Giang.
- Hùng Linh Công là ngời anh hùng tiêu biểu cho sức mạnh của cả
cộng đồng.
- Là hình tợng điển hình về lòng yêu nớc và sức mạnh vô địch của nhân
dân Bắc Giang trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc thời thợng cổ.
An Khánh, xã Tòng Lệnh, huyện Lục Ngạn là một ngời thông minh, dũng lợc,
giỏi đánh trận địa và đánh mai phục. Vũ Thành là thủ lĩnh của dân binh Lục
Ngạn. Giặc Tống xâm lợc, Vũ Thành đợc lệnh vua lĩnh ấn tổng trấn vùng đông
bắc dẹp giặc ngoại xâu, từng lập côgn lớn trên mặt trận Xa Lý - Nội Bàng.
2. Khu tích tích đền Từ Hả nằm trọn trên núi Kỳ Lân thuộc xã Hồng
Giang huyện Lục Ngạn. Đền Từ Hả là một trung tâm của những nơi thờ tớng
quân Vũ Thành. Từ hơn 700 năm nay, suốt một dải từ ải Nam Quan (Lạng Sơn)
đến Bồ Đề (Phú Viên - Gia Lâm - Hà Nội) nhân dân vẫn hơng khói thờ Vũ
Thành. Vùng kép 3 (Hồng Giang, Lục Ngạn) mở hội tởgn niệm to hơn cả.
III- tiến trình tổ chức các hoạt động dạy - học:
Hoạt động 1: Giới thiệu bài
Giáo viên dựa vào phần khái quát ngữ văn địa phơng Bắc Giang và những
điều cần lu ý trên đây để giới thiệu bài học.
Hoạt động 2: hớng dẫn học sinh đọc truyện và tìm hiểu các chú thích.
- Giáo viên có thể chia truyện thành 3 đoạn, hớng dẫn học sinh đọc và
nhận xét về cách đọc (về ngữ âm ngữ điệu):
Đoạn 1: từ đầu đến đặt tên con là Vũ Thành. (sự ra đời của Vũ Thành)
Đoạn 2: tiếp theo đến ngời không còn đầu thì sống làm sao đợc (côgn
trạng và khúc bi tráng của ngời anh hùng)
Đoạn 3: còn lại (sự bất tử hoá hình tợng Vũ Thành )
- Giáo viên hớng dẫn học sinh tìm hiểu các chú thích.
Hoạt động 3: Hớng dẫn học sinh tham khảo các câu hỏi:
1. ý nghĩa của một số chi tiết tiêu biểu
- Thần báo mộng sinh con trai, mang thai 11 tháng, thanh kiếm nhặt đợc
khắc hai chữ Công Thành, đặt tên Vũ Thành, sự ra đời kỳ lạ.
Bạch mã - con ngựa diệu kỳ và thanh bảo kiếm: cơ sở vật chất kỹ thuật
phát triển của thời Lý - Trần.
- Chi tiết thanh bảo kiếm cha vớt đợc vỏ trên sông Lục và con nhặt đợc lỡi
trên núi Phợng: khả năng cứu nớc có ở khắp nơi, từ miền sông nớc đến miền
rừng núi, miền xuôi cũng nh miền ngợc cùng đánh giặc.
Hoạt động 4: hớng dẫn học sinh kể lại truyền thuyết Vũ Thành
Yêu cầu:
Đầy đủ các chi tiết tiêu biểu, kể có sáng tạo và hấp dẫn ngời nghe.
Hoạt động 5: hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Đối với những trờng có điều kiện, giáo viên có thể hớng dẫn học sinh đi
thăm quan, dự lễ hội Từ Hả.
IV- tài liệu tham khảo:
1. Nhiều tác giả : truyện cổ xứ Bắc - Bảo tàng Hà Bắc xuất bản 1990.
2. Nhiều tác giả - Di tích Bắc Giang - Bảo tàng Bắc Giang xuất bản 2001.
3. Nhiều tác giả - lễ hội Bắc Giang - Sở văn hoá - thông tin Bắc Giang xuất
bản 2002.
Truyện cời
I- Mục tiêu cần đạt:
1. Hiểu đợc nội dung, ý nghĩa, nghệ thuật gây cời của 3/7 truyện cời tiêu
biểu của 8 làng cời Bắc Giang: Xôi chả, về hay ở, đẹp hơn cái ô của ông phó Lý,
bạn học của quan, con cũng nói khoác thế, cành dã gãy, cây đa con ngòi.
