Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA DU LỊCH – KHÁCH SẠN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BÔ SUNG CỦA KHÁCH SẠN LIÊN
QUAN ĐẾN TỔ CHỨC CƯỚI HỎI – LẤY CÁC KHÁCH SẠN Ở
VIỆT TRÌ - PHÚ THỌ LÀM VÍ DỤ.
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Hoàng Thị Lan Hương
Sinh viên: Nguyễn Hồng Khánh.
Lớp: Du Lịch 48
Mã số sinh viên: CQ483921
Hà nội, 05 – 2010.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
1
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo trường Đại hoc Kinh tế Quốc
dân, khoa Du lịch Khách sạn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến cô giáo TH.S Hoàng
Thị Lan Hương người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá
trình tìm hiểu và nghiên cứu về chuyên đề.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài và những gì có được ngày hôm
nay, tôi không thể quên được công lao dạy giảng dạy và hướng dẫn của các thầy
giáo cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.
Xin được gửi lời cảm ơn và chia sẻ niểm vui này với tất cả các bạn trong
lớp Du lịch 48, khoa Du lịch Khách sạn, trường Đại học Kinh tế Quốc dân –
Những người luôn bên tôi chia sẻ niềm vui, học tập và hoạt động.
Xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ, lãnh đạo khách sạn Hồng Ngọc, khách sạn
Phương Nam, khách sạn Hà Nội đã nhiệt tình chia sẻ thông tin giúp tôi hoàn
thành chuyên đề.
đã học được tại trường, trong đợt thực tập này, tác giả quyết đinh chọn đề tài của mình:
“Giải pháp phát triển dịch vụ bổ sung của các khách sạn liên quan liên quan
đến tổ chức cưới hỏi. Lấy các khách sạn ở Việt Trì – Phú Thọ làm ví dụ”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :
- Vận dụng những kỹ năng, kiến thức đã tích lũy, học hỏi trong quá trình học
tập (kỹ năng giao tiếp, đàm phán, kiến thức về kinh tế, kiến thức marketing, kiến thức
về du lịch, khách sạn…)
- Xác định nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ liên quan đến việc tổ
chức cưới hỏi.
- Đánh giá thực trạng việc tổ chức các dịch vụ bổ sung tại các khách sạn ở Việt
Trì – Phú Thọ liên quan đến tổ chức cưới hỏi.
- Đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bổ sung liên quan đến
tổ chức cưới hỏi tại các khách sạn tại Việt Trì – Phú Thọ.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
- Phong tục, tập quán cưới hỏi của người dân Việt Nam nói chung và của một
số địa phương trên đất nước Việt Nam nói riêng.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Các dịch vụ bổ sung của khách sạn liên quan đến việc tổ chức cưới hỏi.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài :
Vì đề tài tập trung vào nghiên cứu các tập quán, các quy luật về tiêu dùng, cơ sở
lý luận về sản phẩm khách sạn. các phương pháp nghiên cứu của đề tài gồm : phương
pháp luận, phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm, nghiên cứu tình huống , phương
pháp sử lý thông tin. Phương pháp luận : sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng
và lịch sử làm nền tảng của môn học.
Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm : sử dụng các dữ kiện, thông tin thứ
cấp đã được công bố để phân tích, so sánh, khái quát… thực hiện các phán đoán suy
luận.
Nghiên cứu tình huống : quan sát thực tế địa phương.
mãn nhiều nhu cầu hơn và cao hơn của khách hàng và mong muốn của chủ khách sạn
nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu của khách, dần dần khách sạn tổ chức thêm các hoạt
động kinh doanh ăn uống phục vụ nhu cầu của khách hàng. Từ đó các chuyên gia trong
lĩnh vực này thường sử dụng hai khái niệm kinh doanh khách sạn theo nghĩa rộng và
theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch
vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi cho khách. Còn theo nghĩa hẹp kinh doanh khách sạn chỉ
phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ của khách. Nền kinh tế càng phát triển đời sống vật chất con
người ngày càng được cải thiện tốt hơn, con người có điều kiện chăm lo đến đời sống
tinh thần hơn. Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, sự cạnh tranh giữa các
khách sạn nhằm thu hút ngày càng nhiều khách và nhất là những khách có khả năng tài
chính cao đã làm tăng tính đa dạng trong hoạt động của ngành. Ngoài hai hoạt động
chính đã nêu, điều kiện cho các cuộc hội họp, cho các mối quan hệ, cho việc chữa bệnh,
vui chơi giải trí…cũng ngày càng tăng nhanh. Các điều kiện ấy đã làm cho trong nội
dung của khái niệm kinh doanh khách sạn có thêm hoạt động tổ chức các dịch vụ bổ
sung (dịch vụ giải trí, chăm sóc sắc đẹp, giặt là…)
Kinh doanh khách sạn cung cấp không chỉ có dịch vụ tự mình đảm nhiệm mà còn
bán cả các sản phẩm thuộc các ngành và các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân
như: nông nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ
bưu chính viễn thông, dịch vụ vận chuyển, điện, nước…Như vậy, hoạt động kinh doanh
khách sạn cung cấp cho khách những dịch vụ của mình và đồng thời là trung gian thực
hiện dịch vụ tiêu thụ, phân phối sản phẩm của các ngành khác trong nền kinh tế quốc
dân.
