Mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn. Lấy thực trạng tại Việt Nam để chứng minh - Pdf 32

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội luôn là mục tiêu của mọi
nền kinh tế. Song muốn có tăng trưởng thì phải có đầu tư, làm thế nào để đầu tư
có lợi nhuận và đem lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế? Đây luôn là một bài toàn
khó đối với mọi nhà kinh tế.
Do đất nước ta đang trong quá trình chuyển mình từ một nước nghèo nàn
lạc hậu sang một nền kinh tế thị trường hiện đại nên đầu tư càng đóng vai trò
quan trọng. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách kinh tế, các
chính sách tự do thương mại, đầu tư và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và
đang cải thiện dần các hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho con đường công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.Thực tiễn cho thấy, mỗi một nền kinh tế đều
phải cạnh tranh rất khốc liệt để có thể tồn tại và phát triển, có thể có được chỗ
đứng trên thương trường. Một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công
đó là việc làm thế nào để có thể tạo lập, huy động nguồn vốn với chi phí thấp, với
điều kiện và phương tiện thanh toán nhanh nhất, làm thế nào đế có thế sử dụng
đồng vốn hiệu quả... Giữa tạo lập, thu hút và sử dụng nguồn vốn tồn tại một mối
quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
của hoạt động đầu tư. Do đó, việc hiểu rõ mối quan hệ đó là yêu cầu rất quan
trọng đối với các nhà kinh tế, các nhà quản lý.
Xuất phát từ vấn đề trên, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Từ
Quang Phương và thầy Phạm Văn Hùng, chúng em đã quyết định chọn đề tài
“Mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn. Lấy thực trạng tại Việt
Nam để chứng minh”.
Kết cấu đề tài của chúng em gồm 3 phần chính:
Phần I: Các vấn đề lý luận chung về đầu tư và nguồn vốn đầu tư
Phần II: Thực trạng mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
đầu tư tại Việt Nam
Phần III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tạo lập, thu
hút và sử dụng vốn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương và thầy Phạm

tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và toàn xã hội.
Vốn đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên
phương diện về kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ
những chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và
tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.
Đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn
vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
2.1. Nguồn vốn trong nước
Xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách
liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắn chắn và không phụ thuộc
phải là nguồn vốn đầu tư trong nước.
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn vốn đầu tư trong nước của mỗi quốc gia được hình thành chủ yếu
từ: tiết kiệm của chính phủ, tiết kiệm dân cư, tiết kiệm của các doanh nghiệp và
vốn huy động thông qua các tài sản quốc gia.
a. Nguồn vốn Nhà nước
Vốn đầu tư Nhà nước được hình thành từ các nguồn vốn: nguồn vốn tích
lũy từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho
đầu tư. Đó là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia. Ngân sách Nhà nước được hình thành từ việc thu thuế, phí, lệ
phí, từ vay viện trợ ưu đãi của nước ngoài, vay trên thị trường vốn quốc tế và vay
trong dân dựa trên việc phát hành trái phiếu chính phủ.
Hiện nay có sự đa dạng vốn đầu tư Nhà nước, không có sự tách biệt giữa:
đầu tư Nhà nước cho sự phát triển chung của xã hội và đầu tư Nhà nước cho sản
xuất kinh doanh. Chính vì vậy mà phải xác định cụ thể nguồn vốn ngân sách
không thể đầu tư tràn lan được, mà phải hạn chế trong một số lĩnh vực chủ yếu

định hướng chiến lược của mình. Điều này giúp tăng trưởng kinh tế và thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Phân bổ và sử dụng vốn vay tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển
những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm
nghèo…
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước
Nguồn vốn này được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn Nhà nước
khá lớn.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước được hình thành do ngân
sách Nhà nước cấp, từ lợi nhuận của doanh nghiệp (đầu tư mới), từ quỹ khấu hao
của doanh nghiệp đó (đầu tư thay thế), từ vốn vay (vay ngân hàng thương mại,
quỹ tín dụng đầu tư của cán bộ công nhân viên, từ cổ phần …)
*Vai trò:
Đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà nước thường được tập trung vào
phát triển các lĩnh vực mà khu kinh tế khác không muốn làm, hoặc cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội và các ngành công nghiệp then chốt. Việc phát triển những lĩnh
vực trên là rất cần thiết để phát triển kinh tế, do đó hiệu quả chung, nhất là hiệu
quả về mặt xã hội của nó có thể cao.
Nguồn vốn này là một trong những nguồn vốn quan trọng đóng góp lớn
cho sự phát triển kinh tế, tạo việc làm, đóng góp quan trọng vào sản phẩm quốc
nội của cả nước góp phần hình thành gộp về tài sản cố định rất có ý nghĩa đối với
nền kinh tế.
b.Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần
tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã và lượng kiều hối.
Tiết kiệm của dân cư
Tiết kiệm của dân cư được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập của
dân cư, sau khi đã đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước (nếu có) và đảm bảo tiêu
dùng cho nhu cầu thiết yếu của bản thân và gia đình họ. Phạm vi thu nhập của

