KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM - Pdf 26

CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
I – Khái quát về xuất khẩu lao động
Để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, trước hết em xin được đề cập
các khái niệm liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động.
1, Khái niệm :
1.1 Lao động : Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người
nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên, để phù hợp với lợi ích của mình. Lao
động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động
và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Thành quả do con người tạo ra trong quá trình lao động để nuôi sống
bản thân họ, gia đình họ và đảm bảo sự tồn tại của xã hội. Lao động có năng
suất, chất lượng đem lại hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của
đất nước. Vì vậy lao động có một vị trí vô cùng quan trọng và không thể
thiếu được trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, một quốc gia nào. Mỗi con
người đến độ tuổi lao động, có khả năng lao động đều mong muốn và có
quyền được lao động để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình và làm giàu
cho xã hội.
1.2 Sức lao động : Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong
quá trình tạo ra của cải xã hội, phản ánh khả năng lao động của con người, là
điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội.
1.3 Nguồn lao động : Là một bộ phận của dân cư bao gồm những
người trong độ tuổi lao động, không kể số người mất khả năng lao động và
những người ngoài độ tuổi lao động (trên hoặc dưới tuổi lao động) nhưng
thực tế có tham gia lao động. (Nước ta độ tuổi lao động quy định từ 15-55
đối với nữ và 15-60 đối với nam).
3
1.4 Thị trường lao động : Thị trường là một phạm trù riêng của kinh tế
hàng hoá. Thị trường là nơi diễn ra trao đổi hàng hoá dịch vụ. Nội dung của
thị trường được biểu hiện qua hai nhân tố có quan hệ mật thiết với nhau :

bị chi phối phong tục, tập quán, tôn giáo, văn hoá của các quốc gia tham gia
vào lĩnh vực này.
4
Có hai hình thức xuất khẩu lao động là :
- Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (LHQ dùng khái
niệm di dân quốc tế) : là hình thức đầu tư lao động sống ra nước ngoài nhằm
thu hút thu nhập quốc dân từ nước ngoài về cho đất nước.
- Xuất khẩu lao động tại chỗ: Theo luật Đầu tư nước ngoài của nước
ta, là hình thức đầu tư lao động sống ở trong nước để thực hiện giá trị sức
lao động cho mình đối với nước ngoài.
Trong nội dung khoá luận này, em chỉ xin đề cập đến hình thức
xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
2, Nguyên nhân hình thành và phát triển xuất khẩu lao động
Trong tác phẩm "Phép biện chứng tự nhiên", F. Ăng - ghen viết :
"Con người sống lan rộng ra tất cả những nơi nào có thể được và người là
loại động vật duy nhất làm được điều đó một cách độc lập, tự chủ". Ngay từ
buổi bình minh của loài người đã xuất hiện sự di chuyển của nguồn lao động
đến những miền đất tốt đẹp hơn. Như vậy, sự di cư lao động quốc tế thể hiện
tính tất yếu và tác dụng tiến bộ của lịch sử. Chính sự phân bố không đồng
đều về dân cư, về điều kiện tự nhiên (tài nguyên, khí hậu) và sự bùng nổ dân
số trên thế giới đã hình thành luồng di cư lao động ở những nước kinh tế
chậm phát triển di cư đến những nước có đời sống kinh tế khá hơn, lao động
ở nước nghèo tài nguyên di chuyển đến những nước có điều kiện thiên nhiên
thuận lợi, dân cư ở nước có mật độ cao di chuyển đến những nước có mật độ
dan cư thấp. Như vậy việc di chuyển lao động trước hết là một hiện tương
khách quan trong quá trình làm việc của bản thân người lao động.
Ngoài ra, xuất khẩu lao động còn bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan
khác như : chính sách của quốc gia, ý chí của nhà nước, của các tổ chức
cung ứng và tiếp nhận lao động...
Phân tích cụ thể, ta thấy có những nguyên nhân sau đây :