Trong kinh doanh khách sạn, hai quá trình: sản xuất và tiêu thụ các dịch vụ
thường đi liền với nhau. Đa số các dịch vụ trong kinh doanh khách sạn phải trả tiền trực
tiếp, nhưng một số không phải trả tiền trực tiếp nhằm tăng mức độ thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng làm vui lòng họ và từ đó làm tăng khả năng thu hút khách và tăng khả
năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ
chăm sóc khách hàng.
Khái niệm kinh doanh khách sạn lúc dầu dùng để chỉ hoạt động cung cấp chỗ
ngủ cho khách trong khách sạn (hotel) và quán trọ. Khi nhu cầu lưu trú, ăn uống cùng
Sản phẩm của doanh nghiệp là tất cả mọi hàng hóa và dịch vụ có thể đem chào
bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người, gây sự chú ý,
kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ.
Đối với một khách sạn thì sản phẩm được hiểu như sau:
Sản phẩm của khách sạn là tất cả những dịch vụ và hàng hóa mà khách sạn cung
cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng kể từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu
tiên để đăng ký buồng cho tới khi tiêu dùng xong và giải tỏa khách sạn.
Nếu xét trên góc độ về hình thức thể hiện ta có thể thấy sản phẩm của khách sạn
bao gồm sản phẩm hàng hóa và sản phẩm dịch vụ:
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
-Sản phẩm hàng hóa là những sản phẩm hữu hình mà khách sạn cung cấp như:
thức ăn, đồ uống, hàng lưu niệm, các hàng hóa khác được bán trong doanh nghiêp khách
sạn. Đây là loại sản phẩm mà sau khi trao đổi thì quyền sở hữu sẽ thuộc về người trả
tiền. Trong số những sản phẩm hàng hóa thì hàng lưu niệm là một loại hình đặc biệt, nó
có ý nghĩa về mặt tinh thần đặc biệt đối với khách là người từ những địa phương khác,
đất nước khác đến. Chính vì vậy, các nhà quản lý khách sạn thường rất chú ý tới việc
đưa những sản phẩm này vào hoạt động kinh doanh của khách sạn.
-Sản phẩm dịch vụ (sản phẩm dưới dạng phi vật chất hay vô hình) là những sản
phẩm có giá trị về vật chất hay tinh thần (hay cũng có thể là một sự trải nghiệm, một
cảm giác về sự hài lòng hay không hài lòng) mà khách hàng đồng ý bỏ tiền ra dể đổi lấy
chúng. Sản phẩm dịch vụ của khách sạn bao gồm hai loại là dịch vụ chính và dịch vụ bổ
sung:
oDịch vụ chính: là dịch vụ buồng ngủ và dịch vụ ăn uống nhằm thỏa mãn nhu
cầu thiết yếu của khách khi họ lưu lại tại khách sạn.
oDịch vụ bổ sung: là các dịch vụ khác ngoài hai dịch vụ trên nhằm thỏa mãn các
nhu cầu thứ yếu trong thời gian khách lưu lại tại khách sạn.
Việc kinh doanh dịch vụ chính đem lại nguồn doanh thu cao cho các khách sạn.
Song để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho khách sạn, các nhà quản lý thường muốn
nó. Để hiểu rõ hơn chúng ta cần biết sản phẩm của khách sạn có những đặc điểm gì?
1.1.2.2 Khái niệm về dịch vụ bổ sung trong khách sạn.
Dịch vụ bổ sung: là các dịch vụ khác ngoài hai dịch vụ chính là lưu trú và ăn
uống nhằm thỏa mãn các nhu cầu thứ yếu trong thời gian khách lưu lại tại khách sạn.
Đối với dịch vụ bổ sung của khách sạn người ta lại chia ra là dịch vụ bổ sung bắt buộc
và dịch vụ bổ sung không bắt buộc. Việc tồn tại dịch vụ bổ sung bắt buộc và không bắt
buộc tùy thuộc vào quy định trong tiêu chuẩn phân hạng khách sạn của mỗi quốc gia.
Điều kiện để dịch vụ bổ sung phát triển là do:
- Thứ nhất: nhu cầu của khách du lịch nói riêng và người dân nói chung ngày
càng nâng cao, họ mong muốn dịch vụ thuận tiện, phong phú.