cảnh nghèo thì một vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu vốn gay gắt và từ đó dẫn
tới thiếu nhiều thứ khác cần thiết cho sự phát triển như công nghệ, cơ sở hạ
tầng…Do đó trong những bước đi ban đầu, để tạo ra được cú “hích” đầu tiên cho
sự phát triển, để có được tích lũy ban đầu từ trong nước cho đầu tư phát triển
kinh tế, không thể không huy động vốn nước ngoài. Nguồn vốn nước ngoài bao
gồm toàn bộ phần tích luỹ cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và
chính phủ nước ngoài có thể huy động được vào quá trình đầu tư phát triển của
nước sở tại.
Nó bao gồm: nguồn vốn hỗ trợ chính thức, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư gián tiếp, nguồn vốn từ thị trường vốn quốc
tế.
a. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
* Khái niệm chung:
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn vốn ODF (Official Development Finance ): là nguồn tài trợ phát
triển chính thức do các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ cung cấp. Nguồn này bao
gồm: viện trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức tài trợ phát triển khác
trong đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu.
Nguồn vốn ODA (Official Development Assistance ) là nguồn tài chính do
các cơ quan chính thức (chính quyền Nhà nước hay địa phương) của một nước
hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này.
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và chính phủ nước
ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với hình thức
tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng
vốn vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn
gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
ODA được thực hiện trên cơ sở song phương hoặc đa phương. Các tổ chức
viện trợ đa phương hiện đang hoạt động gồm các tổ chức thuộc hệ thống Liên

nhưng đôi khi lại là hỗ trợ hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khấu. Ngoại tệ hoặc hàng
hoá chuyển vào trong nước thông qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thể
đựơc chuyển thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vào nhờ
hình thức này được bán ra trên thị trường trong nước, và số thu nhập bằng bản tệ
được đưa vào ngân sách của chính phủ.
Tín dụng thương mại với các điều khoàn mềm ( lãi suất thấp, hạn trả
dài...). Trên thực tế là một dạng hỗ trợ có ràng buộc.
Viện trợ chương trình là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác
viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho mục đích tổng quát với thời
hạn nhất định, mà không phải xác định nó sẽ phải được sử dụng như thế nào.
Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của viện trợ chính thức. Hỗ trợ dự án
thường liên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kĩ thuật và trên thực tế thường có
cả hai yếu tố này: Hỗ trợ cơ bản thường chủ yếu về xây dựng (đướng xá, cầu
cống, trường học, bệnh viện ). Thông thường các dự án này có kèm theo một bộ
phận của viện trợ kĩ thuật, dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra
những hoạt động nhất định nào đó, hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho
các đối tác nhận viện trợ; hỗ trợ kĩ thuật thường chủ yếu chỉ tập trung vào
chuyển giao tri thức hoặc tăng cường lập cơ sở kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình
hình cơ bản, nghiên cứu trước khi đầu tư (quy hoạch, lập các luận chứng kinh tế,
kĩ thuật...). Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ thông thường,
nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kĩ thuật phân tích (kinh tế, quản lý, thống kê,
thương mại, hành chính Nhà nước, các vấn đề xã hội...)
b. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
* Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức quốc tế mà chủ đầu tư nước
ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào quá trình sản xuất kinh doanh để trực tiếp
quản lý hoặc tham gia quản lý vào quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra.Đây là
nguồn vốn quan trọng không chỉ đối với các quốc gia phát triển mà cả với những
quốc gia đang phát triển.
* Đặc điểm:

đầu tư nước ngoài rất quan trọng trong thế kỉ IXX và đầu thế kỉ XX song không
kéo dài được lâu bởi số vốn mà Chính phủ và các doanh nghiệp ở những nước
đang phát triển vay của các ngân hàng thương mại đã thay thế một phần quan
trọng cho đầu tư gián tiếp.
Tuy nhiên những năm gần đây, nguồn vốn này đang có sự khởi sắc trở lại
cùng với sự phát triển sôi động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
d. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay sau một thời
gian sẽ phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay, các nước cho vay nhận lợi
nhuận thông qua lãi suất tiền vay. Nguồn vốn tín dụng thương mại có những đặc
điểm sau:
Đối tượng vay vốn của nguồn vốn này thường là các doanh nghiệp. Khi
các doanh nghiệp vay vốn nhưng hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ hoặc
phá sản thì rủi ro với các chủ đầu tư là rất cao.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vốn vay dưới dạng tiền tệ, các doanh ngiệp vay vốn có thể sử dụng tuỳ
theo yêu cầu của doanh nghiệp.Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận thông qua
lãi suất ngân hàng cố định theo khế ước vay, độc lập với kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp vay vốn, chủ đầu tư có quyền sử dụng những tài sản đã
thế chấp của bên vay vốn hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán các khoản
vay trong trường hợp bên vay vốn không có khả năng thanh toán. Do vậy, các
ngân hàng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp
nhưng trước khi nguồn vốn được giải ngân thì họ cũng đã nghiên cứu tình hình
khả thi của dự án đầu tư và có yêu cầu về đảm bảo thế chấp đối với bên doanh
nghiệp nhằm giảm bớt khả năng rủi ro.
Khi sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại, các nước tiếp nhận vốn
không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào về chính trị xã hội và có toàn quyền sử
dụng vốn vay này. Tuy nhiên, điều kiện ưu đãi của nguồn vốn này không dễ dàng
như đối với nguồn vốn ODA, thủ tục vay lại tương đối khắt khe và nghiêm ngặt,

tăng vốn điều lệ, thu hút tiền gửi tiết kiệm và phát triển dịch vụ ngân hàng.
Các NHTM mở rộng huy động vốn bằng nhiều hình thức và giải pháp khác
nhau. Trước hết, mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch toàn quốc, bảo
đảm thuận tiện cho huy động vốn. Thứ hai, hiện đại hóa công nghệ gắn liền với
đổi mới phong cách giao dịch của nhân viên, tạo sự tôn trọng của ngân hàng đối
với người gửi tiền.Thứ ba, đẩy mạnh các hoạt động maketing, tiếp thị, quảng cáo,
khuyến mại trong huy động vốn, tạo thông tin minh bạch, công bố thông tin rộng
rãi cho người dân chủ động lựa chọn các hình thức gửi tiền với lãi suất, kỳ hạn
khác nhau. Thứ tư, đa dạng hóa các sản phẩm gửi tiền tiết kiệm, các hình thức
huy động vốn đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Trong việc huy động vốn, các
NHTM tạo sự chủ động lựa chọn linh hoạt cho khách hàng, như: gửi một lần
nhưng rút gốc linh hoạt cho nhu cầu chi tiêu vẫn được lãi suất cao; gửi góp nhưng
lĩnh ra một lần vào cuối kỳ với lãi suất hấp dẫn, gửi tiết kiệm gắn với bảo hiểm
nhân thọ; gửi tiền kèm theo cho vay mua ô-tô trả góp.
Có thể khẳng định, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực đáp ứng nhu
cầu vốn cho nền kinh tế. Đáng chú ý là các NHTM nhà nước chiếm phần lớn thị
phần huy động vốn; thị phần của các NHTM cổ phần tuy còn khiêm tốn, nhưng
đang có xu hướng tăng nhanh. Bên cạnh các kênh huy động vốn nói trên hệ thống
ngân hàng còn là đầu mối đàm phán và ký kết, tổ chức tiếp nhận vốn và cho vay
nhiều dự án của WB, ADB,... về điện lực, giao thông nông thôn, cải thiện môi
trường, xóa đói giảm nghèo.
1.2 Huy động vốn qua các kênh khác trên thị trường
Huy động vốn của ngân sách chủ yếu bằng hình thức phát hành tín phiếu
Kho bạc nhà nước qua đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước, với sự tham gia của các
ngân hàng, tổ chức bảo hiểm, quỹ đầu tư...; phát hành trái phiếu Chính phủ trong
và ngoài nước.Thêm vào đó còn có nguồn vốn ODA do Ngân hàng Phát triển cho
vay lại.
Một kênh huy động vốn quan trọng khác là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước theo hình thức bán đấu giá và bán cổ phần của Nhà nước trong các doanh
nghiệp cổ phần hóa mà cổ phiếu có tính thanh khoản cao, lợi nhuận hấp dẫn, đã

chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư, nhất thiết phải quan tâm xử lý
đồng bộ các yếu tố ảnh hưởng trên.
Thứ hai: mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, chất lượng cung cấp
dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, mức độ cạnh tranh cuả thị
trường trong nước cũng ảnh hưởng đến quá trình thu hút vốn đầu tư. Mức độ phát
triển về quản lý kinh tế vĩ mô thấp dẫn tới các hiện tượng lạm phát cao, nợ nước
ngoài nhiều, tham nhũng, thủ tục hành chính rườm rà, tăng trưởng kinh tế thấp,...
là nguyên nhân tiềm ẩn gây nên khủng hoảng. Chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng
kém ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành các hoạt động sản xuất và kinh doanh
cũng như đời sống của các nhà đầu tư nước ngoài, khiến tăng chi phí sản xuất,
chất lượng sản phẩm không cao. Chất lượng các dịch vụ khác như cung ứng lao
động, tài chính cũng là những yếu tố rất cần để thu hút các nhà ĐTNN. Tính cạnh
tranh của các nước chủ nhà cao sẽ giảm được rào cản đối với ĐTNN, các nhà đầu
tư có thể lựa chọn lĩnh vực đầu tư để phát huy lợi thế so sánh của mình.
Bên cạnh đó, môi trường luật pháp và chính sách đầu tư là một trong
những điều đầu tiên mà các nhà đầu tư quan tâm khi lựa chọn thị trường đầu tư.
Bởi quá trình đầu tư liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động trong một thời
gian dài, nên cần một môi trường pháp lý ổn định và có hiệu lực là một yếu tố
quan trọng để quản lý và thực hiện đầu tư một cách có hiệu quả. Môi trường này
bao gồm các chính sách, qui định, luật cần thiết đảm bảo sự nhất quán, không
mâu thuẫn, chống chéo nhau và có tính hiệu lực cao.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bao gồm các chính sách về sở hữu, thuế quan, lệ phí, quản lý ngoại hối.
Rồi các vấn đề về chuyển đổi giữa đồng nội tệ và ngoại tệ cũng phải được qui
định giữa các nước phụ thuộc vào chính sách tiền tệ. Việc chuyển ngoại tệ ra
nước ngoài, mỗi nước tùy theo tình hình cụ thể của mình có những qui định khác
nhau. Và quan trọng nhất là hoạt động quản lý ĐTNN. Vì trong quá trình hình
thành và triển khai dự án đầu tư, chủ dự án phải chịu sự quản lý của các cơ quan
có thẩm quyền đại diện cho nước chủ nhà từ khâu cấp giấy phép, thẩm định dự án

Thứ ba, xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng và ổn định tế vĩ mô, đề có thể huy động
hiệu quả các nguồn vốn cần có các chính sách và giải pháp hợp lý và đồng bộ và
hợp lý trên cơ sở có tính toán tổng hợp đảm bảo khuyến khích, định hướng các
hoạt động thu hút và cung ứng vốn.
III. Khái niệm chung về sử dụng vốn đầu tư
1.Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng
tăng trưởng. Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những
nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân
tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế...do đó nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng biểu hiện tập trung của mối quan hệ
giữa đầu tư phát triển, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế thể
hiện ở công thức tính hệ số ICOR.
Hệ số ICOR - tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng. Hệ số ICOR được
tính như sau ICOR = Vốn đầu tư tăng thêm/GDP tăng thêm = Đầu tư trong
kỳ/GDP tăng thêm. Hệ số ICOR cho biết muốn gia tăng một đồng sản lượng cần
phải gia tăng bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Nếu hệ số ICOR có xu hường giảm dần
qua các năm thì điều đó chứng tỏ rằng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ngày càng
được nâng cao, còn ngược lại nếu hệ số ICOR lại không ngừng tăng chứng tỏ có
sự thất thoát lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư.
Hệ số ICOR của nên kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân
tố:
Thứ nhất, do thay đổi cơ cấu ngành. Cơ cấu đầu tư ngành thay đổi ảnh
hưởng đến hệ số ICOR của từng ngành.
Thứ hai, sự phát triển của khoa học công nghệ có ảnh hưởng hai mặt đến