lý do này mà nhiều người dù không thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn
muốn đi xuất khẩu lao động để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống bản
thân và gia đình.
Thứ năm, do xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, lực lượng sản
xuất phát triển, nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới
quốc gia mà mở rộng ra nhiều nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc
tế. Hơn nữa, việc tăng cường xuất khẩu công nghệ, bao thầu công trình quốc
tế sẽ tất yếu kèm theo việc phát triển xuất khẩu lao động
6
II – Tình hình xuất khẩu lao động tại Việt Nam
1, Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu lao động tại Việt Nam
Cùng với việc giải quyết việc làm trong nước, hoạt động xuất khẩu lao
động có vị trí quan trọng. Nó là hoạt động đặc thù nhằm đạt kết quả tổng
hợp về kinh tế xã hội. Nhà nước ta đã xác định : "Đưa lao động đi làm việc
có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho
người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách và góp phần tăng
cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam
với các nước sử dụng lao động Việt Nam.
a, Xuất phát từ vấn đề kinh tế.
Các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu thị trường lao động khu vực
và quốc tế đều nhận thấy một điều nổi bật, rõ ràng là: Một số nước công
nghiệp phát triển cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Italia... lẫn một số nước mới
phát triển như Thailand, Malaisia, Philipine... ngay từ đầu, khi nền kinh tế
còn chưa phát triển đều biết sử dụng một phương tiện đầy hiệu quả, đó là
xuất khẩu lao động. Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế (ILO),
khoản thu nhập của người lao đông của nước ngoài mỗi năm đạt tới 65,5
USD, trong khi đó hàng năm tổng các khoản viện trợ chính thức (ODA) chỉ
đạt mức 51 tỷ USD. Người đi làm việc ở nước ngoài thường có mức thu
nhập bình quân cao hơn trong nước từ 6 đến 10 lần. Chênh lệch về thu nhập
là nguyên nhân khiến nhiều nước tận dụng mọi thời cơ đưa lao động đi làm

vạn bộ đội phục viên, lao động dôi dư ở khu vực Nhà nước... Trong những
năm qua, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó có việc giải quyết việc làm
trong nước; tuy nhiên so với số lượng lao động cần giải quyết việc làm hàng
năm cũng chỉ đạt 35% nhu cầu. Chính vì vậy, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
lao động là một trong những giải pháp vô cùng quan trọng, không chỉ trước
mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Nhu cầu việc làm càng ngày càng lớn mà khả năng giải quyết còn rất
hạn chế trong khi tiềm năng phát triển kinh tế, tạo việc làm lớn song lại chưa
được khai thác và phát huy, chưa gắn được lao động với tiềm năng đất đai và
tài nguyên.
Mâu thuẫn giữa lao động và việc làm càng gay gắt khi đổi mới cơ cấu
kinh tế, tổ chức lại lao động cho phù hợp với cơ cấu mới của nền kinh tế tất
yếu dẫn đến việc đẩy lao động tách khỏi việc làm cho một bộ phận lớn lao
động trở nên dư thừa, trước hết ở khu vực Nhà nước, các hợp tác xã tiểu thủ
công nghiệp... Trong các năm qua, lao động khu vực Nhà nước dư thừa
khoảng 30%-50%, tương đương 1 triệu người. Mâu thuẫn trong bản thân vấn
đề việc làm vừa là vấn đề kinh tế xã hội cơ bản lâu dài có tính chiến lược, lại
8
vừa là vấn đề cấp bách trước mắt như đối tượng thanh niên mới lớn, lao
động thôi việc từ khu vực Nhà nước, bộ đội xuất ngũ, gia đình chính sách xã
hội... Không giải quyết được vấn đề việc làm thì sẽ nảy sinh các vấn đề xã
hội trầm trọng dẫn đến mất an toàn xã hội, thậm chí mất ổn định chính trị.
Chính từ những mâu thuẫn trên chúng ta thấy việc phát triển xuất
khẩu lao động như là một trong các hướng giải quyết việc làm, có tầm quan
trọng to lớn và cần thiết đối với đất nước ta hiện nay.
c, Xuất phát từ vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xuất khẩu lao động mang lại một nguồn ngoại tệ mạnh cho đất nước
góp phần tăng nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá.

