Lời nói đầu
Tháng 7/2000 là mốc thời gian quan trọng đánh dấu chặng đờng 5 năm
hợp tác kinh tế Việt Nam ASEAN. Kể từ tháng 7/1995 Việt Nam chính thức
trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN).
Với việc trở thành thành viên chính thức của ASEAN đồng thời Việt
Nam cũng đã cam kết tham gia vào Hiệp định của ASEAN mà trong đó về
lĩnh vực kinh tế quan trọng nhất là việc thiết lập khu vực thơng mại tự do
ASEAN- AFTA. Là thành viên chính thức của ASEAN trong thời gian ngắn
từ tháng 7 năm 1995 đến tháng 12 năm 1995, Việt Nam đã thực hiện các
quy định của Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung- CEPT để
thiết lập khu vực thơng mại tự do ASEAN. Tuy nhiên, thời gian để nghiên
cứu các vấn đề về ASEAN cũng nh khu vực thơng mại tự do ASEAN và cân
nhắc một cách sâu sắc các ảnh hởng của việc nghiên cứu một cách có hệ
thống.
Trong một thời gian và khối lợng đề tài nhỏ không thể đề cập hết đợc
những tác động của CEPT/AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam. Nhng em
xin trình bày sơ qua về tác động của việc tham gia CEPT/AFTA đối với th-
ơng mại của Việt Nam.
Đề tài: Tình hình thực hiện CEPT- AFTA của Việt Nam trong thời gian qua
1
CHƯƠNG I: VIệT NAM HộI NHậP THƯƠNG MạI
Tự DO ASEAN - AFTA MộT XU THế TấT YếU
I. Sự RA ĐờI KHU VựC THƯƠNG MạI Tự DO ASEAN - AFTA
1. Quá trình hình thành AFTA
ASEAN là một trong những khu vực có nền kinh tế tăng trởng với tốc
độ nhanh nhất thế giới. Mặc dù khủng hoảng kinh tế đã diễn ra trong những
năm giữa thập kỷ 80, tốc độ tăng trởng kinh tế của ASEAN từ năm 81 đến
năm 91 là 5,4% gần gấp hai lần tốc độ tăng trởng bình quân thế giới. Với tình
hình phát triển kinh tế nh vậy, với mục đích hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh
vực kinh tế- chính trị- khoa học- Xã hội đã đa ra ngay từ khi mới thành lập lẽ
thực sự là những bài học quý báu cho việc hợp tác kinh tế giữa các nớc trong
khu vực.
2. Sự ra đời của AFTA và các mục tiêu AFTA:
Vào đầu những năm 90, môi trờng chính trị quốc tế và khu vực đã có
những thay đổi quan trọng do chiến tranh lạnh đã kết thúc. Lúc này vị trí của
ASEAN trong chiến lợc khu vực và quốc tế của các cờng quốc bị hạ thấp.
Điều đó có nghĩa là Hoa kì, Nga, Trung quốc sẽ giảm bớt cam kết an ninh và
giúp đỡ về kinh tế cho ASEAN . Chính sách mới của các cờng quốc và những
biến đổi theo hớng tích cực trên bán đảo Đông Dơng đa lại cho ASEAN
những cơ hội và thách thức mới và kinh tế các nớc ASEAN đứng trớc những
cơ hội và thách thức lớn khiến cho các nớc ASEAN không dễ vợt qua nếu
không có sự cố gắng chung của toàn hiệp hội:
Thứ nhất, trong trật tự kinh tế thế giới vừa có khuynh hớng toàn cầu
hoá vừa có khuynh hớng khu vực hoá, khuynh hớng bảo hộ mậu dịch. Khu
vực thơng mại tự do Bắc Mỹ(NAFTA), Liên minh Châu Âu (EU) ra đời, áp
lực bảo hộ mậu dịch của Mỹ đối với hàng công nghiệp, các cuộc thơng lợng
của hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) không tiến triển.
Chính vì vậy ASEAN thấy là chính mình phải hợp tác hơn nữa để đối phó với
khuynh hớng này.