Đối với sử dụng vốn cho đẩu tư xây dựng phát triển cần đảm bảo các
nguyên tắc sau:
Đúng đối tượng, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà
nước theo phương thức cấp không hoàn trả đảm bảo vốn để đầu tư các dự án cần
thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội, quốc phòng an
ninh....từ đó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự phát triển toàn diện và cân đối
của nền kinh tế quốc dân. Do ngân sách có hạn nên đảm bảo hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư đòi hỏi cấp phát vốn đúng đối tượng là các công trình,dự án đầu tư
theo quy định của luật ngân sách nhà nước và quy chế quản lý đầu tư xây dựng.
Thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đầy đủ các tài liệu
thiết kế và dự toán được duyệt: các dự án không phân biệt quy mô và mức vốn
đầu tư đều phải trải qua ba giai đoạn là chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc
dự án đưa dự án vào hoạt động khai thác sử dụng.
Vốn sử dụng đúng mục đích đúng kế hoạch: nguồn vốn ngân sách nhà
nước đầu tư cho các công trình, các dự án được xác định trong kế hoạch ngân
sách nhà nước hàng năm dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, kế hoạch xây dựng của từng bộ từng ngành địa phương,
đảm bảo tính kế hoạch,cân đối. Đảm bảo sử dụng vốn theo đúng kế hoạch tiến
độ, kiểm tra chặt chẽ đảm bảo chất lượng công trình hoàn thành, tránh ứ đọng
vốn trong quá trình đầu tư gây thất thoát lãng phí khi sử dụng vốn.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sử dụng nguồn vốn phải đúng mục tiêu và tiến độ đầu tư của từng sự án
nhằm duy trì sự điều tiết vĩ mô như mong muốn và đảm bảo cho dự án đầu tư
hiệu quả. Việc phân bổ nguồn vốn sai đối tượng sẽ làm mất cơ hội đầu tư vào các
lĩnh vực cần điều tiết của nhà nước vì nguồn vốn tín dụng dầu tư nhà nước chịu
các giới hạn nhất định và việc phân bổ nguồn vốn không đúng với dự toán sẽ ảnh
hưởng tới kết quả đầu tư của dự án...
Quản lý và sử dụng nguồn vốn phải đảm bảo duy trì hoàn nguồn vốn tín
dụng. Thẩm định tính hiệu quả của dự án để quyết định thực hiện việc đầu tư tín

3. Nguyên tắc phân bổ sử dụng vốn đầu tư
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng,
là thước đo, là cơ sở để Quốc hội phân bổ NS một cách công khai, minh bạch.
Điều đó đồng nghĩa nếu có hệ thống tiêu chí, định mức rõ ràng mới giải quyết tốt
mối quan hệ giữa NSTW và NSĐP, phân chia ngân sách giữa Trung ương và địa
phương một cách hợp lý, nhất là các Bộ.
Việc phân bổ NSNN có 2 lĩnh vực quan trọng nhất là chi đầu tư phát triển
và chi thường xuyên. Tuy nhiên,chỉ có một số chương trình, dự án đầu tư lớn là
có định mức cụ thể, khiếm khuyết này đã dẫn tới việc phân bổ NS dù đã thể hiện
được tính công khai, minh bạch nhưng chưa thật sự công bằng. Trong đó tiêu chí
chính dự kiến sử dụng là dân số với lý do đây là tiêu chí liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội. Đi đôi với
việc xác định tiêu chí chính là các hệ số phụ khác như: điều kiện tự nhiên; số đơn
vị hành chính xã phường; tỷ lệ hộ nghèo; vùng miền núi, vùng cao, hải đảo; vùng
đồng bào dân tộc; các tỉnh có biên giới; vùng kinh tế trọng điểm; thành phố đặc
biệt, thành phố loại I; khả năng tự cân đối NSĐP; khả năng điều tiết của NSĐP
cho NSTW. GDP vẫn được xem là một chỉ tiêu quan trọng không được tính vào
đây vì không chính xác, vì nếu tổng hợp theo cách tính của các địa phương thì kết
quả GDP bình quân cả nước lên tới 11,3%, gấp rưỡi con số thực tế.
Tuy nhiên nếu lấy dân số là tiêu chí chính chỉ phù hợp với việc phân bổ
vốn địa phương, còn với các Bộ, ngành phải xây dựng một tiêu chí mang tính
tổng hợp trên cơ sở các mục tiêu, định hướng phát triển tổng thể nền kinh tế, của
ngành, lĩnh vực và các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hầu hết các địa phương, Bộ, ngành đều nói rằng định mức phân bổ NS
mới chỉ đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu chi tiêu của mình. Trong bối cảnh ấy,
một trong những căn cứ để xây dựng tiêu chí và định mức phân bổ NS là vừa ưu
tiên các vùng kinh tế trọng điểm, những “đầu tàu” của cả nước, vừa quan tâm đến
các tỉnh nghèo để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Đây là điều lý giải tại sao lâu

