Phát triển sản phẩm bổ sung dinh dưỡng cho sẻ suy dinh dưỡng thấp còi - Pdf 26

Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM THỰC PHẨM
Đề tài:
Phát triển sản phẩm bổ sung dinh dưỡng cho sẻ suy dinh dưỡng thấp còi
MỤC LỤC
I. Đặt vấn đề - Ý tưởng: Trang 2
II. Nhu cầu thị trường: 4
1. Tình hình ngoài nước 4

2. Tình hình trong nước 4
III. Cơ sở khoa học: 7
1. Tình trạng SDD và thiếu vi chất DD 7
2. Giải pháp can thiệp 8
3. Vấn đề bổ sung axít amin ở trẻ SDD 8
4. Vấn đề bổ sung vitamin và khoáng chất ở trẻ SDD 10
5. Một số nghiên cứu trong nước 12
IV. Các bước tiếp cận sản phẩm: 13
V. Thiết kế sản phẩm: 15
1. Xây dựng công thức: 15
2. Xác định quy trình công nghệ: 17
3. Xác định các tiêu chuẩn sản phẩm: 17
4. Tóm tắt quy trình công nghệ 18
5. Sơ đồ quy trình công nghệ 21
VI. Kết luận 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
1
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
I. Đặt vấn đề - Ý tưởng
Suy dinh dưỡng thể thấp còi (stunting) là biểu hiện tình trạng thiếu dinh
dưỡng kéo dài ảnh hưởng tới chiều cao. Năm 2006, WHO đã công bố chuẩn tăng

chất dinh dưỡng cho trẻ. Từ đó, chúng tôi đã có ý tưởng nghiên cứu phát triển sản
phẩm dinh dưỡng giàu axít amin và vi chất dinh dưỡng (VIAMINOKID) cho trẻ
dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi.
Hình 1: Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (1999-2011)
3
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
II. Nhu cầu thị trường:
1. Tình hình ngoài nước
Hiện nay, tại châu Á vấn đề thiếu vitamin A, sắt, kẽm, axit folic, canxi và
vitamin D vẫn còn ở mức phổ biến, đại đa số người dân không ăn đủ các chất dinh
dưỡng này. Việc tăng cường các vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm đang là một
chiến lược được các nước sử dụng để giải quyết nạn thiếu vi chất.
Các rối loạn do thiếu vi chất dinh dưỡng không chỉ đơn giản là một vấn đề
của ngành y tế mà còn ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội. Theo ước tính của
Ngân hàng Thế giới năm 1994 thì các rối loạn do thiếu vi chất dinh dưỡng đã làm
tổn thất ít nhất là 5% thu nhập quốc nội.
Giải pháp tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm đã được các nước
phát triển áp dụng để thanh toán tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng cho cộng đồng
đã có từ những năm 40 của thế kỷ trước. Việc tăng cường vitamin A vào bơ thực
vật đã thanh toán được nạn thiếu vitamin A và khô mắt ở các nước Bắc Âu vào
những năm 1990. Hơn nữa, còi xương, hậu quả của thiếu vitamin D vốn cũng rất
phổ biến ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ chỉ được khống chế khi các sản phẩm
sữa và bơ thực vật được tăng cường vitamin A và vitamin D. Những năm gần đây,
việc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm đã và đang được thực hiện tại
nhiều nước trong khu vực. Tại Philippin, việc bổ sung vitamin A vào đường,
margarine, bột mì, thức ăn trẻ em đã được đưa vào luật bắt buộc. Tại Indonesia,
việc bổ sung sắt, axit folic, vitamin A vào bột mỳ đã trở thành chương trình quốc
gia. ở Thái lan việc bổ sung vi chất vào thực phẩm không phải là bắt buộc, nhưng
cũng đến 80% mì ăn liền đã bổ sung vitamin A, sắt và Iốt.
2. Tình hình trong nước