Việt Nam bắt đầu đưa chuyên gia và lao động đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài từ năm 1980. Từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới về cơ chế
quản lý kinh tế chung của đất nước, cơ chế xuất khẩu lao động của ta cũng
đã qua nhiều lần thay đổi, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và
quan hệ quốc tế của ta trong từng thời kỳ. Đánh giá chung, có thể nói công
tác xuất khẩu lao động của ta đã đạt được những yêu cầu cơ bản trong mục
tiêu đặt ra và góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam có thể chia thành hai thời
kỳ.
a, Thời kỳ hợp tác lao động quốc tế theo cơ chế bao cấp (1980-1990).
Thời kỳ này, lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu, gồm : Liên Xô (cũ), Cộng hoà dân chủ Đức (cũ),
Tiệp Khắc (cũ) và Bungari. Một bộ phận công nhân xây dựng với số lượng
đáng kể được đưa đi làm việc ở Irăc, Liby, Angiêri cùng với một số chuyên
gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc tại nhưng
nước Châu Phi khác (Ăng - gô - la, Mô - zăm – bich, Công – gô, Y- ê –men,
Madagasca...).
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, khi đó nước ta là thành viên của
Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) nên hoạt động xuất khẩu lao động mang
tính chất hợp tác lao động, giúp đỡ lẫn nhau : bạn cần lao động để bù đắp sự
thiếu hụt lao động trong phát triển kinh tế đất nước; ta cần bạn giúp đào tạo
và nâng cao tay nghề cho người lao động và giải quyết việc làm cho bộ phận
lao động này. Nền kinh tế nước ta, đặc biệt là kinh tế đối ngoại, liên kết chặt
chẽ với các nước thành viên khác của SEV, cơ chế quản lý kinh tế của ta
cũng tương tự như cơ chế quản lý của các nước đó mang tính quản lý tập
trung, bao cấp.
10
Các nước như Irăc, Liby và các nước Châu Phi đón nhận lao động và
chuyên gia của Việt Nam cũng đều có cơ chế quản lý tương tự.

* Xây dựng và sản xuất vật liệu XD
* Nông, lâm nghiệp
* Các ngành khác
7.200
280.906
261.605
19.301
71.077
117.432
8.329
3.542
64.247
6.160
10.119
( Nguồn : Bản tin Việc làm ngoài nước - Số 6/1999)
11
Như vậy, hơn 10 năm hợp tác lao động với nước ngoài (1980 -1990)
ta đã thu được những kết quả đáng kể, song cũng còn một số tồn tại do hoàn
cảnh lịch sử lúc bấy giờ, do sự thiếu kinh nghiệm cũng như chưa có nghiệp
vụ chuyên môn và đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động này. Nhưng
chính từ đây chúng ta đã rút ra được những bài học kinh nghiệm vô cùng
quý báu để phát triển hoạt động xuất khẩu lao động cho giai đoạn sau.
b, Thời kỳ xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường (1991 – 6/2003)
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu tiếp nhận lao động của ta đều xảy ra những biến động chính
trị lớn, dẫn đến sự thay đổi về thể chế chính trị và cơ chế kinh tế; ở nhiều
nước Châu Phi có chuyên gia ta làm việc cũng có khủng hoảng kinh tế,
chính trị; ở Irăc xảy ra chiến tranh. Vì vậy, phần lớn các nước này không còn
nhu cầu nhận tiếp lao động và chuyên gia Việt Nam, hoặc nếu có nhu cầu thì
cũng không nhận lao động và chuyên gia theo cơ chế như trước đây nữa.

thống xuất khẩu lao động và từng bước hoà nhập thị trường lao động quốc
tế. Cho đến nay, chúng ta đã tiếp cận và thâm nhập được vào thị trường lao
động thuộc trên 40 nước và khu vực trên thế giới như khu vực Đông và
Đông Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi; ngoài ra ta đang từng bước mở rộng thị
trường lao động đến một số đảo Nam Thái Bình Dương và khu vực Bắc Mỹ.
Số lượng lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài tăng
nhanh qua các năm kể từ năm 1994, có giảm đáng kể vào năm 1998 do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á nhưng lại đặc biệt
tăng mạnh từ thời điểm năm 1999 trở lại đây. Trong vòng hơn 12 năm qua,
Việt Nam có xấp xỉ 1/4 triệu người đi xuất khẩu lao động. Đặc biệt trong 6
tháng đầu năm 2003 ta đã đưa được 43.000 người đi xuất khẩu lao động, gần
bằng con số 46.122 người của cả năm 2002. Dự kiến trong năm nay ta sẽ
đưa được 5 vạn lao động và chuyên gia ra nước ngoài làm việc.
Bảng 2. Số liệu lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
(1991 - 06/2003)
Năm Số lượng (người)
1991 1.022
1992 816
1993 3.960
1994 9.230
1995 10.050
1996 12.660
1997 18.470
1998 12.240
1999 21.810
2000 31.500
2001 37.000
2002 46.122
06/2003 43.000
Tổng số 247.880