thiếu nhiều, nhất là đường giao thông nối về trung tâm xã; đời sống dân cư thấp,
tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, trình độ dân trí thấp, trình độ cán bộ còn yếu thì được
ưu tiên đầu tư nhiều hơn và đầu tư liên tục trong 5 năm.
IV.Mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
Trong nền kinh tế thị trường, để nâng cao năng lực cạnh tranh, khai thác
lợi thế của doanh nghiệp nhằm tối đa hóa lợi nhuận, thì vốn được coi là chìa
khóa, là điều kiện quan trọng hàng đầu quyết định quy mô, tốc độ tăng trưởng và
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó mà vấn đề tạo lập, thu hút, sử dụng
nguồn vốn luôn là một bài toán khó và nắm bắt được mối quan hệ giữa chúng là
một yêu cầu bức thiết đối với các nhà kinh tế.
1. Tính thuận chiều trong mối quan hệ thuận giữa tạo lập, thu hút và
sử dụng vốn đầu tư
Xét trong tiến trình hoạt động và chu chuyển của luồng vốn, giữa việc tạo
lập, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư có mối quan hệ thuận chiều
xuyên suốt. Tất cả các nguồn vốn được tạo lập và duy trì thông qua tích luỹ, với
mục tiêu nhất định là sử dụng nguồn vốn đó để đầu tư có hiệu quả, trong đó việc
thu hút vốn đóng vai trò là bước trung gian hay công cụ thực hiện. Tính thuận
chiều này tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các giai đoạn tạo lập, thu hút, sử dụng
vốn với nhau và đảm bảo tính lưu thông của nguồn vốn đầu tư. Với nguồn vốn
tạo lập càng lớn, trong điều kiện môi trường đầu tư lý tưởng thì việc thu hút càng
nhiều các nguồn vốn sẽ đem lại hiệu quả cao trong sử dụng vốn. Tuy nhiên giữa
tạo lập, thu hút và sử dụng vốn lại thường vấp phải các trở ngại về năng lực đầu
tư, môi trường đầu tư, rủi ro tài chính…trong các hoạt động của nguồn vốn. Điều
này đã gây nên xu hướng giảm dần về lượng vốn đầu tư trong suốt quá trình tạo
lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tạo lập vốn chính là phương thức để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển đối
với nền kinh tế. Trên thị trường vốn, có rất nhiều phương thức tạo lập vốn (hay
còn gọi là phương thức tài trợ vốn) mà nhà nước và các doanh nghiệp có thể tiếp

cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các doanh nghiệp nên có các
phương án giải thích rõ ràng về tính tối ưu và khả thi của khoản tiền huy động,
đồng thời việc giải thích càng chi tiết, rõ ràng bao nhiêu sẽ càng có lợi cho doanh
nghiệp bấy nhiêu. Để tối ưu hoá hoạt động huy động vốn, doanh nghiệp cần đề ra
cho mình những nguyên tắc nhất định, "đánh bóng" chính bản thân mình, từ đó
tạo ra sự tin cậy trong con mắt các nhà tài trợ vốn. Đa số các doanh nghiệp lại
chưa thể hiện hoặc chứng minh rõ được những điều trên dẫn đến sự hạn chế trong
thu hút vốn tài trợ cũng như khơi thông nguồn vốn.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh đó, những rủi ro tài chính do sự biến động của thị trường như giá
ngoại tệ lên xuống thất thường, đồng nội tệ mất giá, thị trường bất động sản thay
đổi, tình trạng trượt giá phi mã,... khiến cho lượng vốn thu hút được không như
mong đợi. Chính sự kém hiệu quả trong thu hút nguồn vốn đầu tư đã làm cho
việc sử dụng vốn không phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn.
Tuy nhiên, xét trên tổng thể một quốc gia, việc thu hút được một lượng
vốn lớn vẫn chưa đảm bảo được tính hiệu quả trong sử dụng lượng vốn đó. Bởi vì
khi đó các vấn đề về cơ sở hạ tầng (điện, đường sá…), nhân lực, thủ tục hành
chính và sự đồng bộ của thị trường lại trở thành những thách thức đối với việc
tăng hiệu quả thực tế của việc sử dụng vốn đầu tư. Đồng thời sự lỏng lẻo cũng
như tiêu cực trong công tác quản lý nguồn vốn của nhà nước (như vốn ngân sách,
vốn viện trợ, quỹ đầu tư…) thường dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí vốn gây
ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng của đồng vốn bỏ ra cũng như chất lượng
dự án thực hiện. Đặc biệt là sự chậm trễ trong công tác giải ngân vốn đầu tư cho
các dự án. Nguyên nhân chậm trễ là do bất cập ở rất nhiều khâu từ vướng mắc về
thủ tục, tư vấn của dự án yếu, khó khăn trong giải phóng mặt bằng, năng lực nhà
thầu kém, không đảm bảo đủ vốn đối ứng, thời gian thực hiện các dự án quá dài
đến năng lực điều hành của các ban quản lý dự án còn nhiều hạn chế... Xét tầm vi
mô, khi vốn thu hút được đầu tư vào dự án thì các doanh nghiệp lại thường chậm
trễ trong tiến độ thực hiện, công việc giải ngân chậm chạp cùng với những vướng