Đối với các dạng thực phẩm và chế phẩm giàu protein và axit amin cũng đã
được tập trung nghiên cứu trong những năm qua.
5
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
Năm 1998, Nguyến Thị Minh Hạnh và cộng sự (viện công nghiệp thực
phẩm) đã tiến hành nghiên cứu ‘Sử dụng enzym để sản xuất bột đạm từ nguyên
liệu thực vật để tạo ra bột đạm đậu tương thuỷ phân ứng dụng làm giò thực vật.
Năm 1999, Nguyễn Văn Hải và cộng sự (Viện Chăn nuôi) đã nghiên cứu sản
xuất viên súp thịt bò, theo công nghệ sản xuất thịt bò tươi, xay mịn, tạo viên, hấp
chín.
Đái Duy Ban và cộng sự (Trung tâm nghiên cứu hoá sinh ứng dụng, Viện Công
nghệ Sinh học) và Lê Văn Khánh và cộng sự (Xí nghiệp dâu tằm tơ Hà Nam Ninh)
nghiên cứu viên thuốc Pluriamin từ nhộng tằm.
Năm 2000, nhóm tác giả Nguyễn Thị Dự, Trần Việt Lan, Thái Thị Hảo,
Nguyễn Thị Dung đã nghiên cứu sản xuất thuốc uống philatop và thuốc viên
polyamin fort từ gan lợn thuỷ phân.
Đứng trước nhu cầu lớn về đạm và axit amin, hàng năm Việt Nam vẫn phải
nhập khẩu một số lượng lớn thuốc gồm nhiều axit amin và đa vi chất để phục vụ
cho việc điều trị một số bệnh như: viêm loét dạ dày, hành tá tràng, các bệnh rối
loạn về gan mật không ăn uống được, nhiễm độc thai nghén, viêm thận, thiếu máu,
các bệnh nhân trước và sau phẫu thuật, mới ốm dậy, trẻ suy dinh dưỡng và người
già suy kiệt.
Như vậy có thể thấy ở Việt Nam, các dạng sản phẩm thực phẩm bổ sung chế
phẩm giàu protein và các đa vi chất dinh dưỡng vẫn là một lĩnh vực chưa được
nghiên cứu nhiều, trong khi nhu cầu sử dụng của người dân là rất lớn. Việc tạo ra
các sản phẩm trong nước có chất lượng tốt, giá thành rẻ sẽ đem lại những hiệu quả
kinh tế lớn và giảm bớt lượng sản phẩm phải nhập khẩu từ nước ngoài hàng năm.
Các sản phẩm bổ sung chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng dành cho
trẻ suy dinh dưỡng, trong đó có suy dinh dưỡng thấp còi cũng rất đa dạng trên thị
trường Việt Nam hiện nay. Từ dạng nước, siro (Mendic Kids, Astymin), cho đến

Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở châu Phi và châu Á còn cao (33,8% và 29,9%,
2005).
2. Giải pháp can thiệp
Các giải pháp can thiệp nhằm phòng chống suy dinh dưỡng chủ yếu tập
trung vào các biện pháp như: tăng lượng dinh dưỡng ăn vào, bổ sung thêm các
vitamin và khoáng chất, giảm bệnh tật cũng như cải thiện điều kiện sống. Trong
đó, việc bổ sung các chất dinh dưỡng, các vitamin và khoáng chất đã và đang được
các nhà khoa học quan tâm. Đối với suy dinh dưỡng thể thấp còi, ngoài việc tăng
cường và đa dạng hóa bữa ăn, việc bổ sung nhóm protein, các axit amin, vitamin
A, vitamin D, kẽm, sắt, canxi… với tỷ lệ thích hợp đã cải thiện đáng kể tình trạng
suy dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển của trẻ tốt hơn, cải thiện tình trạng miễn
dịch và giảm sự mắc một số bệnh tật ở trẻ.
3. Vấn đề bổ sung axit amin ở trẻ suy dinh dưỡng
Axit amin là thành phần chính tạo nên giá trị dinh dưỡng riêng biệt của các
phân tử protein, rất cần cho sự sống. Protein và axit amin cần thiết cho sự tăng
trưởng và phát triển cơ thể, cần thiết cho hoạt động bảo vệ, điều hòa cơ thể. Vai trò
tạo hình này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em đang thời kỳ phát triển, đồng thời là
nguyên liệu thiết yếu để bảo dưỡng và duy trì các tế bào cơ thể. Trẻ không ăn đủ
protein và thiếu axit amin trong khẩu phần sẽ ngừng tăng trưởng, sụt cân, còi cọc;
tiêu hoá kém, cơ thể mệt mỏi và sẽ làm cho hệ thống miễn dịch bị suy yếu, giảm
sản xuất kháng thể, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, viêm đường hô hấp.
Mỗi phân tử protein được cấu tạo từ các acid amin, có tổng cộng 22 loại acid
amin. Mỗi loại protein có thành phần các acid amin nhất định kết hợp theo một
trình tự cũng nhất định, tạo nên tính đặc thù cho loại protein đó. Trong số 22 acid
amin, có 8 acid amin cơ thể không tự tổng hợp được, và bắt buộc phải được cung
cấp từ thực phẩm bên ngoài. Do đó, 8 acid amin này được gọi là acid amin thiết
yếu, gồm có: isoleusine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine,
8
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012

phẩm. Một cách dễ thực hiện khác là có thể bổ sung thêm bằng thuốc bổ có lysine.
Do đó việc bố sung lysine đáp ứng đủ cho nhu cầu của trẻ là rất cần thiết để trẻ
phát triển.
4. Vấn đề bổ sung vitamin và khoáng chất ở trẻ suy dinh dưỡng
Đã có nhiều giải pháp tích cực nhằm làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và thiếu
vi chất dinh dưỡng đối với trẻ em tại các nước đang phát triển, trong đó việc sử
dụng thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ. Các chương trình bổ sung vi chất như
sắt, kẽm, iot, vitamin A, vi tamin D… vào thực phẩm nhằm phòng và chống sự
thiếu hụt vi chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ đã mang lại lợi ích kinh tế và xã hội to
lớn. Trong một nghiên nghiên cứu trên 1134 trẻ em của 4 nước Peru, Nam phi,
Indonexia và Việt Nam được uống viên đa vi chất theo một liệu trình như nhau.
Sau 6 tháng, việc bổ sung đa vi chất hàng ngày đã cho thấy tác dụng trong điều trị
thiếu máu và thiếu sắt, cũng như có tác dụng cải thiện tình trạng thiếu kẽm,
tocopherol, isoflavin và retinol. Trên trẻ em Nam phi được ăn bánh quy bổ sung
sắt, iod, beta- carotene, tỷ lệ thiếu retinol huyết thanh giảm 39.1% xuống 12.2%, tỷ
lệ thiếu máu giảm từ 29.6% xuống 15.6%, tỷ lệ iod niệu thấp giảm từ 97.5%
xuống 5.4%. Tại Pakistan, sản phẩm bột bổ sung kẽm gluconate với liều 5
mg/trẻ/ngày đã làm giảm đáng kể tỷ lệ thiếu kẽm, đồng thời giảm tỷ lệ trẻ bị chết
do tiêu chảy. Hiệu quả của bổ sung dinh dưỡng ngày càng chứng tỏ đây là một
chiến lược bền vững, lâu dài, bao phủ số lượng lớn dân cư với chi phí rẻ, đặc biệt
phù hợp với các nước đang phát triển.
Đối với trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, thường có sự thiếu hụt đa vi chất, kết
hợp thiếu vitamin A, vitamin D, thiếu sắt, thiếu kẽm. Trong các vitamin và khoáng
chất, kẽm là một trong những vi chất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển chiều cao của trẻ. Do đó, hiện nay, ngoài việc bổ sung đa vi chất, các nhà
10
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
khoa học chú trọng việc bổ sung kẽm với liều cao để giải quyết vấn đề suy dinh
dưỡng thấp còi ở trẻ nhỏ.
Vai trò của vi chất kẽm đối với sức khỏe con người đã được các nhà khoa