chi phí sinh hoạt ngoài nước) bình quân đầu người khoảng 350USD/người.
Như vậy, với gần 250.000 lao động đã đưa đi, trung bình mỗi hợp đồng làm
việc là là 2 năm thì tổng số tiền được chuyển về cho đất nước ước tính
khoảng 2,8 tỷ USD. Chỉ tính riêng trong năm 2001, tổng số tiền lao động
Việt Nam làm việc ở nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau gửi về
nước đã đạt 1,3 tỷ USD. Đó là khoản thu lớn góp phần tăng nguồn thu ngoại
tệ cho đất nước, phục vụ thiết thực cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nước nhà.
14
Tuy nhiên cần nhận thấy hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta
cũng còn nhiều bất cập, nhiều tồn tại cần khắc phục. Đầu tiên phải kể đến
công tác quản lý xuất khẩu lao động chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu
thực tế. Chưa tạo được sự phối hợp đồng bộ giữa các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động với các cơ quan chức năng trong việc quản lý và chỉ đạo triển
khai thực hiện các hợp đồng lao động. Việc tuyển chọn và làm thủ tục cho
lao động dù đã có sự cải thiện nhiều trong những năm qua nhưng hiện vẫn
còn qua rất nhiều khâu trung gian nên người lao động phải mất nhiều thời
gian và chi phí bất hợp lý. Cá biệt vẫn có tình trạng lừa đảo, thu tiền bất
chính từ người lao động. Thêm vào đó, công tác đào tạo chuẩn bị nguồn lao
động trước khi đi cũng như quản lý lao động tại nước đến chưa được sự
quan tâm đúng mức từ phía doanh nghiệp, lao động trình độ tay nghề, trình
độ ngoại ngữ còn yếu, ý thức chấp hành nội quy và pháp luật nước sở tại rất
kém, dẫn đến tình trạng tỷ lệ lao động phá hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài làm
việc hay bị trả về nước do không đạt yêu cầu còn cao. Đây là những vấn đề
bức thiết mà chúng ta cần phải khắc phục và phải khắc phục nhanh để hoạt
động xuất khẩu lao động của nước ta thực sự đạt đến hiệu quả kinh tế - xã
hội tương xứng với tiềm năng và cơ hội của mình.
III – Vị trí, vai trò của khu vực thị trường các nước Đông và Đông Nam Á
đối với hoạt động xuất khẩu lao động nước ta.
1, Các thị trường xuất khẩu lao động hiện nay của nước ta.

lao động nào tại thị trường này.
b, Khu vực thị trường Châu Phi :
Ở Châu Phi có một số quốc gia có nhu cầu nhận lao động nước ngoài.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ta chủ yếu chỉ đưa lao động sang
Libya. Đây là thị trường tiếp nhận lao động tương đối ổn định của ta. Cho
đến nay, bằng hình thức cung ứng trực tiếp và cung ứng qua nước thứ ba, ta
đã đưa được trên 10.000 lượt lao động sang Libya làm việc trong lĩnh vực
xây dựng. Song do mức lương ở đây không cao (150 -200 USD/tháng), điều
kiện làm việc và sinh hoạt lại hết sức khắc nghiệt nên thị trường gần đây
không tỏ ra hấp dẫn người lao động.
Ngoài ra, tại một số nước Châu Phi khác tuy có tỷ lệ lao động cao
nhưng vẫn có nhu cầu nhận nhiều lao động nước ngoài cho các công trình
xây dựng. Các doanh nghiệp ta có khả năng đưa được số lượng lớn lao động
thông qua các công ty quốc tế thắng thầu ở khu vực này.
16
Bên cạnh đó, ta còn đưa một số chuyên gia nông nghiệp, y tế và giáo
dục sang các nước như Angola, Mozambique... nhưng với số lượng không
nhiều và không thường xuyên.
c, Khu vực thị trường trên biển :
Hiện nay, nhu cầu của thị trường thế giới đối với lao động trên biển
còn rất lớn. Trong thời gian qua, ta đã đưa được trên 26 nghìn lượt sĩ quan,
thuyền viên tàu vận tải, thuỷ thủ đánh bắt cá đi làm việc trên biển. Trong đó
hiện có trên 2.000 người đang làm việc trong các đội tàu của Hàn Quốc,
Nhật Bản, Na Uy, Đài Loan, Singapore và các nước khác. Tuy nhiên trên
thực tế lao động của ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các chủ tàu cả về
số lượng và chất lượng.
d, Khu vực thị trường Đông và Đông Nam Á :
Đây là khu vực thị trường chính mà em muốn đề cập đến trong khoá
luận tốt nghiệp này. Khu vực này chính xác hơn có thể chia thành hai nhóm
thị trường nhỏ hơn là : nhóm thị trường Đông Á (bao gồm Hàn Quốc, Nhật

