Tình hình nông nghiệp hóa- đô thị hóa nông thôn Việt Nam - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BỘ MÔN:
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TÊN TIỂU LUẬN:
Nhóm: NPTP
Lớp HP: 210700601 Lớp: ĐHQT5
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Hương
Tp. HCM, tháng 06, năm 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
oOo
BỘ MÔN:
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TÊN TIỂU LUẬN:
TÌNH HÌNH
NÔNG NGHIỆP HOÁ - ĐÔ THỊ HOÁ
NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM NPTP:
STT Họ và tên
MSSV
1
Phạm Ngọc Minh Đan 09169641
2
Nguyễn Thị Bích Đào 09079401
3
Đỗ Mỹ Linh 09074151
4
Hà Huyền Nghị 09203291
5
Bùi Thị Minh Nguyệt (nhóm trưởng) 09074791

2. Mục đích chọn đề tài
• Trang bị những kiến thức cơ bản về vai trò, vị trí và tình hình phát triển
ngành nông nghiệp nước ta hiện nay.
• Hiểu rõ những chính sách nông nghiệp hiện hành và những chính sách sẽ được
áp dụng trong thời gian tới. Để có cái nhìn đúng đắn về đường lối phát triển
của Đảng và Nhà nước.
• Chuẩn bị những kiến thức phục vụ cho môn học “ Kinh tế phát triển”.
• Giúp các thành viên trong nhóm làm quen việc gắn kết lí luận và thực tiễn.
Nâng cao kỹ năng làm việc theo nhóm.
3. Tầm quan trọng của đề tài
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 4
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
Đô thị hoá là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển. Những
năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và với những sắc
thái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế, xã
hội toàn thế giới – quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư, thay đổi các mối
quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hoá những chức năng phi nông
nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hoá đô thị . Không có một quốc
gia nào trên thế giới đạt được nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế lại không trải
qua giai đoạn đô thị hoá, trong đó có Việt Nam. Tương lai của chính người dân, tất cả
phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị thích ứng với quá trình đô thị hoá nhảy vọt này!.
Báo cáo của World Bank cho rằng Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt là các nước có
nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hóa như Việt Nam, thì nông
nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho
nông dân. Hay nói cách khác, nông dân muốn thoát nghèo vẫn phải gắn với nông
nghiệp. Với đặc điểm 80% dân số nước ta sống ở nông thôn và trên 70% lực lượng
lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, việc phát triển toàn diện nông thôn có
một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta. Kinh
nghiệm trên thế giới đã chỉ ra rằng nếu không phát triển nông thôn thì không một
nước nào có thể phát triển ổn định, bền vững với tốc độ cao một cách lâu dài. Vì thế,

mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.
• Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn
hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc
trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng
hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới
và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại,
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 6
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất
nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính
cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi...
2.2. Đô thị hóa
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo
tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị
trên tổng số dân hay diện tích của một vùng
hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia
tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính
theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ
đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên
là tốc độ đô thị hóa.
Đô thị hóa là quá trình phát triển, hoàn thiện cơ sở vật chất, thể hiện qua các
mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống... Các nước phát triển (như tại châu
Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với
các nước đang phát triển (như Việt Nam hay Thái Lan) (khoảng 30%). Đô thị các
nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với
trường hợp các nước đang phát triển.
Theo khái niệm của ngành địa lí, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không
gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực
theo thời gian.