kẽm vẫn còn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ dưới 5
tuổi trên toàn quốc là 34,1%, đặc biệt ở Tây Nguyên là 45,1 %, Đông Nam Bộ 43,4
%, đồng bằng Bắc Bộ là 23,6% (2008). Theo kết quả nghiên cứu mới đây trên trẻ
em trước tuổi học đường tại vùng nông thôn Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn
Nhiên và cộng sự đã chỉ rõ tỷ lệ thiếu kẽm, selen, magie và đồng lần lượt là 86,9%,
62,3%, 51,9% và 1,7%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới SDD và thiếu vi chất dinh
dưỡng là do độ tuổi này là giai đoạn trẻ có nhu cầu dinh dưỡng cao cho sự phát
tiển thể lực và trí lực, lại diễn ra sự chuyển tiếp về dinh dưỡng (ăn bổ sung, sau đó
là cai sữa và chuyển sang ăn bữa ăn cùng gia đình), chế độ ăn không đáp ứng đủ
nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cả về số lượng lẫn chất lượng. Vì vậy giai đoạn này trẻ
cần được chăm sóc đặc biệt có chế độ ăn hợp lý. Bên cạnh năng lượng khẩu phần,
các chất dinh dưỡng đặc biệt là protein và vi chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự
phát triển chiều cao và cân nặng của trẻ. Thức ăn truyền thống của gia đình tại các
khu vực nghèo thường có hàm lượng dinh dưỡng thấp và không đảm bảo nhu cầu
dinh dưỡng cho trẻ do đó cần có giải pháp phát triển các sản phẩm giàu dinh dưỡng
với giá thành thấp, dựa trên các nguồn nguyên liệu sẵn có.
Nhằm góp phần cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng và thiếu vi chất cho trẻ
em, trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu tác dụng của việc bổ sung dinh
dưỡng lên tình trạng dinh dưỡng và thiếu vi chất của trẻ em Việt Nam. Nghiên cứu
của Lê Thị Hợp cho thấy, sau 6 tháng sử dụng viên đa vi chất, tỷ lệ thiếu máu giảm
rõ rệt, tình trạng thiếu đa vi chất được cải thiện. Tác giả Nguyễn Xuân Ninh và
12
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
cộng sự đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả của sản phẩm siro bổ sung kẽm sắt trên
trẻ em, đã cho thấy sự cải thiện đáng kể tình trạng thiếu kẽm, thiếu sắt của trẻ. Kết
quả tương tự cũng thu được trong một số nghiên cứu khác Trần Thúy Nga, Trần
Thị Huân. Có nhiều dạng thực phẩm bổ sung dinh dưỡng đã được nghiên cứu, ứng
dụng cộng đồng: công thức bột có đậu xanh nảy mầm dùng trong điều trị suy dinh
dưỡng thể teo đét, thức ăn bổ sung giàu Beta caroten phòng chống thiếu vitamin A
và suy dinh dưỡng ở trẻ em, thức ăn bổ sung tăng cường vitamin A và sắt, bánh

