ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
---------------
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
SỰ MẤT NƯỚC CỦA VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX
SỰ MẤT NƯỚC CỦA ĐẠI NAM CUỐI THẾ KỈ XIX VÀO TAY THỰC
DÂN PHÁP
A.Dẫn luận
Đại Nam cuối thế kỉ XIX phải đối mặt với nguy cơ bị xâm lược bởi chủ
nghĩa đế quốc. Triều đình nhà Nguyễn, với tư cách là đại biểu giai cấp phong
kiến bấy giờ, lãnh trách nhiệm lịch sử, lèo lái con thuyền dân tộc. Mỗi quyết
định và sự ứng xử của nó quyết định vận mệnh của toàn thể quốc gia dân tộc
Việt Nam.
Thực tế, cuối thế kỉ XIX, Đại Nam trở thành thuộc địa của Pháp, bắt
buộc phải chấp nhận làm thân phận nô lệ cho ngoại bang. Điều ấy chỉ cho phép
ta hiểu: nhà Nguyễn đã không làm tròn được trọng trách mà lịch sử trao cho
nó. Đó là kết quả của quá trình từng bước lún sâu vào khủng hoảng nhưng lại
bế tắc, không thể tháo gỡ của Đại Nam. Những mâu thuẫn, bất đồng ứ đọng
trong xã hội cứ thế tích tụ dần và ngày càng đẩy đất nước đến chỗ rối loạn, suy
yếu. Việt Nam, vì thế, trước nguy cơ bị xâm lăng chẳng khác nào một cơ thể
ốm yếu đầy bệnh tật, run rẩy trước bệnh dịch nhưng khăng khăng không chịu
(hay không thể) uống thuốc.
Bằng bất cứ cách lí giải nào, chúng ta phải thừa nhận rằng sở dĩ Nhà
Nguyễn lún sâu vào trong mâu thuẫn chính là vì từ trong nó (từ trong bản chất
của nó) nó có lí do (có khả năng) để hành động như vậy. Rõ ràng, khi theo sát
qýúa trình lịch sử trong thế kỉ XIX, hoàn toàn có thể nhìn thấy một chuỗi sự
kiện logic,liên tục, mà, chính từ đó, triều đình Huế mâu thuẫn với quần chúng
nhân dân, rồi tự mâu thuẫn với chính mình.
Những phân tích về nguyên nhân mất nước của nhà Nguyễn chủ yếu tập
quân) nhưng có đến gần 400 cuộc khởi nghĩa, (riêng thời Gia Long có đến 90
cuộc khởi nghĩa).
Nếu như nhà Lý, Trần, Lê có được vị trí vững chắc trong lòng dân nhờ
công dẹp ngoại xâm, thì trái lại, nhà Nguyên để mất cơ sở niềm tin bởi đã
“trót” dẫn quân Xiêm về làm “khách” của Đại Nam. Lỗi lầm ấy của Gia Long
đã hại nhà Nguyễn đến chỗ phản ứng tiêu cực một cách mù quáng trước nhân
dân. Lùi về Huế, buông bỏ Bắc Hà, không quản lí nổi Nam Kì, triều đình Huế
tự cô lập mình với dân tộc. Mầm mống cho sự yếu kém của đất nước bắt đầu
từ đây.
2. Sự đáp trả của triều đình
Có lẽ nhận thức được thái độ của nhân dân, Nguyễn Ánh cũng như
những vị vua kế tiếp ông thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Tiếc rằng triều
đình chỉ có thể khôn khéo lợi dụng sự phân tán của các phong trào nhỏ lẻ mang
tính địa phương ấy, song chẳng có cách nào tìm được vị trí thực sự trong dân.
Thuế tăng cao, bóc lột người dân đến từng xu để đàn áp những đồng bào
không cam chịu khổ nhục của họ. Đáng thương cho trều Nguyễn, càng đàn áp
nhằm tìm cách khẳng định vị trí của mình (biện pháp của kẻ mạnh, cái lí của
kẻ mạnh), thì nỗi căm oán của nhân dân càng lên cao, mâu thuẫn giữa quần
chúng nhân dân và triều đình phong kiến càng sâu sắc, trầm trọng.
Vấn đề đằng sau đó của toàn thể quốc gia dân tộc Việt Nam trong giai
đoạn này chính xuất phát từ đây: cùng với đàn áp một cách mù quáng, bất lực
trước lòng dân, triều đình Huế đồng thời nảy sinh tâm lí nghi ngờ nhân dân,
không tin và gần như sợ dân. Cũng như người hay ốm thường sợ bệnh hay thời
tiết thay đổi, nhà Nguyễn lo ngại mối lo nội quốc hơn bất kì mối lo nào khác:
nếu phải chọn giải quyết giữa xâm lăng và khởi nghĩa, nhất quyết phải đàn áp
các cuộc khởi nghĩa trước.
Mối tác động qua lại khởi điểm từ sự chán ghét của nhân dân, sau đó là
sự trả thù của giai cấp phong kiến ngày càng tồi tệ hơn. Nhưng không chỉ dừng
lại ở sự tồi tệ trên mối quan hệ đó, mâu thuẫn tăng cấp từ sự tương tác này thực
sự đẩy nhà Nguyễn đến chỗ tiêu cực trong mọi chính sách, để rồi đưa đất nước
nhận: “nếu họ đánh mạnh thì họ đã đánh bại chúng ta lâu rồi”. Chắc chắn triều
đình Huế phải nắm được phần nào thực tế ấy (khi Pháp chủ động đưa những
hoà ước ra với điều kiện dễ chịu, triều đình khăng khăng khước từ : đây không
phải là cách cư xử của một triều đình hèn nhát, bạc nhược, không biết gì về
tình hình quân sự.) – một triều đình không hiểu gì về tình hình quân sự như thế
chỉ có ở trong những vở kịch lịch sử !
