Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
NỘI DUNG...............................................................................................................................................4
Chương 1: Cơ sỞ lý luẬn vỀ phát triỂn du lỊch sinh thái và du lỊch bỀn vỮng
...................................................................................................................................4
THỰC trẠng phát triỂn du lỊch sinh thái Ở Cát Bà..........................................18
2.3.3. Thực trạng về các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch sinh thái..............27
2.3.4.Thị trường khách du lịch.............................................................................32
2.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của du lịch sinh thái Cát Bà.....................33
Chương 3................................................................................................................36
MỘt sỐ giẢi pháp phát triỂn du lỊch sinh thái theo hưỚng phát triỂn du lỊch
bỀn vỮng tẠi Cát Bà.............................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................................................52
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN...................................................53
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN.....................................................54
Chuyên đề thực tập
MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, đã có nhiều bước phát triển trong lĩnh vực du lịch, du
lịch sinh thái và bảo tồn trên thế giới. Quan trọng nhất là việc du lịch sinh thái
không chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm. Ngược lại, nó
đã trở thành một thực tế trên toàn cầu. Ở một số quốc gia, nó không được quan tâm
phát triển. Song ở nhiều nước khác, thì vấn đề phát triển du lịch sinh thái lại rất
được chính phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng
cáo thương mại công cộng. Du lịch sinh thái mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh
vực bảo tồn và phát triển bền vững. Ở Costa Rica và Velezuela, một số chủ trang
trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ
rừng mà họ đã biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp
bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa
phương. Tại Nam Phi, du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng
cao mức sống của người da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng
tham gia nhiều vào các hoạt động du lịch sinh thái. Chính phủ Ba Lan cũng tích
Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội của Cát Bà.
- Các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà, từ đó để khai thác hợp
lý và ứng dụng vào việc phát triển du lịch sinh thái ở đây.
Phạm vi nghiên cứu
Khu du lịch Cát Bà- Cát Hải- Hải Phòng.
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, đặc
biệt là nét đặc trưng của khu du lịch sinh thái Cát Bà qua sách, báo,
internet…
- Phương pháp nhiên cứu phân tích,tổng hợp.
- Phương pháp thực địa.
Chuyên đề thực tập
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Du lịch sinh thái
1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái xuất hiện như một khái niệm vào cuối thập niên 1960. Sau này
có rất nhiều định nghĩa về du lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái là du lịch mà chủ yếu là đi đến những vùng thiên nhiên tương
đối chưa ai đụng tới hay chưa bị ô nhiễm với mục đích cụ thể là nghiên cứu, ngưỡng
mộ, và thưởng thức phong cảnh cùng với các loại thực vật và động vật hoang dã của
nó, cũng như bất cứ biểu hiện về văn hóa nào (cả quá khứ lẫn hiện tại) được tìm thấy
trong các vùng này…Điểm chính yếu là người đi du lịch sinh thái có cơ hội đắm
mình vào thiên nhiên theo một cách thức thường không có sẵn trong môi trường đô
thị.
Du lịch sinh thái là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên nhiên
mà bảo tồn môi trường và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa phương (Hội
Du lịch Sinh thái)
phương
- Đóng góp về vật chất: xoá đối giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho dân cư địa
phương, giúp tăng thu nhập.
- Đóng góp về tinh thần: người dân địa phương được tôn trọng không bị phân
biệt về văn hoá địa phương, giọng nói ngôn ngữ , phong tục tập quán…, được
thừa nhận làm chủ đối với thiên nhiên.
- Đóng góp nâng cao về mặt nhận thức: dân cư địa phương thấy được tầm quan
trọng của du lịch sinh thái từ đó có ý thức bảo vệ tài nguyên tự nhiên và giữ gìn
bản sắc văn hoá của địa phương.
1.1.3. Các yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của
các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự
nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các
đ
i
ều
kiện địa lý, khí hậu và động vật và
thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal
ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural
ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh
học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể
hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống,
mối liên hệ
giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp
lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu... đó là các hệ sinh thái (eco-systems)
Chuyên đề thực tập
và
các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo
tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương
nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ
một cách lâu dài các giá trị tự nhiên
và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng
cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần
Chuyên đề thực tập
được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái niệm “
sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả
những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một
thời điểm.
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách
du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về
không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của
họ.
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt
đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống,
văn hoá, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa
phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu
du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực
quản lý của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả
năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến
môi trường và xã hội.