Thứ hai, kinh tế các nớc ASEAN phát triển nhanh từ giữa thập niên 80
do đó chính sách hớng vào xuất khẩu và từng phần mở cửa thị trờng trong n-
ớc cho hàng hoá nớc ngoài vào.
3
Tuy nhiên sức cạnh tranh của hàng hoá các nớc ASEAN không cao
trên thị trờng thế giới. Do đó việc thành lập khu vực thơng mại tự do giữa các
nớc trong khu vực trong từng bớc sẽ mở rộng ra thị trờng thế giới.
Thứ ba, đầu t trực tiếp đóng vai trò quan trọng kinh tế các nớc ASEAN
trong 30 năm qua. Đặc biệt sau giữa thập niên 80 nó có vai trò quyết định
thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp tại các nớc này, do đó giúp thực hiện
thành công chiến lợc công nghiệp hoá hớng vào xuất khẩu. Trong những năm
quốc tế khác nh APEC, WTO liệu AFTA có bị lu mờ hay không? Đứng trớc
câu hỏi này, AFTA buộc phải đẩy nhanh tốc độ thực hiện và không chỉ dừng
lại ở một liên minh thuế quan hay một khu vực thơng mại tự do, mà trong t-
ơng lai sẽ tiếp tục tiến đến những tầm cao mực nh thị trờng chung, liên minh
quốc tế.
3. Bối cảnh Thơng mại Việt Nam khi gia nhập AFTA
Những điều kiện và cơ sở ban đầu về kinh tế, thơng mại có ý nghĩa rất
quan trọng và ảnh hởng đến sự thành công của Việt Nam khi tham gia vào
các tổ chức liên minh kinh tế khu vực.
Từ những năm đầu thập kỷ 90, sau khi khối SEV giải tán và Việt Nam
thực hiện công cuộc đổi mới chính sách mở cửa và đa phơng hóa các quan hệ
kinh tế đối ngoại, quan hệ thơng mại Việt Nam với các nớc thành viên
ASEAN ngày càng đợc cải thiện và phát triển. Các thành viên ASEAN trở
thành những bạn hàng buôn bán quan trọng trong buôn bán ngoại thơng của
Việt Nam.
Thơng mại Việt Nam và các nớc ASEAN trong những năm đầu thập
kỷ 90 đã phát triển với một tốc độ cao mặc dù mức tăng trởng trong thời kỳ
này còn rất đột biến và thất thờng. Mức tăng trởng bình quân thời kỳ 1991-
1995 là 26%, chiếm hơn 25% tổng kim nghạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Singapo tăng 50% (200 triệu USD), sang các nớc ASEAN tăng 67% (630
triệu USD), kim nghạch xuất khẩu sang Hồng Kông giảm 35% (100triệu
USD). Bắt đầu từ năm 1993 Hồng Kông đã giảm mạnh vị trí đầu cầu trung
chuyển hàng xuất khẩu của Việt Nam, phần nào vị trí này đã chuyển sang
Singapo.
Các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang ASEAN là dầu thô,
gạo, lạc, dầu, cao su, hải sản... Hàng hoá của Việt Nam mới chỉ chiếm 3
phần nghìn tổng giá trị hàng nhập khẩu của các nớc ASEAN. Việt Nam nhập
khẩu từ ASEAN những mặt hàng nh xăng dầu, phân bón, chất dẻo, thuốc lá...
5
chiếm khoảng 30% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu hàng năm của Việt Nam.
với các mặt hàng các mối quan hệ này còn rất mong manh và dễ bị phá vỡ.
6
Nhìn chung, có thể nói rằng chúng ta có một xuất phát điểm không
thuận lợi khi tham gia thực hiện khu vực thơng mại tự do ASEAN. Điều đó đ-
ợc thể hiện qua những lợi thế so sánh của Việt Nam so với các nớc ASEAN.
Khoảng cách và trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nớc ASEAN
(về thu nhập bình quân trên đầu ngời, dự trữ ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu
t, trình độ công nghệ ... ) cho thấy sự cách biệt quá lớn, bất lợi cho Việt Nam.