-Do cạnh tranh giữa các khách sạn ngày càng trở nên gay gắt các khách sạn phải
chứng minh với thị trường về sự hấp dẫn của nó để thu hút khách vì thế nhiều sản phẩm
mới được tạo ra.
-Do quy định về phân hạng khách sạn lên các khách sạn phải đảm bảo đầy đủ các
địch vụ theo quy định và một số dịch vụ không không quy định.
1.1.2.3 Đặc điểm của sản phẩm khách sạn
Với cách tiếp cận trên, sản phẩm của khách sạn gọi là các sản phẩm dịch vụ. Sản
phẩm của khách sạn có những đặc tính của dịch vụ trọn gói. Chúng ta có thể tóm lược
các đặc điểm của sản phẩm dịch vụ của khách sạn trong các đặc điểm: vô hình, không
thể lưu kho cất trữ, tính cao cấp, tính tổng hợp, có sự tham gia trực tiếp của người tiêu
dùng, phụ thuộc vào cơ sở vật chất kỹ thuật.
-Sản phẩm dịch vụ của khách sạn mang tính vô hình. Do sản phẩm của khách sạn
không tồn tại dưới dạng vật chất, không thể nhìn thấy hay sờ thấy cho nên cả người
cung cấp hay người tiêu dùng đều không thể kiểm tra được chất lượng của nó trước khi
bán và trước khi mua. Người ta cũng không thể vận chuyển sản phẩm dịch vụ khách sạn
trong không gian như các hàng hóa thông thường khác, điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến hệ thống kênh phân phối sản phẩm của khách sạn để tiêu dùng dịch vụ. Đây là một
đặc điểm gây khó khăn không nhỏ trong công tác marketing khách sạn. Đồng thời cho
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
8
hàng. Sự hiện diện trực tiếp của khách hàng trong thời gian cung cấp dịch vụ đã bắt
buộc các khách sạn phải tìm mọi cách để kéo khách hàng từ rất nhiều nơi khác nhau đến
với khách sạn để đạt được mục tiêu kinh doanh. Ngoài ra các nhà quản lý còn phải luôn
đứng trên quan điểm của người sử dụng dịch vụ khi thiết kế xây dựng bố trí cũng như
mua sắm các trang thiết bị và lựa chọn cách thức trang trí nội thất bên trong và bên
ngoài cho một khách sạn.
-Sản phẩm của khách sạn chỉ được thực hiên trong những điều kiện cơ bản vật
chất kỹ thuật nhất định. Để có đủ các điều kiên kinh doanh các khách sạn phải đảm bảo
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật. Các điều kiện này hoàn toàn tùy thuộc vào các
quy định cho từng loại, hạng và tùy thuộc vào mức độ phát của hoạt động kinh doanh du
lịch ở đó. ở Việt Nam các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật của một khách sạn phải
tuân theo đúng pháp lệnh du lịch: nghị định của chính phủ về kinh doanh lưu trú và ăn
uống, thông tư hướng dẫn của tổng cục du lịch và thỏa mãn các điều kiện về mức độ
thỏa mãn các điều kiện về mức độ trang thiết bị tiện nghi theo tiêu chuẩn phân hạng
khách sạn của Tổng cục du lịch Việt Nam.