Châu Phi 12.695 5,12
Trung Đông 2.927 1,18
Các thị trường khác 12.156 4,9
Tổng số 247.880 100
(Nguồn : Tổng hợp số liệu báo cáo Cục Quản lý lao động với nước ngoài)
Số lao động Việt Nam đã và đang làm việc tại các thị trường thuộc
khu vực này chiếm đến 78,08% trong tổng số 247.880 lao động ta đã đưa đi
làm việc ở nước ngoài trong vòng hơn 10 năm qua; trong khi đó, các khu
vực thị trường khác nhiều nhất cũng chỉ chiếm đến trên dưới 10%. Có thể
thấy rõ đây là khu vực thị trường tập trung lao động đi xuất khẩu số một của
nước ta hiện nay.
Là khu vực thị trường có nhiều lao động Việt Nam sinh sống và làm
việc nhất, đây cũng đồng thời là khu vực cung cấp nguồn kiều hối lớn nhất
của ta. Năm 2002, lao động Việt Nam tại các thị trường này chuyển về nước
khoảng 1,2 tỷ USD, chiếm 80% trong tổng số 1,5 tỷ USD kiều hối mà ta
nhận được trong cả năm.
Thứ hai, khu vực thị trường này tiếp nhận lao động của ta với cơ cấu
rất đa dạng, bao gồm cả lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật và chuyên
gia trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Chính khu vực thị trường này
18
đã giữ vai trò chủ yếu tạo nên tính đa dạng trong lĩnh vực xuất khẩu lao
động của ta.
Trong số lao động Việt Nam đưa sang các nước Đông và Đông Nam
Á, lượng lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, lên đến 70%, chủ yếu là lao
động tại các vùng nông thôn. Trong bối cảnh tình trạng thất nghiệp ở nông
thôn Việt Nam còn tương đối phổ biến như hiện nay, như vậy khu vực thị
trường Đông và Đông Nam Á đã góp phần quan trọng để giải quyết vấn đề
trên thông qua con đường xuất khẩu lao động. Nhiều lao động phổ thông qua
quá trình làm việc tại đây, ngoài việc có được thu nhập đáng kể còn có điều
kiện học hỏi để trở thành lao động có nghề.