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, như vậy khó có
thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác
nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách
tương đối bằng phương pháp thực nghiệm.
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan niệm” về
của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho
sự thuận tiện cá nhân.
- Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và
đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay
khoa học).
- Phải đưa ra những kinh nghiệm khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là
những kinh nghiệm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ
cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể.
- Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên
đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham
gia .
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương,
chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước,
trong và sau chuyến đi).
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu
biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng.
Chuyên đề thực tập
- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan
trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và
các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động.
- Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ
quốc tế cho ngành.
1.2. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác
1.2.1. Du lịch dựa vào thiên nhiên
Du lịch dựa vào thiên nhiên là loại hình du lịch là loại hình du lịch sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, với động cơ chính của khách du lịch là quan sát và cảm thụ thiên
nhiên. Như vậy, du lịch dựa vào thiên nhiên mang một ý nghĩa rộng bao chùm cả du
lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác.
Du lịch dựa vào thiên nhiên không mang tính trách nhiệm cao đối với môi
trường và cộng đồng cư dân địa phương. Nhưng du lịch sinh thái đòi hỏi tính trách
vệ tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hoá bản địa như du lịch sinh thái.
1.2.4. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch bền
vững
Chúng ta thấy rằng giữa du lịch sinh thái và du lịch bền vững cũng như du lịch
cộng đồng có những điểm tương đồng về điều kiện, nguyên tắc cũng như mục tiêu.
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch tham quan, thám hiểm của khách du
lịch đến các vùng thiên nhiên còn hoang dã đặc sắc để chiêm ngưỡng, tìm hiểu,
nghiên cứu các hệ sinh thái, các nền văn hoá bản địa độc đáo từ đó làm khơi dạy
tình yêu và trách nhiệm để bảo tồn, giữ gìn và phát triển môi trường tự nhiên và
cộng đồng dân cư địa phương trong mỗi du khách. Du lịch sinh thái nhấn mạnh và
đề cao các yếu tố giáo dục, nâng cao ý thức con người trong vấn đề bảo vệ, bảo tồn
thiên nhiên, giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo.
Trong loại hình du lịch sinh thái không nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng
và dân cư địa phương.
Du lịch bền vững là hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du
lịch và của chính khu du lịch đồng thời bảo vệ thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương
lai. Du lịch bền vững hướng đến việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu
cầu kinh tế-xã hội đều được thoả mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá,
các đặc điểm sinh thái, sự đa dạng sinh học và hệ thống các giải pháp hỗ trợ. Du
lịch bền vững xác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và
ra quyết định phát triển du lịch. Du lịch bền vững là phục vụ cho mục đích phát
triển con người, cho nên du lịch bền vững không chỉ tập trung vào mục đích kinh tế
Chuyên đề thực tập
mà còn nhằm phát triển xã hội bao gồm giáo dục, y tế, môi trường và các vấn đề
văn hoá và tôn giáo.
Du lịch cộng đồng là một phương thức phát triển du lịch bền vững trong đó
cộng đồng dân cư được tham gia trực tiếp bàn về sự phát triển du lịch và tổ chức
cung cấp các dịch vụ cho du khách trên cơ sở điều kiện tự nhiên văn hoá bản địa và
môi trường, thông qua đó cộng đồng được hưởng về mặt vật chất và tinh thần từ
phát triển du lịch.
Du lịch sinh thái chỉ hấp dẫn và càng trở nên hấp dẫn hơn khi có sự tham gia
của người dân địa phương.
Thứ nhất, người dân địa phương có được những kinh nghiệm truyền thống rất
quý báu về thiên nhiên. kiến thức về thiên nhiên của người dân địa phương có lợi và
mang lại nhiêu thông tin bổ ích cho các hướng dẫn viên làm việc trong các công ty lữ
hành, các cá nhân triển khai các dự án kinh tế nói chung và u lịch nói riêng tại một
địa bàn nhất định.
Thứ hai, khi người dân bản địa được hưởng lợi ích trực tiếp ừ các di sản do
thiên nhiên ban cho va tổ tiên để lại athì họ không coi đó là di sản mà là tài sản.
Chính vì vậy, họ sẽ tích cực chia sẻ, tham gia đóng góp vào các dự án kinh tế, du lịch
liên squan đến cộng đồng địa phương họ.
1.3.3. Sự cam kết lâu dài và thiết lập hệ thống các nguyên tắc, giá trị đạo
đức trong kinh doanh của các chủ thể quản lý Nhà nước và quản trị
kinh doanh.