phiếu thăm dò đánh giá sản phẩm về các yếu tố như mẫu mã bao bì, tính hòa tan,
hương vị, màu sắc,… Từ những ý kiến đó sẽ được tổng hợp lại và dựa trên cơ sở
đó phát triển sản phẩm mới VIAMINOKID có sự cải tiến phù hợp hơn, đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng.
Bước 2: Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, sản xuất thử với số lượng nhỏ sản
phẩm mẫu. Các mẫu sản phẩm sẽ được thử bằng một hội đồng cảm quan gồm
thành viên là những kỹ sư đã được đào tạo bài bản. Các đánh giá của hội đồng sẽ
được phân tích để lựa chọn ra mẫu mà được đánh giá cao nhất và tiến hành sản
xuất số lượng lớn hơn theo công thức đó.
Sản phẩm sau khi được sản xuất với số lượng lớn hơn sẽ được đem đi đánh giá các
chỉ tiêu cảm quan và kiểm nghiệm các thành phần, đồng thời đánh giá hiệu quả và
sự chấp nhận của đối tượng sử dụng. Các kết quả đánh giá này nếu chưa đạt yêu
cầu thì nhóm nghiên cứu sẽ phải quay trở lại tìm ra lỗi trong quy trình sản xuất để
có những cải tiến phù hợp. Nếu kết quả tốt thì sẽ tiếp tục bước thứ 3.
Bước 3: Đăng ký chất lượng sản phẩm. Sản phẩm sẽ được hoàn thiện và làm thủ
tục hồ sơ để đăng ký chất lượng sản phẩm và quyền sở hữu trí tuệ.
Nhãn hiệu, bao bì được thuê thiết kế cho phù hợp với dạng sản phẩm cốm bổ sung
vi chất nhưng phải có tính nổi trội về hình thức, bắt mắt. Nhà thiết kế đưa ra 5 mầu
14
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
sản phẩm bao bì sau đó được lấy ý kiến của mọi người trong bộ phận phát triển sản
phẩm để phê duyệt.
Bước 4: Chuyển giao công thức, sản xuất trên quy mô lớn và tung ra thị trường.
V. Thiết kế sản phẩm:
1. Xây dựng công thức:
Việc xây dựng công thức cho phù hợp để có được sản phẩm chất lượng ổn định
và có tính cảm quan cao là khâu quan trọng nhất. Một đơn vị sản phẩm dự kiến là
2,5 gram. Trẻ sử dụng 2 đơn vị sản phẩm/ngày. Do đó, dự kiến đáp ứng nhu cầu về
tổng axít amin 50%, riêng lysine đáp ứng 45%, kẽm đáp ứng khoảng 80% đối với
trẻ 2-5 tuổi.

11 Isoleusine 60.44
12 Leucin 90.05
13 Lysine 34.70
16
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
Bảng 2 Thành phần vitamin và khoáng chất trong hỗn hợp bổ sung premix:
TT Thành phần Đơn vị Hàm lượng
1 Vitamin B3 mg/g 19.8
2 Vitamin E mg/g 24.6
3 Sắt mg/g 30.0
4 Selen mcg/g 56.1
5 Vitamin C mg/g 99.0
6 I-ốt mcg/g 297
7 Folic acid mcg/g 446
8 Vitamin D3 IU/g 660
9 Vitamin A IU/g 4,399
10 Vitamin B2 mg/g 1.65
11 Đồng mg/g 1.68
12 Vitamin B6 mg/g 2.01
13 Vitamin B1 mg/g 2.20
14 Vitamin B12 mcg/g 2.88
15 Kẽm mg/g 12.3
2. Xác định quy trình công nghệ:
Qui trình công nghệ để sản xuất sản phẩm dinh dưỡng dạng cốm hiện nay chủ
yếu dựa theo qui trình cơ bản là: 1) trộn các thành phần; 2) tạo khối ẩm và ủ khối;
3) xát hạt; 4) sấy khô hạt.
3. Xác định các tiêu chuẩn sản phẩm:
3.1 Chỉ tiêu cảm quan:
- Hình thức hạt: Màu vàng kem đồng đều, hạt cốm cứng giòn, xốp mịn, tách rời
từng hạt không bị vón cục.