Trình độ công nghệ sản xuất đặc biệt trong các ngành then chốt nh công
nghệ chế tạo, chế biến còn ở mức yếu kém. Cơ cấu ngành hàng nhập khẩu
của Việt Nam là các nớc ASEAN lại tơng đối giống nhau, vì vậy có thể gây
cạnh tranh trong khu vực trong việc thu hút đầu t, tìm kiếm thị trờng và công
nghệ ( ở những mức độ khác nhau). Trình độ nhân lực kể cả cán bộ quản lý
kinh tế và các doanh nhân cha đáp ứng với nhu cầu đặt ra của tình hình mới.
Bên cạnh đó, tác động không thuận lợi do các vấn đề vĩ mô, môi trờng
vĩ mô thiếu ổn định với một hệ thống các thủ tục hành chính phức tạp và
không rõ ràng. Thủ tục giấy tờ cồng kềnh gây nhiều khó khăn trong hoạt
kinh doanh.
Tóm lại, những thuận lợi và lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu là
những nhân tố khách quan. Những khó khăn lại chủ yếu là những yếu tố bắt
nguồn từ nội lực của nền kinh tế. Điều này chứng tỏ rằng trong quá trình hội
nhập khu vực , nền kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thơng nhất so với các nớc
thành viên và trở thành những thách thức to lớn đòi hỏi chúng ta phải có cách
đi hợp lý.
II. Nội dung cơ bản của AFTA , cơ chế CEPT
Để thực hiện thành công khu vực thơng mại tự do ASEAN- AFTA hội
nghị bộ trởng kinh tế các nớc ASEAN (AEM) đã nhóm họp và ký hiệp định
về thuế quan u đãi có hiệu lực chung-CEPT năm 1992. CEPT là thoả thuận
giữa các nớc thành viên ASEAN trong việc giảm thuế quan trong thơng mại
nội bộ ASEAN xuống còn từ 0-5% đồng thời loạt bỏ tất cả các hạn chế về
thời gian nhất định (5 năm), các quốc gia phải đa toàn bộ sản phẩm này vào
danh mục cắt giảm thuế.
Lịch trình chuyển các sản phẩm trong mục loại từ tạm thời sang danh
mục cắt giảm đợc quy định rằng toàn bộ các sản phẩm trong danh mục tạm
thời loại trừ sẽ đợc chuyển sang danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm,
từ 01/01/96 đến 01/01/2000, mỗi năm chuyển 20% số sản phẩm trong danh
mục loại trừ tạm thời.
* Danh mục loại trừ hoàn toàn:
8
Danh mục này bao gồm những sản phẩm không tham gia Hiệp định .
Các sản phẩm trong danh mục này phải là những sản phẩm không ảnh hởng
đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, cuộc sống, sức khoẻ của con ngời,
động thực vật, đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, di tích lịch sử,
khảo cổ... Việc cắt giảm thuế cũng nh xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan đối
với các mặt hàng này sẽ không đợc xem xét đến theo Chơng trình CEPT.
* Danh mục nhạy cảm của hàng nông sản cha qua chế biến:
Theo Hiệp định CEPT-1992 , sản phẩm nông sản cha qua chế biến
không đợc đa vào thực hiện kế hoạch CEPT. Tuy nhiên theo Hiệp định CEPT
sửa đổi(1994), các sản phẩm nông sản cha qua chế biến sẽ đợc đa vào ba loại
danh mục khác nhau là: Danh mục giảm thuế, danh mục loại trừ tạm thời và
một danh mục đặc biệt khác là danh mục các sản phẩm nông sản chế biến
nhạy cảm.
Hàng nông sản cha qua chế biến trong danh mục cắt giảm thuế đợc
chuyển vào chơng trình cắt giảm thuế nhanh hoặc chơng trình cắt giảm bình
thờng vào 01/01/1996 và sẽ đợc giảm thuế xuống 0-5% vào 01/01/1998. Các
sản phẩm trong danh mục tạm thời loại trừ các hàng nông sản cha chế biến
đợc chuyển sang danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm từ 01/01/1998
đến 01/01/2003 mỗi năm 20%.