Sự cam kết lâu dài
Chính quyền địa phương là cơ quan quản lý hành chính tại địa phương, và là cơ
quan đại diện, bảo vệ quyền lợi của người dân về kinh tế, văn hoá-xã hội và sinh thái
tại mỗi địa phương nhất định.Chính quyền địa phương là cơ quan đưa ra chính sách,
chủ trương tầm vĩ mô nhằm mục đính ngày càng phát triển địa phương mình.
Các cơ quan quản lý về du lịch tương tự như vậy, cũng là các cơ quan quản lý
hành chính nhưng đứng trên góc độ làm du lịch. Ở nhiều nước trên thế giới cũng như
ở Việt Nam, hai cơ quan nói trên cùng phối hợp, hành động để hoạt động du lịch tại
mỗi địa phương đạt hiệu quả cao nhất.
Thiết lập hệ thống các nguyên tắc và giá trị đạo đức
Hệ thống các nguyên tắc và giá trị đạo đức trong kinh doanh sản phẩm du lịch
sinh thái được thiết lập trên cơ sở trao đổi, bàn bạc và thống nhất cách thực hiện,
kiểm soát DLST giữa các cá nhân và tổ chức có liên quan trong hoạt động du lịch
này.Họ là: Chính quyền địa phương, cơ quan quản lý về du lịch, các nhà kinh doanh
du lịch, người dân địa phương, các nhà tổ chức phi chính phủ vì môi trường.Những
Chuyên đề thực tập
Chuyên đề thực tập
Sản phẩm du lịch sinh thái có tính hấp dẫn cao bởi ba thành phần cốt lõi tạo ra
hình ảnh thương hiệu của điểm du lịch sinh thái: hệ động vật, thực vật đa dạng phong
phú và văn hoá dân gian độc đáo.
Điều quan trọng là số lượng và loại khách du lịch sinh thái phải phù hợp với đặc
điểm của điểm đến. Điều này đòi hỏi phải có sự giám sát về các du khách. Sự hiểu
biết về các nhóm khách, động cơ và đặc tính của họ là điều cần thiết để đẩy mạnh thị
trường và lập kế hoạch cung cấp các trang thiết bị và dịch vụ. Vì vậy việc thu thập số
lượng thị trường nếu không đầy đủ thoả đáng thì sẽ khiến các nhà ra quyết định tạo ra
một sản phẩm du lịch không có thị trường.
1.4. Phát triển du lịch bền vững
1.4.1. Khái niệm phát triển du lịch bền vững
“ Phát triển bền vững là sự phát triển sử dụng tài nguyên, điều kiện môi trường
hiện có để thoả mãn nhu cầu của các thế hệ đang sống nhưng lại phải đảm bảo cho
các thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên môi trường cần thiết để họ có thể
sống tốt hơn ngày nay ”.
Theo định nghĩa ở trên ta có thể thấy phát triển bền vững không chỉ bao gồm sự
phát triển bền vững về mặt kinh tế mà nó còn phải dựa vào sự bền vững về mặt xã hội
và môi trường. Như vậy phát triển bền vững đem lại cho con người cuộc sống tốt đẹp
về mọi mặt. Chính vì thế mà phát triển bền vững đã trở thành xu thế của thời đại ngày
nay. Nó được áp dụng trong mọi ngành, đặc biệt vấn đề này đối với du lịch lại càng
cần thiết hơn cả. Bởi vì du lịch là dựa vào tài nguyên thiên nhiên, nhân văn để hoạt
động. Có khai thác hiệu quả và hợp lý nó thì du lịch mới phát triển lâu bền được. Từ
khái niệm phát triển bền vững chung cho mọi ngành ta có thể suy ra được khái niệm
phát triển du lịch bền vững.
“ Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự
nhiên và nhân văn nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du
lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng của thế
hệ mai sau ”. (Theo định nghĩa của Antonio Machiado)
Như vậy phát triển du lịch bền vững là việc phát triển về mặt kinh tế nhưng vẫn
thêm với việc khuyến khích người dân tham gia vào kinh doanh du lịch thì chắc chắn
sẽ tạo ra rất nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương. Từ đó giúp họ tăng
thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.4.2.2. Bền vững về xã hội
Du lịch biển phải có sự đóng góp cụ thể cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công
bằng trong phát triển. Khách du lịch đến từ rất nhiều nơi khác nhau mang theo nhiều
nền văn hoá khác nhau đến địa phương. Mặt tích cực của nó là người dân địa phương
có thể hiều hơn về nền văn hoá khác từ đó có thể tiếp thu được những tinh hoa văn
hoá. Nhưng mặt hạn chế là nếu để các nền văn hoá đó du nhập một cách tự do thì
Chuyên đề thực tập
người dân có thể tiếp thu phải những yếu tố xấu, mất dần đi bản sắc văn hoá địa
phương . Phát triển bền vững là bảo đảm quyền lợi của người dân, mọi người đều
được tham gia vào kinh doanh để họ nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xoá
đói giảm nghèo. Nhưng điều đó không có nghĩa là để cho lợi ích kinh tế làm lu mờ
các giá trị văn hoá. Cần ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời
bằng chuyên môn phục vụ du lịch. Không để người dân địa phương biến văn hoá bản
địa thành hàng hoá bán cho khách. Văn hoá là phần không thể thiếu đối với mỗi
người. Đó là những tinh hoa được tích luỹ từ đời này qua đời khác. Nó làm nên giá trị
của mỗi người, mỗi địa phương. Vì thế phát triển sao cho bền vững về văn hoá – xã
hội cũng là một mảng hết sức quan trọng.
1.4.2.3. Bền vững về môi trường
Du lịch cũng là một hình thức kinh doanh vì thế việc đảm bảo phát triển tốt về
kinh tế, có lợi nhuận là một tất yếu. Tuy nhiên phát triển bền vững có nghĩa là phải có
sự hài hoà giữa yếu tố kinh tế và môi trường. Không nên chỉ chú trọng vào phát triển
kinh tế mà tìm mọi cách kể cả việc làm tổn hại nghiêm trọng đến tài nguyên. Bởi vì
tài nguyên du lịch thường có sẵn và rất khó để phục hồi, thời gian phục hồi là rất lâu.
Những điểm cần lưu ý khi khai thác phát triển tài nguyên du lịch là:
Khai thác tài nguyên không quá giới hạn cho phép, phải tôn trọng sức chứa của
khu du lịch. Doanh nghiệp phải xác định được số lượng khách tối đa mà không gây
thiệt hại đến môi trường tự nhiên, không làm cho khách cũng như người dân địa
huy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo. Trong loại hình du lịch sinh thái
không nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng và dân cư địa phương.
Chuyên đề thực tập
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở CÁT
BÀ
2.1. Khái quát về Cát Bà
Hải phòng có nhiều cảnh quan thiên nhiên, có biển, có đảo, có vườn quốc gia…
đã tạo cho thành phố Hoa phượng đỏ tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái. Cát
Bà là một khu du lịch nổi tiếng của Hải Phòng – một hòn đảo lớn nằm ở phía tây nam
vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, cách trung tâm thành phố khoảng 60km. Thiên nhiên
đã ưu đãi cho quần đảo này nhiều cảnh quan đẹp, tài nguyên rừng và biển phong phú,
một quần thể đảo và hang động làm mê hồn du khách. Vườn quốc gia Cát Bà hiện
còn giữ diện tích lớn rừng nguyên sinh nhiệt đới với hệ thực động vật phong phú gồm
745 loài thực vật, hơn 32 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư… Nhiều
loài động vật quý hiếm như sóc bụng đỏ, rùa da…và đặc biệt là loài voọc đầu trắng
được ghi vào danh mục được bảo vệ nghiêm ngặt đã trở thành biểu tượng của Vườn
Quốc gia Cát Bà. Cát Bà có hệ thống hang động, vùng vịnh như các động Trung
Trang, Thiên Long, Hùng Sơn... có tới 139 bãi biển các loại nằm xen kẽ giữa những
dãy núi đá vôi trùng điệp với cấu trúc địa hình Kast ngập nước. Ngoài ra hệ sinh thái
san hô ở Cát Bà là tài nguyên đặc hữu trong quần thể Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh
Hạ Long. Cát Bà hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước bởi vẻ đẹp thiên nhiên
hoang dã, môi trường sinh thái biển trong lành và tài nguyên du lịch đa dạng. Năm
2004, Cát Bà được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, được
quảng bá rộng rãi ở trong nước và trên thế giới, có sức hút lớn cho đầu tư, các tổ chức
quốc tế tài trợ trong phạm vi của chương trình UNESCO về con người và sinh quyển.