Ngoài ra, triển vọng còn thể hiện ở một số thị trường tiếp nhận lao
động nước ngoài có tiếng khác trong khu vực Đông và Đông Nam Á như
Singapore hay Bruney. Tuy trước mắt những thị trường này vẫn chưa chính
thức tiếp nhận lao động của ta (trừ một số ít y tá sang Singapore) song chính
phủ ta đang nỗ lực tiến hành nhiều hoạt động tích cực nhằm xúc tiến tiếp cận
tìm cách đưa lao động của ta sang đây.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ĐÔNG VÀ ĐÔNG NAM Á
I – Vài nét về thị trường các nước Đông và Đông Nam Á
1, Thị trường Nhật Bản :
Nhật Bản là một quốc đảo với diện tích 377.682 km2, dân số
127.100.000 người, nền kinh tế đứng thứ ba trên thế giới. Với dân số có tỷ lệ
người già đã quá tuổi lao động chiếm đến 30% dân số và một nền kinh tế
phát triển như vậy, nhu cầu về lao động nước ngoài của Nhật Bản là rất lớn.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại được các chuyên gia quốc tế nghiên cứu về xuất
khẩu lao động coi là một nước có chính sách đóng cửa với lao động nước
ngoài. Trong Luật kiểm tra về người nhập cư và di tản của Nhật Bản được
phê chuẩn năm 1990 đã quy định không được tuyển dụng lao động người
nước ngoài không nghề vào Nhật Bản, chỉ cho phép tuyển dụng những
chuyên gia có trình độ và những lao động đặc biệt lành nghề từ các quốc gia
khác. Song cũng từ đầu những năm 90, Nhật Bản đã đưa ra chính sách tiếp
nhận lao động từ các nước đang phát triển sang Nhật Bản tu nghiệp nâng
cao tay nghề theo "Chương trình tu nghiệp và thực tập kỹ thuật" tại các xí
nghiệp vừa và nhỏ với số lượng hàng năm khoảng 50.000 người, người lao
động được gọi là "tu nghiệp sinh". Theo quan điểm của các nhà hoạch định
20
chính sách Nhật Bản, đây là một biện pháp chuyển giao công nghệ cho các
nước đang phát triển, cũng là giảm số lượng lao động nước ngoài bất hợp
pháp tại đây, đồng thời đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vừa

biệt yêu cầu rất cao về tính kỷ luật của lao động; thêm vào đó thủ tục xin
visa nhập cảnh rất phức tạp và tốn nhiều thời gian, chi phí cho các khâu
trung gian, đặt cọc... rất cao (từ 8.000 – 10.000 USD). Do vậy, việc đưa tu
nghiệp sinh Việt Nam sang làm việc tại Nhật Bản cần có sự nỗ lực rất cao
cả từ phía người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
21
Tuy nhiên, ở thị trường Nhật Bản cũng giống như ở thị trường Hàn
Quốc, phát sinh vấn đề tu nghiệp sinh nước ngoài tự ý bỏ hợp đồng, đi làm
việc tại doanh nghiệp khác có mức lương cao hơn và tu nghiệp sinh các
nước sau khi hết thời hạn làm việc không chịu về nước, trốn ở lại Nhật Bản
làm việc bất hợp pháp. Hiện tượng này tạo nên rất nhiều phức tạp về mặt xã
hội ở Nhật Bản. Tỷ lệ tu nghiệp sinh nước ngoài bỏ hợp đồng và trốn ở lại
làm việc cao là vấn đề đau đầu của cả giới chức Nhật Bản lẫn các nước phái
cử. Áp dụng các biện pháp hữu hiệu để giảm được tỷ lệ này chính là một
trong những vấn đề mấu chốt để nâng cao sức cạnh tranh của lao động nước
ta tại thị trường này.
2, Thị trường Hàn Quốc :
Hàn Quốc nằm ở khu vực Đông Á mà chính xác hơn là ở Đông Bắc
Á, diện tích 99.600 km2, dân số 48.800.000 người. Hàn Quốc là một nước
công nghiệp phát triển với nền công nghệ điện tử cao dựa trên hàm lượng
cao về khoa học và công nghệ. Nền kinh tế Hàn Quốc đạt tỷ lệ tăng trưởng
cao bắt đầu từ thập niên 60 và trong vòng 25 năm kể từ năm 1967 đến 1991,
giá trị GNP của Hàn Quốc đã tăng 7,3 lần.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu sử dụng lao động cũng
ngày một tăng mạnh. Hơn thế nữa mức tiền lương của người lao động Hàn
Quốc cũng tăng cao nhanh chóng. Những điều này đã khiến cho lao động
Hàn Quốc có sự lựa chọn chỗ làm việc. Họ từ chối làm việc ở những chỗ
lương thấp hoặc trong những ngành thuộc khu vực 3D (dangerous, dificult,
dirty – nguy hiểm, khó khăn và độc hại) mà chuyển sang các ngành dịch vụ,
văn phòng hay kỹ thuật cao. Tình hình đó đã khiến Hàn Quốc phải đối phó