Các sản phẩm trong danh mục nhạy cảm đợc phân vào hai danh mục tuỳ
theo mức độ nhạy cảm là danh mục mặt hàng nông sản cha qua chế biến nhạy
trao đổi u đãi CEPT của nớc mình, trong đó thuế của các sản phẩm có mức
thuế quan theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện hởng u đãi thuế quan của
các nớc thành viên khác.
2. Các hạn chế định lợng (QR) và các rào cản phi thuế quan
khác (NTBs)
Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan, vấn đề loại bỏ các hạn chế số lợng
nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan khác là hết sức quan trọng để có thể
thiết lập đợc khu vực thơng mại tự do các hạn chế về số lọng nhập khẩu có
thể xác định lại một cách dễ dàng, do đó đợc quy định loại bỏ ngay đối với
các mặt hàng trong chơng trình CEPT đợc hởng các nhợng bộ từ các nớc
thành viên khác.
10
Tuy nhiên, đối với rào cản phi thuế quan khác, vấn đề phức hơn rất
nhiều vì việc loại bỏ chúng sẽ có rất nhiều cách và ý nghĩa khác nhau. Chẳng
hạn đối với các phụ thu thì đơn giản chỉ cần loại bỏ, song đối với các tiêu
chuẩn chất lợng lại không thể loại bỏ một cách dơn giản nh vậy bởi lý do để
duy trì chúng nh các lý do về an ninh xã hội, bảo vệ môi trờng, sức khoẻ...
Trong các trờng hợp này việc loại trừ NTBs sẽ có ý nghĩa là phải thống nhất
các tiêu chuẩn chất lợng hàng hoá, hay các nớc phải thoả thuận để đi đến
công nhận về tiêu chuẩn của nhau. Và trong trờng hợp về các biện pháp độc
quyền nhà nớc, việc loại bỏ sẽ có ý nghĩa là phải tạo điều kiện cho các nớc
thành viên khác do có thể cạnh tranh và thâm nhập thị trờng.
Vì vậy Hịêp định CEPT đã quy định :
- Các nớc thành viên sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế về số lợng cho các
sản phẩm trong CEPT trên cơ sở hởng u đãi áp dụng.
- Các hàng rào phi thuế quan khác sẽ đợc xoá bỏ dần dần trong các
năm sau khi sản phẩm đợc hởng u đãi.
- Các hạn chế ngoại hối các nớc đang áp dụng sẽ u tiên đặc biệt đối với
các sản phẩm thuộc CEPT.
- Tiến tới thống nhất các tiêu chuẩn chất lợng công khai chính sách và
thuộc diện đợc hởng u đãi theo chơng trình CEPT.
3.4. Thống nhất thủ tục hải quan
Do có sự khác biệt hàng hóa đợc nhợng bộ theo chơng trình CEPT và
các hàng hóa khác nh tiêu chuẩn về hàm lợng xuất xứ, mức thuế suất... nên
cần thiết phải đơn giản hoá và thống nhất thủ tục hải quan giữa các nớc thành
viên. Hai vấn đề đã đợc các nớc thành viên u tiên trong việc thống nhất thủ
tục hải quan là:
a. Mẫu tờ khai hải quan chung cho hàng hóa thuộc diện CEPT:
Tất cả các hàng hóa giao dịch theo chơng trình CEPT trớc tiên bắt buộc
phải có giấy chứng nhận xuất xứ(C/O) hoặc mẫu D để xác định mặt hàng đó
có ít nhất 40% hàm lợng ASEAN. Sau đó, hàng hóa này phải đợc hoàn thành
thủ tục xuất nhập khẩu.