dụng trong chế biến thực phẩm, phù hợp với trạng thái sản phẩm dự kiến.
- Chất điều vị: glucose
- Tá dược độn: Lactose, tinh bột biến tính
- Chất kết dính: PVP (hoặc gelatin)
- Hương liệu: hương sữa (hoặc hương vị gà, hoặc hương vị bò)
4.2. Các thiết bị sử dụng:
18
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
- Cân định lượng
- Máy nhào trộn: 3 kg và 50 kg.
- Rây kim loại
- Máy sấy đối lưu
- Các thiết bị khác
4.3. Tóm tắt quy trình công nghệ:
 Trộn bột kép: các thành phần Premix, Kẽm, Canxi, L-lysine được trộn
riêng với nhau theo nguyên tắc đồng lượng. Sau đó hỗn hợp tiếp tục được trộn
cũng theo quy tắc trộn đồng lượng với các thành phần bột nấm men, tá dược
độn, chất điều vị để đảm bảo tạo được hỗn hợp bột đồng nhất.
 Tạo khối ẩm: Hỗn hợp bột kép được trộn với tá dược dính lỏng trong
thiết bị nhào trộn thích hợp để liên kết các tiểu phân bột vốn có độ tan và khả
năng kết dính khác nhau. Lựa chọn loại tá dược dính, tỷ lệ phối trộn, thiết bị và
thời gian nhào trộn phù hợp để tạo khối ẩm đạt yêu cầu cho xát hạt.
 Ủ khối ẩm: là thời gian cần thiết giúp tá dược dính phân bố hoàn toàn vào
trong khối ẩm. Thời gian ủ khối ẩm rất quan trọng vì nó quyết định trực tiếp tới
quá trình tạo hạt cốm, thời gian và nhiệt độ sấy hạt cũng như chất lượng hạt
cốm. Sau khi trộn được khối ẩm đồng nhất, để khối ẩm ổn định trong thời gian
thích hợp để các tiểu phân bột liên kết lại với nhau và khối ẩm có độ dẻo dính
cần thiết. Thời gian ủ: Dự kiến từ 30 – 60 phút tùy thuộc vào từng khối ẩm khác
nhau.
 Xát hạt: Khối ẩm ổn định được xát qua cỡ rây thích hợp: Dự kiến cỡ rây:

Cân và rây
Sửa hạt
Đóng túi và
hộp
Đóng gói, dán nhãn
In ngày sản xuất và hạn sử
dụng
Thành phẩm
Sơ đồ Qui trình công nghệ sản xuất VIAMINOKID
Kiểm tra độ ẩm
Kiểm tra độ đồng
đều
Kiểm tra số lượng và
cảm quan, chất lượng
Premix, Kẽm, Canxi, L-lysine,
Trộn bột kép
21
Tiểu luận Môn học Phát triển sản phẩm thực phẩm – Đại học Bách khoa HN - Tháng 4 năm 2012
VI. KẾT LUẬN:
Sản phẩm mới là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của doanh
nghiệp. Phát triển sản phẩm mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của
khách hàng. Bên cạnh đó, đổi mới sản phẩm giúp doanh nghiệp tạo sự khác biệt
với đối thủ, phát huy lợi thế cạnh tranh của mình. Tất nhiên việc đổi mới sản phẩm
không thể nằm ngoài mục đích cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
VIAMINOKID là sản phẩm mới tương đối, được phát triển theo nhu cầu của thực
tế là cần đa dạng sản phẩm bổ sung dinh dưỡng phòng chống thiếu vi chất cũng
như cải thiện suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi. Việc thiết kế sản phẩm
được dựa trên cơ sở là các nghiên cứu khoa học về axít amin và các vi chất đặc biệt
là kẽm, nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam. Chi phí để phát

(1): 143–8.
10. Pellett PL, Ghosh S. Lysine fortification: past, present, and future. Food Nutr Bull. 2004
Jun;25(2):107-13.
11. Prasad AS. Impact of the discovery of human zinc deficiency on health. J Am Coll Nutr.
2009;28(3):257-65.
12. Hess SY, Lönnerdal B, Hotz C, Rivera JA, Brown KH. Recent advances in knowledge of
zinc nutrition and human health. Food Nutr Bull. 2009; 30(1 Suppl):S5-11.
13. Bộ Y tế - Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam – NXB Y học, 2007.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status