tựu khoa học tiên tiến và các phương pháp quản lý hiện đại.
Cơ cấu nguồn vốn huy động đã có bước chuyển dịch quan trọng. Điểm nổi
bật nhất là sự tăng lên mạnh mẽ của đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân, đó là kết
quả của việc thực hiện Luật Doanh nghiệp. Một điểm nổi bật khác là đã có trên
70 nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp (FDI) với tổng số vốn đăng ký mới và
bổ sung tính từ năm 1988 đến nay đạt trên 66 tỉ USD, với số vốn thực hiện đạt
được một nửa. Nguồn vốn này đã góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc
làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp ngân sách... Đã có 45 nước và định chế
tài chính quốc tế đã cam kết với số vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lên
đến 30 tỉ USD và số vốn giải ngân đạt khoảng 16 tỉ USD. Nguồn vốn này đã
được ưu tiên sử dụng để hỗ trợ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần tăng
trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Nhiều công trình quan trọng trong các lĩnh
vực giao thông vận tải, năng lượng, thủy lợi quy mô lớn, giáo dục đào tạo, khoa
học - công nghệ, y tế, chăm sóc sức khỏe... đã được xây dựng và nâng cấp.
Nguồn vốn này đã góp phần tăng cường năng lực và thể chế thông qua các
chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng pháp luật, cải cách hành chính, xây dựng
chính sách và cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực... Tỷ trọng
nguồn vốn Nhà nước tuy đã giảm nhưng vẫn còn chiếm quá nửa tổng vốn đầu tư,
có tác dụng hình thành các công trình trọng điểm của quốc gia, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, vùng mà các nguồn vốn khác
không muốn đầu tư, có tác động là vốn mồi để thu hút các nguồn vốn khác...
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhờ những kết quả trên mà tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao, năm sau cao
hơn năm trước; cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; cơ sở hạ tầng được xây dựng, nâng cấp... Cơ cấu đầu tư đã
chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung cho những mục tiêu quan trọng về
phát triển kinh tế- xã hội; vừa tập trung cho tăng trưởng kinh tế, vừa quan tâm
đến phát triển xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng; vừa tập trung cho vùng động lực,
vừa tăng cho vùng nghèo, xã nghèo.