Do các tờ khai hải quan của các nớc thành viên tơng tự nh nhau nên thủ tục
có thể đợc đơn giản hóa bằng cách gộp ba loại tờ khai trên thành một mẫu tờ
khai hải quan chung cho hàng hóa CEPT.
b. Thủ tục xuất nhập khẩu chung:
12
Để xây dựng thủ tục xuất nhập khẩu chung trong khối ASEAN, các nớc
thành viên đang tập trung vào các vấn đề:
- Các thủ tục trớc khi nộp tờ khai xuất khẩu.
- Các thủ tục trớc khi nhập tờ khai nhập khẩu.
- Các vấn đề giám định hàng hóa.
- Các vấn đề về giữ hàng hóa trong đó có giấy chứng nhận xuất xứ và có
hiệu lực hồi tô.
- Các vấn đề liên quan đến hoàn trả.
III. Tác động của AFTA đối với hoạt động thơng mại
quốc tế của Việt Nam
1. Tác động tới thơng mại và cơ cấu sản xuất
Việc tham gia AFTA ảnh hởng trực tiếp tới thơng mại. Đến lợt mình, th-
ơng mại ảnh hởng tới sản xuất. Nh vậy, thực chất của việc xem xét tác động
khi các hàng rào mậu dịch đợc xóa bỏ. Nh vậy, các nớc thành viên FTA sẽ
mua bán lẫn nhau các mặt hàng mà một nớc thứ ba ngoài FTA sản xuất với
giá thành tơng đơng, nhng bị hàng rào thuế quan ngăn chặn xâm nhập.
Những tác động cụ thể đối với Việt Nam về lĩnh vực thơng mại và cơ
cấu sản xuất nh sau:
1.1. Đối với xuất khẩu.
Hiện tại ASEAN gồm 10 nớc dân số trên 500 triệu dân. Đây là một thị
trờng lớn là yếu tố giúp huy động tiềm năng lao động và tài nguyên dồi dào
của Việt Nam vào phát triển xuất khẩu.
Trong mấy năm vừa qua, tốc độ tăng kim nghạch buôn bán Việt Nam
với các nớc trong khối ASEAN tăng lên với tốc độ gần 30% năm. Doanh số
chiếm 1/3 kim nghạch ngoại thơng của Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra là với AFTA tốc độ tăng cũng nh tỷ trọng của kim
ngạch buôn bán với ASEAN có tăng lên đáng kể không và nếu có thì ảnh h-
ởng ra sao đối với sản xuất trong nớc ?. Để trả lời, cần xem xét cụ thể cơ cấu
buôn bán của Việt Nam với các nớc trong khối.
Xét về cán cân buôn bán với ASEAN Việt Nam luôn ở t thế nhập siêu.
Mặc dù xuất khẩu tăng, đặc biệt nhờ mặt hàng chủ đạo là dầu thô xuất sang
Singapo, tuy nhiên triển vọng gia tăng xuất khẩu của Việt Nam sang các nớc
ASEAN cha có nhữnh hứa hẹn thay đổi mạnh, do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Xét về cơ cấu mặt hàng, Việt Nam xuất sang các nớc ASEAN gồm:
dầu thô, gạo, đậu, cao su... rất nhiều mặt hàng nông sản cha chế biến đợc các
nớc xét vào danh mục hàng nông sản cha chế biến nhạy cảm và nhạy cảm
cao để làm chậm quá trình giảm thuế. Số các mặt hàng nông sản đợc các nớc
thành viên ASEAN bổ sung vào CEPT để áp dụng việc cát giảm thuế ngay
chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, trong khi những mặt hàng chủ đạo là dầu thô và
nông sản cha chế biến chiếm hầu hết kim nghạch xuất khẩu Việt Nam. Tác
14
động kích thích chủ yếu của CEPT là đối với các công nghiệp chế biến, bởi vì
việc cắt giảm thuế suất lớn chính là đối với các mặt hàng này. Nh vậy, những
Thấy rằng cơ cấu sản xuất và cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam và một
số nớc ASEAN không khác nhau nhiều lắm. Có rất nhiều mặt hàng cùng sản
xuất có thể cạnh tranh nhau trên thị trờng Việt Namvà thị trờng ngoài