từ năm 2000 – 2002, có đến 23,2% thí sinh tham dự kỳ thi sát hạch này
không đỗ, nhiều người đã trốn khỏi hợp đồng, ở lại bất hợp pháp ở Hàn
Quốc. Chính sách mới đưa ra một mặt để bảo vệ quyền lợi của người lao
động nước ngoài, mặt khác cũng để phần nào ngăn ngừa tình trạng tu nghiệp
sinh trốn bỏ hợp đồng vốn đã quá nghiêm trọng ở Hàn Quốc.
Về thu nhập của tu nghiệp sinh kỹ thuật tại Hàn Quốc, trong thời kỳ
đầu, KFSB quy định mức lương cho tu nghiệp sinh nước ngoài theo từng
quốc tịch (cao nhất là tu nghiệp sinh Trung Quốc, sau đó đến Phillipines,
Việt Nam đứng thứ 3). Nhưng sau này, do nhiều vấn đề phát sinh, chính phủ
Hàn Quốc quy định cho mọi tu nghiệp sinh nước ngoài được hưởng mức
lương tối thiểu của Hàn Quốc. Mức lương tối thiểu này thường xuyên được
điều chỉnh qua từng thời kỳ, hiện nay vào khoảng 480 USD/tháng. Khi
chuyển qua chế độ lao động, lương bình quân của người lao động có thể đạt
từ 600 – 700 USD/tháng, trên thực tế người lao động còn có mức thu nhập
cao hơn thế nhiều do có thời gian làm thêm giờ.
Chương trình tu nghiệp sinh kỹ thuật thực hiện từ năm 1993 đến nay
với tổng chỉ tiêu 130.000 người được phân bổ cho các quốc gia phái cử.
Hiện nay có tất cả 15 nước Châu Á tham gia vào chương trình này của Hàn
Quốc, trong đó nước có số lượng tu nghiệp sinh lớn nhất là Trung Quốc với
chỉ tiêu 30.790 người, chiếm 23,7%; thứ hai là Indonesia với chỉ tiêu 22.480
23
người, chiếm 17,3%; Việt Nam đứng thứ 3 với chỉ tiêu 18.770 người chiếm
14,4%.
Vấn đề nổi cộm nhất với thị trường Hàn Quốc hiện nay là tình trạng
lao động bất hợp pháp. Số lao động bất hợp pháp này - bao gồm những lao
động nước ngoài nhập cư bất hợp pháp vào Hàn Quốc và các tu nghiệp sinh,
lao động trong khuôn khổ Chương trình tu nghiệp sinh kỹ thuật bỏ hợp đồng
trốn ra ngoài tìm việc làm có thu nhập cao hơn trở thành lao động nước
ngoài bất hợp pháp – đã gia tăng đến con số báo động. Theo công bố của
chính phủ Hàn Quốc, đến cuối tháng 10/2002, trong số 603.294 người nước