1.2 Tìm hiểu về phong tục cưới hỏi của người Việt
1.2.1 Phong tục cưới hỏi cổ truyền của người Việt
Mỗi địa phương trên đất nước Việt Nam đều có những phong tục nhất định trong
lễ cưới hỏi, nhưng cơ bản vẫn gồm các bước sau:
1.2.1.1. Kén chọn
Lệ xưa việc lấy vợ, gả chồng là việc của cha mẹ, vậy con cái đến tuổi trưởng
thành thì cha mẹ tiến hành kén rể, kén dâu. Kén rể, kén dâu là một công việc tiền hôn lễ
nhưng rất quan trọng. Trước hết là việc xem xét gia đình dự định trở thành thông gia
xem thuộc loại gia đình như thế nào, có môn đǎng hộ đối không? Ca dao cổ có câu:
“Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi” cho bên gái. Lại
có câu: “Lấy vợ kén tông lấy chồng kén giống” cho cả hai bên. Sự kén chọn của nhà trai
bao giờ cũng chủ động nên kỹ càng hơn. Truyện Kiều có một câu:
Sau khi các điều (yêu sách) đã được nhà trai thực hiện, người ta chọn ngày lành
tháng tốt để tổ chức lễ cưới. Trước đó, cả hai nhà đã dựng rạp, sửa sang nhà cửa đón
khách. Hôm cưới, nhà trai chọn một đoàn gồm một người có tuổi (45-50), “con cái đông
đàn dài lũ” còn đủ vợ chồng (song toàn), kiêng người goá vợ, goá chồng, lại giỏi ǎn nói,
đối đáp, làm trưởng đoàn cùng với nǎm đến mười thanh niên trẻ, đẹp, còn “tân” (chưa
vợ) gọi là phù rể, đi đón dâu. Trên đường đến nhà gái, trước khi vào cổng, đoàn đi đón
dâu bị trai làng, trẻ con chặn lại bằng một sợi dây thừng hay đóng cổng lại (gọi là tục
chǎng dây, đóng cổng). Ở đoạn này của lễ cưới thật vui. Nhiều khi bên họ gái ra vế
“đối” bắt bên kia phải “đáp” lại thật chỉnh, thật nhanh mới cho đi. Lại phải tung tiền xu
cho bọn trẻ con mới được vào cổng… Sau khi đã vào đến sân nhà gái đoàn đi đón dâu
được mời vào nhà ngồi chơi trên chiếu cặp điều ǎn trầu, uống nước và sau đó dùng cơm
chiều. Xong xuôi, đại diện nhà trai có “người” xin dâu với họ nhà gái. Nhà gái bao giờ
cũng làm ra vẻ dùng dằng, lần khần và chỉ đồng ý cho dâu đi vào giờ cuối của buổi
chiều. Đoàn đưa dâu của nhà gái cũng gồm những thiếu nữ trẻ và xinh (gọi là các cô
phù dâu), đứng đầu đoàn đưa dâu cũng là một bà có tuổi còn song toàn (còn chồng) và
“mắn” con. Lúc này cả đoàn đón dâu và đưa dâu cùng đi, nên đông vui. Nào ô, nào
khǎn, nào nón thúng quai thao, nào yếm thắm bao xanh, môi trầu “cắn chỉ”. Trang phục
cổ truyền dân tộc xuất hiện phong phú nhất là ở lúc này. Đoàn về đến nhà trai, ở đầu
cổng, pháo đã nổ giòn để đón dâu. Tối đó là lễ tế tơ hồng nguyệt lão, tiên thiên, là lễ
mệnh tiếu (nghe lời cha mẹ dạy bảo). Sau cùng là lễ hợp cẩn. Cô dâu bước qua đống lửa
bước vào buồng mình. Có nơi đặt một cái cối trước cửa buồng khi cô dâu bước qua, mẹ
chồng cầm chày giã vào cối không ba cái. Giường của đôi vợ chồng mới cưới đã được
một người đàn bà có tuổi, nhiều con cái trải chiếu cho, một chiếc sấp, một chiếc ngửa…
Vào giường, cô dâu phải ngồi thật mạnh xuống, trong lúc bạn bè, chú rể đang làm náo
động ầm ĩ cǎn buồng lên một lúc rồi mới đi ra. Sau đó là lễ hợp cẩn: cô dâu chú rể uống
chung một chén rượu nhỏ, có nơi ǎn chung một đĩa cơm nếp, đĩa xôi… tất cả những
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
phong tục đó nhằm mong mỏi có nàng dâu hiếu thảo, sớm có con, vợ chồng hoà thuận
hôn nhưng chưa có lễ nộp cheo thì vẫn chưa được dân làng thừa nhận, còn ngày nay các
đôi bạn trẻ cần phải đi đăng ký kết hôn để pháp luật thừa nhận.
-Do hoàn cảnh sống thay đổi nhiều do đó trong tư duy của mọi người về cưới hỏi
cũng thoáng hơn, hai bên gia đình có thể thông cảm cho nhau để gộp một vài bước lại
với nhau nếu vì lý do nào đó.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
-Đăng ký kết hôn: Kết hôn và đăng ký kết hôn là hai công việc luôn gắn chặt với
mỗi cá nhân khi xây dựng gia đình riêng cho mình, thủ tục đăng ký kết hôn bởi vậy là
một vấn đề rất quan trọng mà mỗi chúng ta phải nắm vững để đảm bảo các quyền và lợi
ích của mình.
Để tiến hành hoạt động đăng ký kết hôn, bạn cần chú ý những vấn đề sau:
Thẩm quyền đăng ký kết hôn (Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP)
- Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc
đăng ký kết hôn.
- Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời
hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu
thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân
cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ.
Thủ tục đăng ký kết hôn (Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP)
- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định)
và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân. Trong trường hợp một người cư trú tại xã,
phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân
Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước
đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại
nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.
- Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng
đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân
Sau lễ chạm ngõ là đến lễ ăn hỏi. Dù là tầng lớp nào thì cũng không thể thiếu
được cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội thì không thể thiếu cốm và hồng. Nếu gia
đình khá giả thì ngoài cốm - hồng và trầu cau còn có thêm lợn sữa quay. Ðồ lễ ăn hỏi
gắn liền với đặc sản của vùng đất Hà Thành, gồm có: bánh cốm, bánh su sê, mứt sen,
chè, rượu, trầu cau, thuốc lá... Dù lễ vật nhiều, ít nhưng không thể thiếu bánh "su sê",
ngày xưa gọi là bánh "phu thê", một số địa phương gọi chệch ra là bánh "su sê" là biểu
tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn. Thông thường lễ ăn hỏi gồm có 3 lễ: lễ
đàng nội, lễ đàng ngoại và lễ tại gia. Lễ tại gia thường được chia ra đưa kèm theo người
được mời cưới.
Thời gian sau khi ăn hỏi đến lễ cưới thông thường là dưới 10 ngày. Lễ rước dâu
ngày xưa có rất nhiều thủ tục, đi đầu đám rước là những người giàu có địa vị trong làng
xã, khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ chăng dây, đầu làng hoặc đầu phố (lễ chăng
dây đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn), muốn đi qua phải đưa một ít tiền. Ăn uống, tiệc tùng
diễn ra trước ngày cưới 1 ngày (bây giờ thường tổ chức ngày trong ngày cưới). Sau khi
Hà Nội đô thị hóa, dân cư tập trung chủ yếu ở trung tâm thành phố, là khu vực 36 phố
phường thì phong tục cưới xin cũng vì thế thay đổi do tiếp thu trình độ văn hóa phương
Tây. Ðám cưới bắt đầu xuất hiện thiệp báo hỷ, khi đưa thiệp mời cưới phải đưa kèm
theo chè và hạt sen (lấy từ lễ ăn hỏi). Ðến nay tục này vẫn còn được giữ lại. Nếu là đám
cưới của những gia đình khá giả, phải có quả phù tang (dùng để đựng đồ lễ, dài từ 80cm
đến 1m) do hai người khiêng, đựng trầu cau, lợn sơn son (tục này vẫn được giữ trước
năm 1945). Sâm banh được mở ra báo hiệu một lễ cưới bắt đầu, rượu sâm banh với
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
14
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
bánh sâm ba là hai thứ không thể thiếu trong lễ cưới của những người phong lưu. Nhưng
dù là người giàu hay nghèo trong đám cưới cũng chỉ dùng tiệc ngọt (không dùng mặn).
Trong khi đón dâu, cô dâu chú rể phải làm lễ gia tiên, lễ này như một sự tưởng
nhớ đến cội nguồn, tổ tiên. Sau lễ thành hôn, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang
theo lễ vật để tạ gia tiên gọi là lễ lại mặt. Lễ này hiện nay một số đám cưới bỏ qua, từ
sau lễ lại mặt bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia, vì trong lễ cưới mẹ cô dâu
cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình bên vợ hoặc bên chồng.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
15
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia đình Huế giảm bớt, bằng cách khi rước dâu, bố cô
gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác xe hoa, và tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà
trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trả lại nhà bố mẹ để thu dọn tư trang về nhà
chồng, bắt đầu cuộc sống làm dâu.
Tính cầu kỳ của người Huế tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không hề có
chuyện ầm ĩ ồn ào thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Trao đổi ngôn từ giữa hai bên
thông gia, giữa bà con thân thuộc đều rất thận trọng. Việc thưa gửi, trình bày của chủ
hôn, bố mẹ hai bên đều rất khuôn sáo và không bỏ sót ai.
Ðặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn
thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ,
không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu phù rể là người chưa có
chồng vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. Một số nhân vật khác cũng được lực chọn tùy
phần nghi lễ phù hợp. Ðơn cử trước ngày cưới đôi tân hôn có thể đưa nhau đi may áo
cưới (nếu gia đình khá giả), thì ngày giờ đi may phải tốt, chủ tiệm may là người còn cả
vợ chồng, nhiều con cái, gia đình hòa thuận. Việc bài trí phòng tân hôn phải do một
người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao
tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận kiểm tra. Người này cũng sẽ têm trầu cau,
bày cặp nến hồng trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng cũng phải
được người này thổi tắt. Số người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Trước khi đi và
khi đón dâu về, nhà trai thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra
đứng đón sẵn để "lấy hên" cho đôi tân hôn.
1.2.3.3.Nam Bộ
Hôn lễ chính cử hành tại gia đình. Vì là lễ điều kiện tiên quyết là trang nghiêm,
sạch sẽ. Vị trí buổi lễ là khu vực thờ tổ tiên, trong nhà, trang trí tùy theo gia đình, phải
có đủ "hương đăng hoa quả".
