ĐỀ CƯƠNG :
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ.
I. TẠO LẬP, THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ.
1. Nguồn vốn đầu tư:
2. Phân loại vốn đầu tư:
3. Tạo lập vốn đầu tư:
4. Thu hút vốn đầu tư:
5. Sử dụng vốn đầu tư:
II. TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA VIỆC SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ ĐẾN CHẤT
LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TÊ.11/18/2008
1. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và do đó tác
động tích cực đến tăng trưởng:
2. Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến năng suất nhân tố tổng hợp và do
đó tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
3. Tác động của của việc sử dụng vốn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH – HĐH:
4. Tác động của hoạt động sử dụng vốn đầu tư đến khả năng nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế:
5. Tác động của vốn đầu tư đến chất lượng và giá thành sản phẩm:
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TẠO LẬP, THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ.
1. Tính thuận chiều trong mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
đầu tư:
2. Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư là cơ sở duy trì sự tăng trưởng kinh tế, đẩy
mạnh tạo lập vốn và tăng khả năng thu hút vốn:
PHẦN II : THỰC TRẠNG TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2008.
I. TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM NÓI CHUNG:
1. Đầu tư trong nước :
1.1.Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước:
1.2. Vốn đầu tư từ doanh nghiệp:
1. Giải pháp chung:
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tạo lập vốn:
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư:
4. Giải pháp nâng cao sử dụng nguồn vốn đầu tư nhằm góp phần nâng cao
chất lượng tăng trưởng Việt nam đến 2010, tạo điều kiện tạo lập và thu hút vốn đầu
tư:
4.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và bố trí kế hoạch đầu tư:
4.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước:
4.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn nước ngoài :
4.4 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng suất lao động:
2
Lời mở đầu:
Một nền kinh tế để có thể tồn tại và phát triển thì phải có sự tăng trưởng. Theo nghĩa
chung nhất thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng
thời gian nhất định ( thường là một năm). Tăng trưởng sẽ kéo theo sự phát triển của các yếu
tố khác. Một nền kinh tế muốn có tăng trưởng thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, một trong
những yếu tố quan trọng nhất là vốn đầu tư. Vốn đầu tư là một trong những nhân tố đầu vào
của quá trình sản xuất cũng như mọi hoạt động trong nền kinh tế, nó có vai trò đặc biệt quan
trọng đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy yêu cầu hiểu rõ về vốn đầu tư, các nguồn vốn đầu tư
là vô cùng quan trọng. Một trong những đòi hỏi đó chính là việc nắm bắt rõ các quá trình
tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư, cũng như mối quan hệ giữa chúng. Nắm bắt được
yêu cầu đó nên nhóm chúng em chọn đề tài: “mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử
dụng vốn đầu tư. Lấy thực tế ở Việt nam để chứng minh.”
Trong quá trình hoàn thiện đề tài, chắc chắn sẽ có những thiếu sót do nhân tố khách
quan cũng như các nhân tố chủ quan không thể tránh khỏi. Và để hoàn thành đề tài này
chúng em cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của: PGS-TS Từ Quang
Phương và TS Phạm Văn Hùng.
3
PHẦN I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO LẬP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ
xuất, kết quả do vốn đầu tư đem lại thông qua hoạt động đầu tư đều góp phần tạo ra tiềm
lực mới cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
- Theo mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế: vốn đầu tư có thể xem xét
theo cơ cấu trong nền kinh tế. Vốn đầu tư phân chia theo cơ cầu ngành kinh tế, vùng lãnh
thổ, theo các thành phần kinh tế … Khi nghiên cứu cơ cấu vốn đầu tư theo các tiêu thức này
có thể đánh giá được vai trò của đầu tư trong việc hình thành và chuyển dịnh cơ cấu kinh tế.
- Theo nguồn hình thành: Vốn đầu tư có thể phân thành vốn đầu tư trong nước và vốn
đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư trong nước bao gồm khoản tích lũy từ ngân sách, của doanh
nghiệp và tiền tiết kiệm của nhân dân.