15
ASEAN nh các loại nông sản cha chế biến, ô tô, xe máy, xe đạp... Hiện tại
sản xuất một số mặt hàng của Việt Nam còn thua kém sức cạnh tranh so với
các nớc trong khối bởi thua về chất lợng, chủng loại và cả số lợng. Vì thế, các
nớc này đang cố gắng chiếm lấy thị phần ở Việt Nam. Việc áp dụng AFTA
sẽ tạo điều kiện hơn cho các nớc ASEAN trong việc nâng cao cạnh tranh về
giá cả và về thủ tục hải quan so với các hàng hóa của các nớc ngoài khối
( nh Trung quốc, Hàn Quốc. Đài Loan...) vào thị trờng Việt Nam. Chiếm lấy
một thị phần ở Việt Nam là điều mà các nhà kinh doanh nớc ngoài quan tâm
hàng đầu, bởi vì thị trờng Việt Nam có tiềm năng lớn về dung lợng, lại thuộc
loại không đòi hỏi cao về chất lợng hàng hóa. Có lý do để lo ngại rằng do
Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn các nớc ASEAN khác, sức
cạnh tranh của hàng hóa yếu nên đứng trớc những thử thách vô cùng lớn khi
tham gia AFTA. Hiện nay, hàng hóa nhập khẩu đang tràn ngập thị trờng, làm
điêu đứng không ít ngành công nghiệp bản địa nh dệt, giày dép, hàng cơ khí, đồ
điện dân dụng... thậm chí cả khi hàng rào thuế quan đang còn đợc duy trì khá
cao. Đặc biệt, đáng lo ngại là hàng hóa có hàm lợng chất xám và kỹ thuật cao,
bởi vì sự chênh lệch về trình độ rất rõ rệt. Khi mà hàng rào bảo hộ bị cắt giảm
thì sản xuất trong nớc chịu sức ép lớn gấp nhiều lần. Thế nhng điều này cũng có
chiến lợi do tham gia AFTA các doanh nghiệp Việt Nam sớm bị đặt trong môi
trờng cạnh tranh quốc tế nó có ảnh hởng tích cực đến những sản phẩm công
nghiệp mà Việt Nam có lợi thế so sánh trớc mắt. Nhng kinh nghiệm một số nớc
đi trớc, nếu bảo hộ kéo dài quá lâu các ngày sản xuất trong nớc sẽ không phát
triển lành mạnh và không thể trở thành lợi thế so sánh để cạnh tranh trên thị tr-
ờng thế giới. Do đó, dù gia nhập AFTA hay không, Việt Nam cũng nên từng b-
ớc giảm bớt thuế quan theo một thời khóa biểu định trớc. Lịch trình cắt giảm
thuế CEPT rất gần với chiến lợc công nghiệp hóa hớng vào xuất khẩu mà trớc
ngành sản xuất tiêu tốn nhiều lao động sang Việt Nam, bởi vì một số nớc thành
viên ASEAN khác đã bắt đầu đợc lợi thế về nguồn lao động giá rẻ.
3. Tác động tới nguồn thu ngân sách:
Hệ thống thuế Việt Nam nói chung và thuế xuất nhập khẩu nói riêng
đang trong quá trình hoàn thiện và sẽ có những thay đổi căn bản có thể dẫn
đến những thay đổi lớn vì tỷ trọng thuế gián thu trong tổng thu ngân sách.
Đồng thời kim nghạch nhập khẩu giữa Việt Nam và các nớc ASEAN sẽ có
nhiều thay đổi và kéo theo tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam cũng thay đổi
theo. Việc thuế nhập khẩu đợc cắt giảm song đồng thời áp dụng VAT và thuế
tiêu thụ đặc biệt thì phân giảm do thu của thuế nhập khẩu sẽ đợc bù đắp bằng
hai loại thuế trên.
Việc giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu đầu vào của sản xuất sẽ
làm giảm chi phí và giá thành sản phẩm, dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh và
khả năng sản xuất. Điều này dẫn đến tăng thu ở các loại thuế khác nh thuế
doanh thu, thuế lợi tức...
17