Họ hàng đàng trai đến, có
1.2.3.4.Phú Thọ
Cũng giống các địa phương khác phong tục cưới hỏi của người Phú Thọ ngày
nay cơ bản cũng gồm ba bước chính.
Lễ chạm ngõ: trong nghi thức này được tổ chức đơn giản hai gia đình thông gia
gặp gỡ chuyện trò với nhau để hiểu gia cảnh của nhau hơn và sau nghi lễ này nếu hai gia
đình đồng thuận thì nhà trai sẽ đi xem và quyết định ngày cưới.
Lễ ăn hỏi: trong nghi lễ này người Phú Thọ có nhiều tên gọi như Thông Qua, ăn
Giạm, ăn Hỏi…nghi lễ này được tổ chức khá long trọng nhà trai nhà gái đều cử ra cho
mình một phái đoàn để thực hiện nghi lễ, trong phái đoàn gồm có trưởng đoàn, phó
đoàn, và các thành viên khác trong đó không thể thiếu các đôi nam thanh nữ tú có nhiệm
vụ đội và nhận lễ vật.
Về lễ vật ăn hỏi ở Phú Thọ nếu ở các vùng nông thôn thì lễ vật chủ yếu vấn là
buồng cau đẹp, và trăm lá trầu được têm hình cánh phượng hoàng còn các vùng đô thị
thì đa số mang lễ bằng trap, thường là từ ba đến năm tráp trong đó một tráp đựng trầu
cau, một tráp đựng trà – rượu – thuốc lá, một tráp đựng bánh xu xê hoặc bánh giầy.nếu
do sự sắp xếp của hai gia đình mà lễ cưới còn lâu mới đến ngày cưới thì lễ vật mang đến
nhiều hơn coi như lễ vật dẫn cưới. Còn nếu ngày cưới được tổ chức ngay sau đó sẽ còn
lễ gánh cưới.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Về nghi lễ ăn hỏi: đến giờ tốt đã được ấn đình trước trưởng đoàn nhà trai dẫn
đoàn đến nhà gái, về phía nhà gái cũng đã chuẩn bị tươm tất để đón tiếp nhà trai. Khi
nhà trai đến cùng lễ vật xin phép gia đình nhà gái nhận lễ ăn hỏi. Nhà gái nhận lễ và
trịnh trọng đặt lễ lên bàn thờ gia tiên, và cũng từ nghi lễ này hai bên gia đình đã thật sự
coi nhau như là thông gia. Sau khi nhà gái đã nhận lễ ăn hỏi nhà trai sẽ có lời xin cưới
và nhận lời thách cưới từ phía nhà gái.Thông thường người Phú Thọ thách cưới bằng
trầu cau. Tiếp tục sau đó nhà trai sẽ thông báo ngày cưới với gia đình nhà gái để hai bên
lên kế hoạch chuẩn bị cho bước sau.
Nếu kể từ thời điểm ăn hỏi đến ngày cưới cách xa nhau thì nhà trai sẽ có thêm lễ
vấn cho khách hàng về những dịch vụ sau:
-Tư vấn trong việc lập kế hoạch cho lễ cưới: Trong giai đoạn này, khách hàng sẽ
được tư vấn về cách để lập kế hoạch cho lễ cưới của mình. Với một bản kế hoạch chi
tiết tỉ mỉ từ khi bắt đầu tới khi kết thúc sẽ giúp khách hàng tránh được những thiếu sót
trong công tác chuẩn bị cũng như tổ chức. Trong giai đoạn tư vấn này, cần xác định các
vấn đề: chi phí tổ chức, địa điểm tổ chức, hình thức tổ chức, các hoạt động trong buổi
lễ, thực đơn…
-Tư vấn trong việc chọn ngày: Đây là một trong những việc đầu tiên mà nhà tư
vấn cần khuyên khách hàng và phải làm trước khi chuẩn bị bất cứ thứ gì. Có được ngày
cưới rồi, chuyên viên tư vấn và khách hàng mới biết mình còn bao nhiêu thời gian để
chuẩn bị cho lễ cưới.
- Tư vấn trong việc dự trù kinh phí: Nhà tư vấn cần xác định được khách hàng có
khả năng chi trả bao nhiêu cho buổi lễ này. Từ đó, nhà tư vấn cùng khách hàng cùng
nhau xây dựng nên một bảng dự trù kinh phí cho phù hợp. Trong quá trình dự trù kinh
phí, nên xác định hai khoản mục: những chi phí cố định và những chi phí có thể phát
sinh. Chi phí cố định bao gồm: thuê phông bạt, địa điểm, chụp hình cưới…Và một cho
những khoản có thể phát sinh thêm: như sẽ tổ chức đi nghỉ tuần trăng mật, những khoản
đột biến có thể xảy ra mà chưa thể tính toán hết được.