Khi những biện pháp quân sự không có hiệu quả, biện pháp chính trị
được sử dụng. Các giáo sĩ xúi dục Tạ Văn Phụng nổi loạn ở Bắc Kì. Triều đình
Huế vội vang kí hiệp ước Nhâm Tuất, chấp nhận những điều kiện ngu xuẩn
nhất nhằm rảnh tay đàn áp phong trào nông dân. Vết nứt mà từ đó toàn bộ hình
tượng, vai trò của triều đình trước nhân dân bị đổ vỡ. Nhà Nguyễn, đến đây,
thực sự mất dân. Hai hòa ước kí năm 1883,1884 gần như chịu chung một loại
nguyên nhân đó.
Triều đình không tin dân nhưng đánh giặc lại không thể tự mình đánh.
Chính vì thế, vua Tự Đức rốt cuộc lại cầu viện đến quân Thanh và Pháp để dẹp
yêu giặc dã trong nước, nhưng lại cố gắng xoa dịu các tầng lớp nhân dân. Triều
đình, như vậy, đã không thể có một lực lượng thật sự để dựa vào đó, bản thân
Tự Đức cũng bối rối và không thể tìm ra giải pháp đúng đắn. Nỗi sợ dân ám
ảnh triều Nguyễn dai dẳng- không vượt được lên trên nỗi sợ của chính mình,
nhà Nguyễn tự kí bản án nghiệt ngã cho chính nó.
Kết quả mất nước hoàn toàn( hiệp ước Pa-tơ-nôt) chỉ là khẳng định cao
nhất cho sự thiếu niềm tin và sự sứt mẻ nghiêm trọng lòng đoàn kết, tính thống
nhất của Nhà nước với nhân dân trong những thời điểm quan trọng quyết định
vận mệnh dân tộc.
4. Lời biện hộ cho cái “không thể khác”
Mọi quyết định, hành của nhà Nguyễn không phải là cơn trái tính bất
thường- sự lặp lại cùng một hành động trong những thời điểm khác nhau bắt ta
phải nhìn nhận rằng hiện tượng này chẳng qua là minh họa rõ nét cho bản chất
của nó.
Nhà Nguyễn khởi dựng lại cơ đồ bằng mọi thủ đoạn nhằm mục đích duy
1. Nông nghiệp- nỗi băn khoăn của Đại Nam
Nam Kì cho đến thế kỉ XIX thực sự là vựa lúa của Việt Nam: người
nông dân “làm chơi” nhưng “ăn thật”- vùng đồng bằng Nam bộ quả thức là
món quà thiên nhiên ban tặng cho một xứ sở nông nghiệp. Tiếc rằng điều đó
không có nghĩa rằng vấn đề lương thực được giải quyết.
Nếu trong giai đoạn đó, có vùng nào không bị thiếu đói hay xiêu tán, có
lẽ vùng đó không ở Bắc hà lẫn miền Trung. Lương thực thiếu trở thành yếu tố
kích thích xã hội rối loạn: nông dân đói bỏ, đi xiêu tán, một bộ phận trở thành
giặc cướp. Giặc cướp và khởi nghĩa không chỉ “giúp” triều đình và nhân dân
tăng cường đối đầu, mà còn khiến nông dân không thể yên ổn làm ăn. Hậu quả
rõ nhất là một chuỗi luẩn quẩn: nông nghiệp sút kém, dẫn đến nổi loạn, nổi
loạn bắt triêu đình đàn áp, chi phí cho quân sự vì thế đè nặng lên chính lưng
người nông dân và thuế mà họ phải đóng- thuế cao sẽ lại quay trở lại làm tổn
thương nền nông nghiệp.
Đối với đất nước lấy gạo làm nền sống như Việt Nam, sản xuất nông
nghiệp bị ảnh hưởng đồng nghĩa với mâu thuẫn xã hội lên cao, xã hội bất ổn :
điềm báo của chiến tranh và đổ vỡ. Trên cương vị những người cai quản quốc
gia, chắc chắn triều đình nhà Nguyễn cũng thấu hiểu điều này. Có lẽ chính sự
thấu hiểu này đã thôi thúc các vua Nguyễn tìm cách phát triển nông nghiệp,
không chỉ nhằm giải quyết lương thực, mà cao hơn thế, giải quyết bất ổn xã
hội.
Từ việc lập sổ địa bạ đến những chính sách khai hoang, doanh điền,
quân điền…, kì vọng của thượng tầng xã hội được đáp trả lịch thiệp bằng
những nạn đói kế tiếp nhau, đi kèm với khởi nghĩa và nổi loạn. Tự Đức nhận
thức được món quà nặng nề ấy, nhưng ngài cũng bất lực, vận mệnh dân tộc thì
phó mặc cho ngài.
Nông nghiệp sa sút không cho phép tiểu thủ công nghiệp phát triển. Nền
sản xuất bất an thì thương nghiệp càng tồi tệ hơn. Tài chính đổ cho những
chính sách khai hoang và lập điền tuy có đạt được những thành tựu nhất định
nhưng vẫn chẳng thấm vào đâu.
bảo nhu cầu các mặt hàng tăng lên, thì hiện tượng nông nghiệp đi xuống kèm
theo sự phát triển tiểu thủ công nghiệp thật đáng ngờ. Theo chúng tôi, nỗ lực