2. Kể lại đợc 3/7 truyện cời này.
II- những điều cần lu ý:
1. Bảy truyện cời chọn lọc trong chơng trình ngữ văn địa phơng Bắc Giang
là của 8 làng cời: Đông Loan, Dơng Sơn, Khả Lý, Cao Lôi, Nội Hoàng, Hoà
Làng, Tiên lục và Phụng Pháp. Tuỳ tình hình cụ thể của từng trờng, tổ chuyên
môn hàng năm có thể lựa chọn 3 trong số 7 truyện cời đó để giảng dạy trên lớp.
2. Truyện cời là phơng tiện để khen chê hoặc mua vui giải trí: có truyện
châm biếm (đánh địch), có truyện nói khoác (nói phét) nhằm mục đích phê bình
nhẹ nhàng (nội bộ). Giáo viên nên chọn đủ cả 3 tiểu loại trên để giảng.
3. Nên lu ý đến vấn đề hình thức, cấu trúc truyện cời: vạch ra những mâu
thuẫn lố bịch giữa bản chất và hiện tợng, giữa nội dung và hình thức, giữa trớc và
sau
II- tiến trình tổ chức các hoạt động dạy - học:
Hoạt động 1: Giới thiệu bài
dân gian không chỉ châm biếm cái thói quen làm dáng thờng bộc lộ ra bên ngoài
mà ác hiểm hơn còn đả kích vào cá tính, cái bản chất bên trong của ông phó Lý:
ăn cắp, làm cho phó Lý vừa bực, vừa nhục (bực chỉ cấp độ thấp còn nhục thì đã ở
cấp độ cao hơn nhiều). Câu chuyện còn ca ngợi trí thôgn minh và bản chất tốt
đẹp của ngời lao động.
- Bạn học của quan: cái nút của chuyện đến cuối cùng mới đợc mở qua
câu thuật lời bà vợ quan huyện từ miệng chú lệ: bà lớn bảo rằng từ bé quan có
học hành ngày nào đâu mà có bạn học. ý nghĩa của truyện chủ yếu cũng toát ra
từ câu này.
- Con cũng nói khoán thế: truyện nói khoác có ca của dân Hoàng Làng.
Một lão nông tri điền cũng có thể nói khoác đánh lừa ông quan châu một cách
thật là ngoạn mục. Truyện cời phê phán thói hống hách, quen ức hiếp dân lành
của bọn quan lại dới chế độ phong kiến.
3. Các truyện nói khoác (nói phét): cành dã gãy, cây đa con ngòi, mức độ
phê bình nhẹ nhàng thói khoe khoang, tính khoác lác. Thờng dùng thủ pháp
phóng đại, nói ngoa.
- Cành dã gãy: lời giải thích của cụ thợng cũng đồng thời là lời tuyên
truyền về Cây dã hơng nghìn năm tuổi: ngắn gọn, đầy niềm tự hào. Ba chi tiết về
ba cành đã gãy ứng với ba sự kiện lịch sử của đất nớc đủ sức minh chứng thuyết
phục. Tiếng cời phê phán bật ra: khoe khoang, khoác lác đến bất chấp cả sự thật
lịch sử. Đây là một kiểu nói khoác rất Tiên Lục.
- Cây đa, con ngòi: Truyện nói khoe, nói giễu của dân Kẻ Chối, Kẻ Xe.
Có khoe là có giễu. Ông Kẻ Xe giễu cái cao to của cây đa nhng thực ra lại là
giễu cái trí tuệ thấp bé của ông Kẻ Chối. Cây đa cổ thụ làng ông cao to là chuyện
đơng nhiên, sao bằng con ngòi làng tôi (ngòi chứ không phải là sông đâu nhé!)
mà đã dài rộng đến thế. Một cách nói giễu thật là thâm thuý.
Hoạt động 4: Tìm hiểu nghệ thuật truyện cời Bắc Giang
1. Cốt truyện: đơn giản, ít tình tiết kết cấu chặt chẽ, rõ ràng, hợp lý (về hay ở)
2, Nghệ thuật dựng truyện: ngán, ít tình tiết, thờng chỉ có 1 tình tiết hoặc 1
tình huống gây cời (cành dã gãy).