mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư. Lấy thực tế ở Việt nam để chứng minh. - Pdf 31

MỤC LỤC
Chương I : Nguồn vốn trong doanh nghiệp
I. Khái niệm,bản chất và vai trò của nguồn vốn.
1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn
2. Bản chất, vai trò của của nguồn vốn
2.1. Bản chất của nguồn vốn
2.2 .Vai trò của nguồn vốn
II – Nguồn vốn trong doanh nghiệp
1. Nguồn vốn chủ sở hữu
2. Nguồn vốn nợ
3. Điều kiện và động lực để thúc đẩy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư:
Chương II. Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng vốn của
DNNN Việt Nam hiện nay
I. Doanh nghiệp nhà nước .
1. Khái niệm của doanh nghiệp nhà nước
2.Vai trò của doanh nghiệp nhà nước .
II. Vốn đầu tư phát triển trong DNNN
1. Khái niệm
2. Nội dung của vốn đầu tư phát triển trong DNNN
2.1. Theo mục đích sử dụng
2.2 Theo nguồn gốc sở hữu về vốn
1
III . Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của
DNNN Việt Nam
1. Theo mục đích sử dụng
1.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.2 Vốn lưu động bổ sung
1.3 Các loại vốn khác
2. Theo nguồn gốc sở hữu vốn
2.1 Thực trạng huy động vốn chủ sở hữu ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
a) Vốn ngân sách nhà nước

Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, nhóm sinh viên đầu tư xin nghiên cứu
đề tài:
“ Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp. Thực trạng và giải pháp huy động và
sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện
nay”.
Chúng em xin chân thành cảm ơn TS. Từ Quang Phương đã giúp đỡ chúng
em hoàn thành đề án này.
Chương I : Nguồn vốn trong doanh nghiệp
I. Khái niêm,bản chất và vai trò của nguồn vốn đầu tư
1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn
Vốn(C) là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.
Các nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động
và tất cả các tài sản vật chất khác.
3
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới
dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu
tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội.
2. Bản chất, vai trò của của nguồn vốn đầu tư
2.1. Bản chất của nguồn vốn
Xét về bản chất ,nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay
tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất
xã hội .Điều này được kinh tế học cổ điển ,kinh tế học chính trị Mac –Lênin và
kinh tế học hiện đại chứng minh.
Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc ” Adam Smith,một đị diện điển
hình của kinh tế cổ điển đã khẳng định:Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia
tăng vốn .Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm .Nhưng
dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa ,nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao
giờ tăng lên”.
Sang thế kỷ XIX,khi nghiên cứu về vấn đề cân đối kinh tế kinh tế ,về các

khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự
gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được nhà kinh tế
học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Lý thuyết tổng quát về việc
làm, lãi xuất và tiền tệ’ của mình, John Maynard keynes đã chứng minh được
rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng
5
thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu
dùng:
Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
Như vậy:
Đầu tư = Tiết kiệm
Hay: (I) = (S)

Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính chất
song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là người
tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hoá
hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra
phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác. Mặt khác
đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì
vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là
tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất mà người ta gọi là
đầu tư.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng.
Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân
và tiết kiệm của chính phủ. Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xét trên góc độ
toàn nền kinh tế không nhất thiết được tiến hành cùng bởi một cá nhân hoặc
doanh nghiệp nào. Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có

Kế thừa những tư tưởng của những nhà kinh tế cổ điển, Mac đã trình bày
những quan điểm của mình vè vai trò của vốn qua các học thuyết : tích luỹ , tuần
hoàn và chu chuyển, tái sản xuất tư bản xã hội, học thuyết địa tô... Đặc biệt Mac
đã chỉ ra nguồn gốc của vốn tích luỹ là lao động thặng dư do người lao động tạo
ra, và nguồn vốn đó khi đem vào việc mở rộng và phàt triển sản xuất thì nó vận
động như thế nào. Khi nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mac đã tìm
thấy quy luật vận động tư bản (vốn) mà quy luật này nếu ta trừu tượng những
biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ thấy bổ ích rằng công thức:
T – H –(SLĐ-TLSX) ...SX...H’...T’
Công thức đó đã chỉ ra rằng bất kì một doanh nghiệp nào muốn thực hiện
quá trình sản xuất kinh doanh cũng đều phải trải qua 3 giai đoạn: Mua-Sản xuất-
Bán hàng. Và điều quan trọng cho mỗi người sản xuất, mỗi doanh nghiệp phải
biết tìm cách cấu trúc một cách khôn ngoan các yếu tố của tiền vốn ,đầu tư
nhằm tạo ra nhiều của cải nhất cho mỗi cá nhân , mỗi doanh nghiệp và của cả xã
hội. Công thức đó cũng chỉ ra rằng trong dòng chảy liên tục của vốn đầu tư nếu
như hình thái nào trong ba hình thái trên chưa đi vào chu trinh vận động liên tục
của các hoạt động sản xuất kinh doanh thì đồng vốn đó vẫn ở dạng tiềm năng,
chứ nó chưa đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi các cá nhân, mỗi doanh nghiệp và
toàn xã hội. Tích luỹ vốn (tư bản) theo Mac là: “Sử dụng giá trị thặng dư làm tư
bản, hay chuyển hoá giá trị thặng dư trở lại thành tư bản...”. Từ những phân tích
trên Mac đã chỉ ra bản chất của quá trình tích luỹ vốn trong các doanh nghiệp tư
bản chủ nghĩa: “Một khi kết hợp được sức lao động và đất đai tức là hai nguồn
gốc đầu tiên của cải, thì tư bản có một sức bành chướng cho phép nó tăng những
yếu tố tích luỹ của nó lên quá những giới hạn mà bề ngoài hình như do lượng
của bản thân tư bản quyết định, nghĩa là do giá trị và khối lượng của những tư
liệu sản xuất (trong đó tư bản tồn tại) đã được sản xuất ra quyết định”.
8
Yêu cầu khách quan của tích luỹ vốn đã được Mac khẳng định do những
nguyên nhân sau :”Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa thì quy mô tối thiểu mà một tư bản cá biệt phải có để có thể kinh doanh