Đảo và biển Cát Bà có lịch sử con người lâu đời với nền văn hoá nông nghiệp,
đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản.Dựa trên những di tích khảo cổ, có thể thấy con người
đã sống ở khu vực này ít nhất 6.000 năm trước. Cát Bà có 42 khu vực khảo cổ với các
di tích tiền sử, trong số đó: 4 điểm còn chứa đựng những dấu vết của kỷ nguyên
thành phố Hải Phòng. Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lị huyện Cát Hải. Trước năm
1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi đại lý Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh
Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957 thị xã Cát Bà đổi
thành thị trấn và huyện Cát Bà mới thành lập.
2.2.3. Tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái
Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang
được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ,
phía Tây Nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn
thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi
Chuyên đề thực tập
đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều
bãi tắm đẹp.
Con đường độc đạo chạy ven biển và xuyên qua đảo Cát Bà
• Đường xuyên đảo Cát Bà: dài 27 km, có nhiều đèo dốc quanh co, xuống
khoăn, qua áng, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ
thú, non nước hữu tình.
• Vườn quốc gia Cát Bà: có diện tích 15.200 ha, trong đó có 9.000 ha rừng,
5.400 ha biển tạo nên một môi trường sinh thái lý tưởng.
• Động Trung Trang: Nằm cách thị trấn 15 km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều
nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người.
• Động Hùng Sơn: Cách thị trấn 13 km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên
Động Quân Y vì trong Chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh
viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi.
• Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung
Trang.
Bãi tắm Cát Cò
• Các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường
Danh v.v... là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát
Chuyên đề thực tập
trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Người ta dự định xây
phát triển cao của nền văn hoá này. Giữa hai tầng trên và dưới của di chỉ Cái Bèo là
một lớp san mỏng không chứa các di vật hoặc xương các động vật. Điều này chứng
tỏ trước đây đã có một thời nước biển dâng lên tràn ngập lớp dưới để lại dấu tích của
biển ngăn cách giữa hai nền văn hoá sớm và muộn. Di chỉ Cái Bèo có giá trị lịch sử
lớn khẳng định người Việt cổ đã cư trú tại vùng đất này từ rất xa xưa.
Các làng xã trên đảo Cát Bà nằm giáp biển nên cuộc sống của người dân nơi
đây cũng gắn liền với biển :chèo thuyền, đua thuyền là sinh hoạt văn hoá, hội đua
thuyền chính là ngày hội xuống nước của các làng chài Cát Hải. Chính ở nơi đầu
sóng ngọn gió, với sức sống, tinh thần lao động sáng tạo, người dân ở đây đã để lại
những giá trị văn hoá độc đáo. Trên thị trấn Cát Bà ngày nay còn lại dấu tích nơi đền
thờ các bà trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc. Hòn cẩm thạch của
làng Gia Luận đã từng là nơi tập kết dấu cọc gỗ lấy từ Vân đồn để góp phần làm lên
chiến thắng quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng Giang của Ngô quyền năm 938.
Ngôi miếu cổ Văn Chấn - xã Văn Phong có kiến trúc tinh xảo vào Hậu Lê (Thế kỷ
XV) "Tân tạo thạch bia" chùa Gia Lộc với khối đá bốn mặt trạm khắc hoa văn sinh
động hiếm thấy được tạo dựng từ thời "Cảnh Thịnh tứ niên" năm 1797. Đình Đôn
Lương nghệ thuật kiến trúc điêu khắc tuyệt diệu thể hiện tài nghệ một thời. Tại xã
Xuân Đám còn lại một phần kiến trúc bức tượng thành xếp đá được xây dựng từ thời
nhà Mạc thế kỷ XVI. Chùa Hoà Hy (Hoà Quang) còn tương đối nguyên vẹn, có nhiều
pho tượng độc đáo, những nét hoa văn trạm trên bia đá hiếm thấy trên các bia chùa
của miền Bắc. Văn bia đình làng Hoàng Châu còn lưu danh các sinh đồ Quốc Tử
Giám: Nguyễn khắc Minh, Bùi Quang Trịnh, Vũ Tiến Tước là người làng Hoàng
Châu đã học hành đỗ đạt tại cơ quan học viện cao nhất nước ta thời kỳ tiền Lê Hoàng
Triều. Người dân trên đảo có quyền tự hoà về con đường học hành, đỗ đạt của cha
ông một thời.Có thể nói văn hoá của huyện đảo Cát Hải phong phú đa dạng bởi lẽ
người dân định cư trên đảo có nguồn gốc từ nhiều nơi họp thành là cộng đồng những
người sống bằng nghề biển vùng Duyên Hải.