-Tư vấn đặt chỗ tại các nhà hàng, khách sạn thông thường: các địa điểm đẹp có
thể chọn làm nơi tổ chức tiệc cưới thường rất đông khách hàng và có thể hết chỗ từ cách
đó vài tháng. Vì vậy, sau khi khách hàng đã có thể ấn định ngày cưới, nhà tư vấn và
khách hàng cùng nhau lựa chọn địa điểm cho phù hợp với kinh phí cũng như hình thức,
tính chất của buổi lễ.
-Tham khảo ý kiến từ gia đình, do đặc tính văn hóa Việt mang nặng tính cộng
đồng, nên mỗi khi ra quyết định cần đưa ra thông báo hay đặt vấn đề với người trên.
Mặc dù, đã được tư vấn tận tình, chi tiết nhưng nhân viên tư vấn cũng cần nhắc nhở
khách hàng nên tham khảo ý kiến thêm từ phía gia đình: chọn những người tin tưởng, và
cũng không nên hỏi nhiều người quá để tránh tình trạng “đẽo cày giữa đường”, phải
nắm rõ được những điều nên và những điều kỵ, tìm hiểu rõ về tục lệ bên thông gia để có
nghi thức phù hợp
tập trung đông người. Việc tiêu dùng thực phẩm với số lượng rất lớn. Nếu thực phẩm
không đảm bảo chất lượng có thể gây ra những “thảm họa” ngộ độc tập thể.
-Nhân viên: Tiệc cưới thường rất đông khách. Vì vậy, lượng nhân viên phục vụ
thường là rất lớn. Tiệc cưới thường tổ chức trong thời gian ngắn, nhưng cường độ công
việc lại rất lớn. Điều này đòi hỏi nhân viên phải thực sự chuyên nghiệp: nhanh nhẹn,
tháo vát, xử lý nhanh các tình huống có thể xảy ra.
1.3.4. Cung cấp phương tiện vận chuyển:
Phương tiện đi lại trong ngày cưới trở thành điều rất quan trọng. Nó không đơn
thuần chỉ là sự tiện lợi mà nó còn thể hiện rất lớn đến đẳng cấp của gia đình. Khi nghiên
cứu cung cấp các phương tiện đi lại trong ngày cưới, chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến
điều này. Đồng thời, cũng nên xem xét đến khoảng cách đi lại, sự khác biệt về sản
phẩm, nhu cầu để đưa ra các sản phẩm cho phù hợp.Các loại phương tiện có nhiều
chủng loại khác nhau, kiểu dáng khác nhau, chất lượng khác nhau.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
20
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Phân loại theo hạng xe: BMW, MERCEDES- BEN,TOYOTA- VIOS,
CAMRY…
- Phân loại theo số lượng chỗ ngồi: xe 45 chỗ, xe 35 chỗ, xe 28 chỗ, 24
chỗ…
- Phân loại theo chủng loại: ô tô, xích lô…
1.3.5. Chuẩn bị tiệc:
Đây có lẽ là nội dung chính, chủ yếu của buổi tiệc. Chất lượng của phần ẩm thực
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh của buổi lễ. Để có thể tổ chức tốt buổi tiệc này, bên
tổ chức cần lưu ý các vấn đề:
- Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý: Cần lên kế hoạch bố trí chỗ ngồi cho khách mời.
Chỗ ngồi cần được đảm bảo vừa tạo ra được không khí ấm cúng của buổi lễ vừa tạo
được sự thuận tiện trong quá trình phục vụ. Chú ý, trong quá trình sắp xếp chỗ ngồi cần
đảm bảo “cô dâu, chú rể” là trung tâm của buổi lễ. Đồng thời, cũng cần phải sắp xếp
những chỗ ngồi hợp lý cho khách VIP.
lượt các khách sạn sau:`
2.1. Khách sạn Phương Nam
2.1.1. Giới thiệu về khách sạn Phương Nam
Khách sạn Phương Nam **
Add: 1948 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
Tel: (84-210) 845 125
Fax: (84-210) 849 997
Số phòng: 27
Khách sạn tọa lạc tại trung tâm thành phố Việt Trì trên khuôn viên rộng lớn và
gồm 3 khu vự riêng biệt là nhà hàng, khách sạn và bar – café. Khách sạn Phương Nam
có khuôn viên đẹp, thoáng đãng đặc trưng nhất là hàng cây lộc vừng cổ thụ nằm dọc
trên con đường dẫn từ khách sạn đến nhà hàng.
Các dich vụ kinh doanh của khách sạn:
- Lưu trú: khách sạn có quy mô nhỏ với 27 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn 2 sao
để phục vụ khách du lịch tham quan Đền Hùng và công tác tại thành phố Việt Trì.