Không giống như Nhật Bản, Hàn Quốc tuyển dụng lao động nước
ngoài theo quy chế tu nghiệp sinh, Đài Loan có chính sách nhận lao động
nước ngoài chính thức (ký hợp đồng lao động chính thức), có hệ thống luật
lệ và quy chế tương đối rõ ràng và chặt chẽ với lao động nước ngoài. Từ đầu
những năm 90, Đài Loan đã nhận lao động từ 4 nước Thái Lan, Philippines,
Malaysia và Indonesia, đến cuối năm 1999 tiếp nhận thêm lao động Việt
Nam. Khởi đầu quy mô lao động nước ngoài bị chính quyền giới hạn khoảng
15.000 người/năm. Những năm gần đây, con số này được nâng lên và dao
động trong khoảng 240.000 đến trên dưới 300.000 người/năm. Theo số liệu
của Uỷ ban lao động Đài Loan (CLA), tính đến cuối tháng 5/2003 số lượng
lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan là 301.780 người, trong đó : Thái
Lan : 110.782 người (chiếm 36.7%); Indonesia : 79.777 người (chiếm
26,44%); Philippines : 71.516 người (chiếm 23,7%); Việt Nam : 36.675
người (chiếm 13,15%), Malaysia : 30 người (chiếm xấp xỉ 1%)
Trong số lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan, có khoảng
140.000 lao động (chiếm 46%) làm nghề giúp việc gia đình, chủ yếu là chăm
sóc người già và trẻ em; 92.035 lao động làm việc trong các doanh nghiệp
sản xuất chế tạo (chiếm 36,8%); 47.803 người làm việc trong các dự án đầu
tư lớn của nước ngoài (chiếm 16%); 573 lao động làm việc trong các dự án
xây dựng của tư nhân (chiếm 0.2%) và 3156 lao động làm thuỷ thủ tàu cá
(chiếm 1%).
Lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan được điều chỉnh bởi một
hệ thống luật pháp tương đối đầy đủ và thống nhất cho mọi nước có lao động
đi làm việc tại Đài Loan. Hợp đồng lao động thường có thời hạn là 2 năm,
sau khi hết hạn được gia hạn một lần và thời gian gia hạn không được quá 1
năm. Đài Loan vẫn duy trì chế độ ngày làm việc 8h/ngày và 6 ngày/tuần, từ
tháng 1/2001 là 5,5 ngày/tuần(trừ một số ngành nghề đặc thù như giúp việc
gia đình và khán hộ công). Nếu có nhu cầu làm thêm giờ thì doanh nghiệp
và người lao động phải có sự thoả thuận trên cơ sở tuân thủ các quy định của
Luật lao động tiêu chuẩn Đài Loan. Tiền lương cơ bản cho mỗi lao động là

giới này - được nguỵ trang dưới nhiều tên gọi khác nhau để "lách luật" -
thậm chí còn cao hơn thế do các công ty cung ứng lao động nước ngoài đã
không ngừng tăng cao chi phí môi giới trả cho các công ty môi giới Đài
Loan nhằm tranh giành các quota lao động. Ngoài chi phí môi giới, người
lao động còn phải chi thêm một khoản tiền phục vụ cho công tác quản lý,
mức phí này dao động trong khoảng 1500 - 1800 Đài tệ/ tháng.
Thị trường Đài Loan cũng là một thị trường tương đối khó tính, Đài
Loan chủ yếu nhận lao động có nghề, phải biết tiếng Hoa ở mức độ cơ sở và
có những quy đinh rất ngặt nghèo về sức khoẻ. Đồng thời, đây cũng là một
thị trường có tính cạnh tranh cao. Cho đến hiện nay số lượng lao động của
26
chúng ta tại thị trường này vẫn đứng sau Thái Lan, Indonesia và Philippines.
Những nước này đã có mặt tại thị trường Đài Loan từ những năm 1990
-1991, trong khi nước ta mới bắt đầu từ năm 1999. Lao động Thái Lan
chiếm số lượng đông nhất trong số lao động nước ngoài làm việc tại Đài
Loan, được đánh giá là cần cù, chịu khó, có sức khoẻ và dẻo dai. Số lao
động Indonesia đứng thứ hai, chăm chỉ, nhẫn nại, hơi yếu về tiếng Hoa
nhưng bù lại có sức khoẻ và tính kỷ luật cao. Lao động Phippines thì khá
tiếng Hoa, đặc biệt là tiếng Anh, có trình độ, chuyên môn tốt, tuy có nhược
điểm là hay cãi chủ và hay xin nghỉ. Trong khi đó, các công ty cung ứng lao
động của Thái Lan và Indonesia sẵn sàng chấp nhận mức phí môi giới cao
để kéo các đơn hàng về mình. Chi phí vé máy bay của nước ta đến Đài Loan
lại cao hơn mặt bằng chung trong khu vực rất nhiều khiến các chủ sử dụng
phải tính toán, lựa chọn giữa việc tuyển mộ lao động nước ta với lao động
các nước khác để giảm tiền vé máy bay. Nói chung, những "đối thủ" của
chúng ta rất mạnh và cạnh tranh tìm được chỗ đứng trong một thị trường như
vậy là một điều hoàn toàn không dễ dàng. Tuy Philippines và Indonesia hiện
nay đều đã bị "đông kết" không được phép đưa lao động vào thị trường Đài
Loan nữa nhưng khả năng mở cửa lại với các nước cung ứng lao động này
vẫn còn, nghĩa là nguy cơ cạnh tranh với lao động Việt Nam là rất lớn. Vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status