Tiết kiệm quốc dân bằng tiết kiệm chính phủ cộng tiết kiệm tư nhân.
Trên thị trường tài chính
Lãi suất vừa là chi phí đi vay vừa là lợi ích đi vay. Chính vì thế nó đóng vai trò
điều chỉnh cân bằng trên thị trường vốn, đồng thời nó cho thấy vai trò của tiết
kiệm đối với tăng trưởng kinh tế
S(r) = I(r)
Ta có sơ đồ thị trường vốn:
I(r)
r
I
10
Nhìn vào sơ đồ ta thấy, bất kì sự thay đổi nào ảnh hưởng đến cung vốn sẽ
ảnh hưởng đến lãi suất và thông qua đó ảnh hưởng đến đầu tư. Nếu chính phủ
thực hiện chính sáh tài khoá thắt chặt làm tiết kiệm chính phủ tăng, đương cung
vốn dích sang phải dẫn tới lãi suất giảm, đầu tư tăng làm sản lượng tăng. Như
vậy, sự cắt giảm tiêu dùng sẽ giải phóng nguồn lực cho đầu tư.
Một nghiên cứu khác cũng khẳng định vai trò của vốn đầu tư đến tăng
trưởng và phát triển kinh tế, đó là hệ số ICOR
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy : muốn giữ tốc độ tăng
truởng ở mức trung bình thì tỉ lệ đầu tư phải đạt được ở mức từ 15% đến 20%
so vớI GDp tuỳ thuộc vào ICOR của từng nước.
Vốn đầu tư
ICOR = --------------------------------
GDP do vốn tạo ra

Từ đó suy ra:
Vốn đầu tư
Mửc tăng GDP = ------------------------
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.

động, có lợi nhuận và được phép tiếp tục đầu tư. Đối với doanh nghiệp nhà nước
việc tái đầu tư còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của nhà nước.
Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố
nhạy cảm. Đó là mối quan hệ giữa việc chi trả cổ tức và giữ lại lợi nhuận để tái
đầu tư. Khi công ty để lại lợi nhuận, tức là cổ đông không được nhận cổ tức, bù
lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của công ty.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ
bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu
lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kì
trước mắt (ngắn hạn) do cổ đôg chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ
lệ chi trả cố tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể
bị giảm sút.
Khi giải quyết vấn đề này cần lưu ý một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ.
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước.
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của
công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó.
- Hiệu quả của việc tái đầu tư.
c. Phát hành cổ phiếu:
Là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và là nguồn tài chính dài hạn rất
quan trọng của doanh nghiệp.
♦ Cổ phiếu thường.
13
Cổ phiếu thường( còn gọi là cổ phiếu thông thường)là loại cổ phiếu thông
dụng nhất, đồng thời là chứng khoán quan trọng nhất đước trao đổi, mua bán
trên thị trường chứng khoán.
Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư- các cổ
đông. Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường.
Công ty phát hành có thể mua lại những cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm
mục đích nào đó, chúng được gọi là cổ phiếu ngân quỹ. Việc mua bán những cổ

2. Nguồn vốn nợ:
a) Phát hành trái phiếu công ty.
• Khái niệm.
Đối với các công ty nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn thì không được phép phát hành cổ phiếu mà chỉ có thể phát hnàh trái
phiếu. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
• Phân loại:
Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụng
nhiều nhất, phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi xuất được
ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó. Tính
hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào những yếu tố sau:
15
Lãi suất của trái phiếu.
Kỳ hạn của trái phiếu.
Uy tín của doanh nghiệp.
Trái phiếu có lãi suất thay đổi: thực ra lãi suất của loại trái phiếu này phụ
thuộc vào nguồn lãi suất quan trọng khác. Trong điều kiện có mức lạm phát khá
cao và lãi suất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu
việt của loại trái phiếu này. Tuy nhiên loại trái phiếu này có một vài nhược điểm
là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều
này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính; việc quản lý trái
phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo điều
chỉnh lãi suất.
Trái phiếu có thể thu hồi: tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời
gian nào đó. Loại trái phiếu này phải được quy định ngay từ đầu để khách hàng
biết. Loại trái phiếu này có những ưu điểm như: có thể sử dụng như một cách
điều chỉnh lượng vốn sử dụng, khi không cần thiết doanh nghiệp có thể mua lại
các trái phiếu đó và thay bằng nguồn tài chính khác. Tuy nhiên nếu không có
hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này không được ưa thích.

Vay đầu tư tài sản lưu động.
Vay theo dự án.
• Hạn chế.
17

Trích đoạn Nguyên nhân làm giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status