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội cũa mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho
các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh, hỗ trợ cho các dự
án công cộng, hoặc chi cho công tác lập và thực hiện các dự án qui hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội của vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
4
Vốn của các doanh nghiệp, bao gồm vốn của các doanh nghiệp nhà nước và các
doanh nghiệp tư nhân hay dân doanh. Các doanh nghiệp sử dụng vốn của mình để thực hiện
các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động khác được
pháp luật cho phép để phục vụ xã hội, cộng đồng.
Nguồn vốn tiết kiệm của nhân dân. Đây là nguồn vốn có tiềm năng lớn. Quy mô
nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, vào trình độ
phát triển của đất nước( ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ
tiết kiệm thấp), tập quán tiêu dùng của dân cư, các chính sách của nhà nước như lãi suất huy
động tiền gửi, thuế thu nhập, các khoản đồng góp đối với xã hội.
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nguồn vốn nước ngoài gồm vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài( FDI – Foreign Direct Investment) và vốn đầu tư gián tiếp( FPI –
Foreign Portfolio Investment).
Tóm lại dù phân chia theo tiêu thức nào thì xét cho cùng vốn đầu tư cũng có nguồn
gốc từ tiết kiệm. Theo J.M. Keynes – nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, trong cuốn “Lý
dân sau khi trừ đi tiêu dùng sẽ là phần tích lũy của nền kinh tế. Như vậy ta có thể tăng tích
lũy thông qua hai cách. Thứ nhất: với điều kiện tổng sản phẩm quốc dân không đổi thì tích
lũy chỉ được tăng lên khi tiêu dùng giảm. Thứ hai: với điều kiện tổng sản phẩm quốc dân
5
thay đổi thì khi tổng sản phẩm quốc dân tăng lên thì tích lũy trong nền kinh tế sẽ tăng với
mức tiêu dùng cố định, hoặc tiêu dùng tăng nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn tốc độ tăng tích lũy.
Như vậy tạo lập qua tổng sản phẩm quốc dân sẽ tạo lập được lượng vốn lớn về mặt chất
cũng như lượng, vì thế nhiệm vụ đặt ra là nên phát huy vai trò của kênh tạo lập này để có
thể thực hiện được các mục tiêu cho đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đứng trên góc độ vi mô có thể tạo lập vốn đầu tư thông qua các doanh nghiệp, các cá
nhân và hộ gia đình. Các nhân tố kinh tế này sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh và sẽ trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, tức là tích lũy của nền kinh
tế sẽ tăng lên. Thực tế ngày càng cho thấy vai trò của các nhân tố này ngày càng quan trọng
trong việc tạo lập vốn, các nhân tố này sẽ là điều kiện cơ bản và lâu dài cho việc tạo lập các
nguồn vốn một cách bền vững.
4. Thu hút vốn đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư bao gồm các hoạt động, biện pháp và chính sách nhằm đưa
nguồn vốn từ tích lũy trong nền kinh tế sang đầu tư.
Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, tuy nhiên việc thu hút vốn đầu tư không phải là dễ dàng mà nó còn phụ thuộc vào
một số nhân tố như sau
Thứ nhất:như chúng ta đã biết, đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại
lợi nhuận trong tương lai, việc bỏ vốn của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc nhiều vào môi trường
đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng. Theo nghĩa chung nhất
môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư. Có
nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có
thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm.
Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng kỉ thuật phục vụ cho
sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảng hàng không,
Điều kiện để thu hút vốn đầu tư:
Thứ nhất, tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế.
Xét trong dài hạn, năng lực tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng xác định triển
vọng huy động các nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả. Vấn đề tăng trưởng ở đây được
nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với cả vốn đầu tư trong nước
cũng như nước ngoài. Nó thể hiện nguyên tắc mang tính chủ đạo trong thu hút vốn đầu tư:
Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. Thứ nhất, với
năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia
tăng. Khi đó quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy dộng được cải thiện. Thứ hai,
triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng là tín hiệu tốt thu hút các nguồn vốn đầu
tư nước ngoài.
Thứ hai, đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Đây được coi là điều kiện tiên
quyết cho mọi ý định và hành vi đầu tư. Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi trường kinh tế vĩ
mô, chính trị xã hội và môi trường kinh doanh ổn định. Đối với vốn đầu tư nước ngoài còn
yêu cầu năng lực trả nợ tối thiểu của nước nhận vốn đầu tư
Thứ ba, xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả.
Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô, để có thể huy động
các nguồn vốn cần có các chính sách và giải pháp hợp lý và đồng bộ trên cơ sở tính toán
tổng hợp đảm bảo khuyến khích, định hướng các hoạt động thu hút và cung ứng vốn
Thu hút vốn đầu tư có vai trò như thế nào?
Cũng như tạo lập vốn đầu tư thu hút vốn đầu tư có vai trò quan trọng đến tăng
trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động của nó cũng là gián tiếp, nó không trực tiếp tiến hành đầu
tư mà nó thu hút các nguồn tích lũy trong nền kinh tế tạo thành vốn đầu tư, vốn đầu tư là
yếu tố quan trọng cho việc thực hiện hoạt động đầu tư làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Nếu không có hoạt động thu hút vốn thì nguồn tích lũy trong nền kinh tế không được
đưa vào sử dụng, điều này dẫn đến tình trạng không có nguồn vốn đầu tư tái sản xuất xã hội
và tất yếu là nền kinh tế sẽ không tăng trưởng. Mặt khác nếu không có hoạt động thu hút
vốn thì việc tạo lập vốn đầu tư sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, vì vậy thu hút vốn đầu tư là cơ
sở cho tạo lập và là điều kiện cho sử dụng vốn đầu tư.
Các công cụ thu hút vốn đầu tư
quy mô tăng trưởng cũng có thể gián tiếp đánh giá được chất lượng tăng trưởng của nền
kinh hay hiệu quả sự dụng vốn của một quốc gia.
G = ∆Y/Y = ∆Y/Y * ∆K/K = ∆Y/∆K*∆K/Y
G = 1/ICOR*I/Y
ICOR = I/∆Y
Trong đó G là tốc độ tăng trưởng kinh tế; ∆Y là mức gia tăng sản lượng; Y là quy mô
sản lượng; ∆K là mức gia tăng vốn đầu tư; K là tổng quy mô vốn đầu tư của nền kinh tế
ICOR phản ánh, để tăng thêm một đơn vị sản lượng cần tăng bao nhiêu đơn vị vốn đầu
tư. Tại mỗi quốc gia, trong một giai đoạn nhất định nếu các biến số khác không đổi, ICOR
gia tăng cho thấy: mỗi đơn vị sản lượng đầu ra cần nhiều vốn đầu tư hơn, do đó, hiệu quả
cận biên của một đơn vị vốn đã bị suy giảm. Ở một mức độ nhất định, điều này phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giảm, chất lượng tăng trưởng có xu hướng đi xuống. Tuy nhiên
để đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn qua ICOR cần phải phân tích phối hợp với các chỉ
tiêu khác như: chỉ tiêu TFP, giá thành sản phẩm, …
ii) Phương pháp phân tích năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Để tính chỉ tiêu TFP có thể áp dụng phương pháp do tổ chức năng suất châu Á đưa
ra với công thức có dạng:
I
TFP
= I
Y
- (α.I
K
+ βI
L
)
Trong đó:
I
Y
là tốc độ gia tăng sản lượng
động tích cực đến tăng trưởng:
Sử dụng hợp lý vốn đầu tư là việc sử dụng đúng mục đích, tiến độ và yêu cầu đầu tư,
được xem xét cả trên phương diện doanh nghiệp và nền kinh tế, liên quan đến mọi khâu
trong quá trình đầu tư, từ việc huy động, phân bổ vốn đến việc quản lý sử dụng. Quá trình
sử dụng vốn đầu tư liên quan trực tiếp đến các chính sách tập trung và phân bổ vốntrong
nền kinh tế. Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phần
làm gia tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng
mức độ đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng, do đó, nâng cao được chất
lượng tăng trưởng. Ngược lại, các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực
quản lý yếu kém có thể dẫn đến sự mất cân đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả và
mức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến những tác
động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế, tạo ra chất lượng tăng trưởng không cao. Chẳng
hạn, với chính sách bao cấp trong đầu tư( qua chế độ cấp phát vốn, tín dụng …) một mặt sẽ
tạo ra sự khan hiếm và lãng phí vốntrong một số đối tượng được bao cấp, phân bổ vốn
không hợp lý và dẫn đễ hiệu quả đầu tư không cao.
Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý hoạt động đầu tư của các cấp.
các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế trong nền kinh tế thị trường có tác động
mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực khác và sau cùng tác động đến
chất lượng tăng trưởng kinh tế.
2. Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến năng suất nhân tố tổng hợp và do
đó tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Năng suất nhân tố tổng hợp ( Total Factor Productivity – TFP) là chỉ tiêu phản ánh
kết quả sản xuất do sử dụng hiệu quả nhân tố vốn và lao động( Các nhân tố hữa hình – được
xác định bằng số lượng), do tác động của các yếu tố vô hình như cải tiến quản lý, đổi mới
công nghệ. Hợp lý hóa sản xuất, nâng cao trình độ lao động … Năng suất nhân tố tổng hợp
cho biết mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các yếu tố đầu vào bao gồm yếu tố
vốn đầu tư, lao động và các yếu tố ngoài hai yếu tố này.
Sử dụng vốn đầu tư ( một nhân tố đầu vào) hiệu quả có ảnh hưởng đến mức tăng
giảm của TFP và do đó, đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Tác động của việc sử dụng vốn
đầu tư dến chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp không chỉ gồm tác động trực tiếp mà còn có
định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, phù hợp với mục tiêu đã xác định
của nền kinh tế. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý, hiệu quả theo cách đầu tư trọng tâm trọng điểm
trên cơ sở qui hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng một cơ chế đầu tư hợp lý có tác dụng quan
trọng trong việc chuyển định, đổi mới cơ cấu kinh tế ngành, vùng, đổi mới cơ cấu theo các
thành phần kinh tế, cơ cấu kih tế thành thị nông thôn … đồng thời góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế cao. Nói cách khác, kết quả của hoạt động sử dụng vốn đầu hợp lý là sự thây
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, phát triển toàn diện hơn và theo hướng
CNH, HĐH. Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
4. Tác động của hoạt động sử dụng vốn đầu tư đến khả năng nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế được đánh giá qua năng
lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp và nền kinh tế tạo ra. Sử dụng vốn
đầu tư bất hợp lý, không hiệu quả, công tác qui hoạch, kế hoạch đầu tư còn nhiều yếu kém
dẫn đến chất lượng thấp, giá thành sản phẩm cao và năng lực cạnh tranh thấp. Trên góc độ
đầu tư, để nâng cao năng lực cạnh tranh, một trong các yếu tố then chốt có tính đột phá là
thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn và tăng cường tính cạnh tranh giã các nguồn vốn huy
động. Bản thân các nguồn vốn, một trong những nguồn lực cơ bản cho đầu tư, khi được đặt
trong môi trường cạnh tranh và có cơ chế huy động và phân bổ vốn theo tín hiệu của thị
10
trường thì hiệu quả đầu tư mới được chú trọng đúng mức, do đó chất lượng tăng trưởng mới
được đề cao.
Đặc tính cố hữu của nhiều nền kinh tế đang phát triển là thiếu vốn, thiếu kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, thiết bị và máy móc lạc hậu dẫn đến năng suất, chất lượng thấp và
giá thành cao. Công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư yếu kém, chưa xuất phát từ nhu cầu thị
trường, khả năng dự báo kém … Do hiệu quả và hiệu lực cảu quy hoạch dẫn đến tính kết
nối, sự liên kết giữa các ngành, các dự án trong quá trình sản xuất hạn chế. Sản phẩm sản
xuất ra bị ứ đọng gây lãng phí các nguồn lực xã hội. Nhiều hàng xuất khẩu là nông, lâm,
thủy sản năng lực cạnh tranh yếu do không có chiến lược đầu tư dài hạn … Tất cả đều là
những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh
tế.
luôn phải đối diện với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ, và không phải là đối thủ nào
cũng dễ chơi. Do đó các doanh nghiệp luôn luôn phải làm mới mình tức là phải đầu tư vào
khoa học công nghệ, quy mô nhà xưởng, con người …, vì vậy yêu cầu về vốn là vô cùng
quan trọng đối với các doanh nghiệp, vốn là chìa khóa cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Trong vốn đầu tư, vấn đề tạo lập, thu hút và sử dụng vốn luôn là vấn đề trọng tâm
được nhà nước và các doanh nghiệp rất quan tâm. Giữa tạo lập, thu hút và sử dụng luôn tồn
11