- Ăn uống: nhà hàng được thiết kế đặc sắc theo kiểu nhà sàn, nhân viên
phục vụ khách theo thực đơn. Nhà hàng chủ yếu phục vụ du khách và các hội nghị.
- Bar – cafe: do lợi thế về vị trí bar – cafe của Phương Nam là một trong
những địa điểm hoạt động hiệu quả nhất thành phố, khách hàng sử dụng dịch vụ chủ
yếu là khách công sở bàn chuyện làm ăn, nghỉ giưã giờ.
2.1.2. Các dịch vụ tổ chức cưới hỏi khách sạn Phương Nam đã cung cấp
Khách sạn Phương Nam có rất nhiều lợi thế trong việc phát triển các dịch vụ
cưới hỏi:
- Thứ nhất, địa thế của khách sạn đẹp: nằm tại trung tâm của thành phố Việt Trì.
Khách hàng mục tiêu của dịch vụ cưới hỏi tại khách sạn chủ yếu là những người
có thu nhập tương đối cao trong xã hội. Khách hàng sẵn sàng chi trả cho những
dịch vụ mà họ thấy có chất lượng tốt. Bên cạnh đó, công việc kinh doanh muốn
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
22
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
o Mặc dù đã có đầu tư cho các trang thiết bị để tổ chức dịch vụ cưới nhưng
đểu đã cũ kỹ khu tổ chức tiệc trong phòng bàn ghế xếp ngổn ngang, bụi
bặm.
o Nhà vệ sinh chỉ có một phòng không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong
khi có tiệc lớn.
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
o Chỉ đáp ứng hai dịch vụ cơ bản đó là cho thuê địa điểm và phục vụ tiệc,
không có thông tin cung cấp tư vấn hỗ trợ khách về các dịch vụ khác như
xe cưới, tour nghỉ tuần trăng mật.
o Chưa có bộ phận khai thác thị trường, chỉ có tấm biển nhỏ thông tin về
dịch vụ
2.2. Khách sạn Hà Nội
2.2.1. Giới thiệu về khách sạn Hà Nội
Khách sạn Hà Nội **
Add: 2191 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
Tel: (84-210) 849 950
Fax: (84-210) 849 951
Số phòng: 33
Khách sạn Hà Nội nằm ở phía bắc thành phố Việt Trì, đối diện chợ Gia Cẩm,
được xây dựng và công nhận hai sao từ năm 1996. Khách sạn có tích hơn 700m2 thuộc
quyền sở hữu của CTTNHH Song Phương.
Các dịch vụ cung cấp của khách sạn:
- Lưu trú: khách sạn Hà Nội có 33 phòng đạt tiêu chuẩn 2 sao chủ yếu phục vụ
cho du khách đến tham quan Đền Hùng và công tác tại thành phố.
- Phòng họp, hội nghị: khách sạn Hà Nội có 1 phòng hội nghị có sức chứa
khoảng 80 người được lắp đặt đầy đủ các trang thiết bị như máy chiếu, hệ thống loa,
bàn…
- Sàn giao dịch chứng khoán Apec: sàn hoạt động giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 6.
được phục vụ.
- Các dịch vu theo yêu cầu khác: nếu khách hàng có yêu cầu sử dụng thêm dịch
vụ như thuê xe hoa, ban nhạc…sẽ được khách sạn phục vụ và tính thêm phí phục vụ.
Nhận xét về các dịch vụ tổ chức cưới hỏi của khách sạn Hà Nội:
- Ưu điểm: Cơ sở vật chất của khách sạn liên quan đến tổ chức cưới hỏi đã có
sự đầu tư như về hội trường, bàn ghế, bát đĩa được đầu tư mới cùng với hệ thống âm
thanh công suất lớn. Thực đơn tham khảo cho khách hàng được trang trí đẹp, các món
ăn trong thực đơn đa dạng.
- Nhược điểm:
o Do nhà hàng Hương Biển và khách sạn cách xa nhau khoảng 4 km lên trong
hoạt động hỗ trợ nhau gặp khó khăn,
o Địa điểm tại khách sạn có không gian hẹp tổ chức tiệc tại nhiều phòng tạo ra
sự bất tiện.
o Chưa có được kịch bản cụ thể cho lễ cưới.
o Không có khả năng tư vấn khách hàng về các nhà cung cấp dịch vụ cần thiết
khác.
2.3. Khách sạn Hồng Ngọc
2.3.1. Giới thiệu về khách sạn Hồng Ngọc
Khách sạn Hồng Ngọc **
Add: 1482 Đại lộ Hùng Vương, Tp. Việt Trì, Phú Thọ
Tel: (84-210) 844 513
Fax: (84-210) 844 512
Sv thực hiện: Nguyễn Hồng Khánh
25