Chuyên đề thực tập
Đến với Cát Bà, chúng ta còn được hòa mình vào lễ hội làng cá được tổ chức
vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 hàng năm để ghi nhớ ngày Bác Hồ về thăm làng cá Cát
lồng nuôi thuỷ sản trên biển. Đây là cách hiệu quả để sử dụng các điều kiện môi
trường tự nhiên và đánh thức những tiềm năng chưa được khai thác của biển Cát Bà.
Chuyên đề thực tập
Cùng với sự phát triển của thuỷ sản, sản xuất cũng được cải thiện. Trên khu vực rộng
143,7ha năm 2002 sản lượng đạt 12.187 tấn, tăng 27,6% so với năm 2001. Những
năm qua, Cát Hải đã trở thành điểm hấp dẫn đối với khách du lịch Việt Nam cũng
như du khách quốc tế.
Cùng với xây dựng cơ sở hạ tầng, ngành giáo dục và đào tạo cũng đạt các mục
tiêu vượt mức kế hoạch đề ra cả về chất lượng và số lượng. Ngành thể thao, văn hoá,
thông tin đa hợp tác chặt chẽ với các ngành khác trong việc triể khai thành công các
chương trình tuyên truyền. Tuyên truyền tập trung vào việc hoàn thành các mục tiêu
phát triển chính trị, kinh tế, bảo vệ môi trường và kiểm soat những vấn đề xã hội.
Ngày càng có nhiều hoạt động biểu diễn văn hoá nghệ thuật. Nhà văn hoá huyện tổ
chức rất nhiều buổi biểu diễn văn hoá, văn nghệ, khuyến khích mở rộng các phong
trào văn hoá văn nghệ địa phương.
Cát Hải tập trung vào phát triển kinh tế xã hội, sử dụng tài nguyên rừng, biển
sinh thái để phát triển kinh tế đa ngành. Xây dựng Cát Hải thành một trung tâm du
lịch sinh thái quấc gia đạt chuẩn quốc tế và trung tâm kinh tế biển của Bắc Bộ Việt
Nam, đăc biệt khu kinh tế mở và một khu vực đô thị của thành phố Hải Phòng. Cát
Hải hiện nay làmột trung tâm hội tụ đầu tư với dự án quy hoạch du lịch sinh thái và
khu vực cảng biển Cát Don, Xuân Đàm và Cát Bà với tổng đầu tư trên 500 tỷ trên
diện tích 104ha và một số dự án khác.
2.2.7. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong chiến lược phát triển Uỷ ban nhân dân và Huyện uỷ đã xác định “xây
dựng hạ tầng cần phải được ưu tiên tạo động lực cho sự phát triển của các ngành kinh
tế mũi nhọn”. Theo định hướng này, mấy năm qua huyện đã triển khai tích cực việc
xây dựng hạ tầng với hiệu quả cao. Theo đó, huyện đã đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng
nhằm khuyến khích đầu tư vào các trung tâm dịch vụ hỗ trợ thuỷ sản và du lịch tại
đảo Cát Bà. Hoàn thành kế hoạch xây dựng huyện Cát Hải và kế hoạch chi tiết thị
trấn Cát Bà để trình uỷ ban nhân dân Hải Phòng phê duyệt theo đó, huyện Cát Hải sẽ
tiến đối với phương tiện truyền thông.
2.3. Thực trạng phát triển du lịch sinh thái theo quan điểm phát triển du
lịch bền vững tại Cát Bà
2.3.1. Đóng góp của du lịch vào sự phát triển kinh tế - xã hội
Những năm qua, Cát Bà đã trở thành điểm hấp dẫn đối với khách du lịch Việt
Nam cũng nư du lịch quốc tế. Số khách du lịch đến tăng 25% mỗi năm đạt 205.000
năm 2003, tăng gấp đôi so với năm 2000. Doanh thu từ du lịch có mức tăng 9% hàng
năm và đạt 32 tỷ đồng đồng năm 2003.6 tháng đầu năm 2009 đã có 437.000 lượt
khách tới Cát Bà,tăng 13,2% so với năm 2008 và đạt 51,5% so với kế hoạch năm
2009.Tổng doanh thu từ du lịch đạt 136,2 tỷ đồng. Các dự án đầu tư phát triển du
lịch và các dịch vụ đã đóng góp quan trọng cho việc tạo ra những kết quả trên. Theo
kế hoạch phát triển của Sở Du Lịch Hải Phòng, Cát Bà sẽ trở thành một trung tâm
hấp dẫn đối với đầu tư. Hàng loạt các dự án mới sẽ làm nên hình ảnh và màu sắc mới