kinh tế mà tổng quát nhất là tốc độ phát triển của nền kinh tế đó tình hình kinh tế
xã hội. Thường các nhà đầu tư sẽ chú ý tới những nước mà có những điều kiện
thuận lợi cho đầu tư như cơ sở hạ tầng, trình độ khoa học kĩ thuật, năng suất lao
động xã hội. Khi nguồn vốn đầu tư đựoc sử dụng 1 cách hiệu quả thì trước tiên là
cơ sở hạ tầng của xã hội sẽ ngày càng hiện đại, trình độ khoa học kĩ thuật nâng
cao, trình độ dân trí chất lượng nguồn nhân lực được đảm bảo. Trình độ quản lý
ngày càng hoàn thiện. thong thoáng hợp lý. Và các nhà đầu tư trực tiếp họ có thể
yên tâm đầu tư khi mà cơ sở hạ tầng nguồn nhân lực đáp ứng được. Họ có thể
đầu tư và thu lợi nhuận 1 họ có niềm tin sẽ kinh doanh đầu tư thành công khi các
điều kiện vĩ mô và vi mô đều thuận lợi.
Đối với các nguồn vốn vay ưu đãi, các nước chỉ cho nước nào vay khi
nước đó sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả, bởi vì nhu cầu về vốn hiện nay ở các
nước đang phát triển là rất lớn. Không 1 nước nào cho vay không hay là cho vay
mà khả năng trả nợ của nền kinh tế đó không được đảm bảo. Bởi thế khi đồng
vốn được sử dụng hiệu quả, đồng nghĩa với việc nền kinh tế đó đang tăng trưởng
và hoàn toàn sẽ hoàn trả vốn cho nước đi vay, nước cho vay cũng thu được nhiều
ưu đãi của nước đi vay, khi niềm tin vào khả năng sử dụng nguồn vốn thì các
nước sẵn sàng đầu tư hoặc cho nước đó vay tiền, do vậy chúng ta sẽ thu hút được
nhiều hơn các nguồn vốn từ bên ngoài.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương 2 :
Thực trạng mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút
và sử dụng vốn đầu tư tại Việt Nam
I. Khả năng tạo lập vốn ngày càng được cải thiện tạo
điều kiện tốt để thu hút vốn ngày càng nhiều.
1. Khả năng tạo lập vốn ngày càng được cải thiện
1.1 Đối với nền kinh tế
Hiện nay khả năng tạo lập vốn của nền kinh tế nước ta đã được nâng lên
rất nhiều. Trước đây khi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp các

tâm giúp đỡ của rất nhiều nước, đặc biệt là nguồn vốn ODA, các nguồn vốn vay
hổ trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB,ADB…
Kênh huy động qua thị trường chứng khoán cũng là một hình thức giúp tạo
lập được các nguồn vốn của xã hội cho sản xuất. Chính sự tạo lập nguồn vốn tốt
là tiền đề để thu hút vốn cho đầu tư phat triển và với tốc độ phát triển rất cao như
của Việt Nam hiện nay khả năng tích luỹ của nền kinh tế càng cao, khả năng huy
đông các nguồn vốn ngày càng mở rộng, các nguồn vốn ngày càng được tạo lập
lớn hơn, đa dạng hơn.
1.2 Đối với các doanh nghiệp (góc độ vi mô)
* Tạo vốn từ chính vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu được hình thành từ nguồn vốn ban đầu và các quỹ
chuyên dùng của doanh nghiệp. Khi mới thành lập các doanh nghiệp đều có một
số vốn nhất định có thể của nhà nước nếu đó là doanh nghiệp nhà nước hoặc vốn
của chủ sở hữu doanh nghiệp đóng góp nếu là doanh nghiệp liên doanh. Đối với
công ty cổ phần thì nguồn vốn huy động từ các cổ đông dưới hình thức cổ phần.
Ngoài ra vốn của doanh nghiệp còn được tạo ra từ các khoản lợi nhuận
không chia, các quỹ khấu hao, quỹ dự phòng tài chính, quỹ tái đầu tư.
* Tạo vốn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để tạo lập vốn các công ty thường nghĩ ngay đến ngân hàng, đối tác kinh
doanh ... với những khoản vay dài hạn. Tuy nhiên, khoản vay này chỉ thực sự hữu
ích, nếu hoạt động kinh doanh của công ty hiện đang mang lại lợi nhuận, đồng
thời dựa trên cơ sở tính toán là việc hoàn trả tiền vay sẽ không “làm nghẹt thở”
hoạt động kinh doanh.
Bản thân việc vay vốn không phải lúc nào cũng là thượng sách. Nếu lãi
suất phải trả cao hơn tỷ suất lợi nhuận có thể thu được, thì đương nhiên các công
ty sẽ không bao giờ vay vốn. Và trên thực tế, nhiều công ty cho rằng nếu không
có được những dự án đầu tư mang lại lợi nhuận cao hơn mức lãi suất tiền vay, thì
thà cứ cố gắng tiết kiệm tiền còn hơn là đi vay mượn thêm. Nhưng đây không

nước luôn đưa ra mục tiêu gia tăng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội và coi đó là một
trong mười mục tiêu tổng quát nhất.
25

Trích đoạn Nguồn vốn ODA Giải pháp nâng cao hiệu quả tạo lập vốn Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút nguồn vốn đầu tư Vốn trong nước Vốn nước ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status