nghiệp hàng hóa: vì nước ta đi lên từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung
tự cấp, chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên; Do đường lối đổi mới của nước ta là chuyển
sang nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa có sự điều tiết của nhà nước.
• Cơ cấu ngành nông nghiệp đang có sự chuyển biến rõ nét: đẩy mạnh
chuyên môn hóa, cơ giới hóa và đa dạng hóa các mặt hàng; Hình thành các vùng nông
nghiệp chuyên môn hóa kết hợp với chế biến nông sản...
• Tổ chức nông thôn theo huyết thống: gia đình và gia tộc: Ở nông thôn Việt
Nam, gia tộc đóng vai trò rất quan trọng. Nếu phương tây coi trọng vai trò của cá
nhân thì phương đông coi trọng vai trò của gia đình và gia tộc. Nhưng nếu xét ở
phương đông với nhau, Trung Quốc xem gia đình nặng hơn gia tộc thì ở Việt Nam,
gia tộc lại quan trọng hơn gia đình. Mỗi gia tộc đều có trưởng họ (hay còn gọi là tộc
trưởng), nhà thờ họ, gia phả, giỗ họ,...
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 8
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
• Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú và xóm, làng: Nếu coi tổ chức nông
thôn theo huyết thống là bước phát triển thứ nhất thì tổ chức nông thôn theo địa bàn
cư trú là bước phát triển tiếp theo để hình thành nên làng và xóm, đơn vị tổ chức quan
trọng nhất của nông thôn Việt Nam. Một làng gồm nhiều xóm gộp lại.
• Về dân cư thì một thôn có hai loại:
_ Dân chính cư (còn gọi là nội tịch), là dân gốc của thôn, dân chính cư được
hưởng nhiều quyền lợi hơn dân ngụ cư rất nhiều.
_ Dân ngụ cư (còn gọi là ngoại tịch), là dân ở nơi khác đến, những người dân
này chỉ được làm một số nghề mà dân chính cư không muốn làm như: làm thuê, làm
mướn, làm mõ,... trong khi vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như dân chính cư.
Dân ngụ cư thường bị khinh rẻ, coi thường. Dân ngụ cư muốn thành dân chính cư thì
phải: cư trú ở làng hơn ba đời, có một ít điền sản.
• Tính cộng đồng và tự trị: việc làng xã Việt Nam được tổ chức theo huyết
thống, địa bàn cư trú, truyền thống nam giới và hành chính như ở phần trên làm cho
làng có tính cộng đồng và tự trị rất cao. Tính cộng đồng làm cho các thành viên trong
làng đều hướng tới nhau, đó là đặc trưng hướng ngoại; còn tính tự trị làm cho các

trình đô thị hóa.
Thủ tục hành chính giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình về
các vấn đề kinh tế, xã hội... Thủ tục hành chính không bắt nguồn từ quy phạm
pháp luật quản lý, mà sâu xa hơn từ quan điểm quản lý và nội dung quản lý.
Quan điểm quản lý của chế độ bao cấp là kiểm soát các hoạt động trong xã
hội, quan điểm quản lý của cơ chế thị trường là kích thích và tạo điều kiện.
Phương pháp quản lý hành chính bao cấp là “lệnh”, của cơ chế thị trường là
“luật”
Thủ tục hành chính là thủ tục chuẩn bị cho việc ra quyết định. Thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục cấp giấy phép xây dựng... đều là
các thủ tục để ban hành một quyết định, một lệnh theo nghĩa khái quát. Xu
hướng chung là cùng với việc nâng cao trình độ dân trí, tăng cường ý thức
thượng tôn pháp luật, không ngừng giảm bớt việc kiểm soát hành vi (các loại
giấy phép đều là công cụ kiểm soát), tăng cường hậu kiểm và xử lý một cách
nghiêm minh để tăng cường tính tự động hóa vận hành của xã hội theo pháp
luật. Để làm tốt việc đó, cần phải đơn giản hóa nội dung quản lý.
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 10
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
• Xu thế hội nhập và kinh tế thị trường: Kinh tế đô thị vốn là con đẻ của kinh tế
hàng hóa là kết quả phát huy tác dụng của cơ chế thị trường. Nhưng chỉ có sản
xuất thì không thể hình thành đô thị hoàn chỉnh, cần phải có sự bảo đảm thị
trường lưu thông. Thị trường phát triển nhanh hay chậm và được kiện toàn hay
không, trên chừng mực khá lớn phụ thuộc vào sự lưu động các yếu tố sản xuất
có thông suốt và hợp lý hay không, ảnh hưởng đến thành bại và tiền đề phát
triển của đô thị
• Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Khi nền kinh tế phát triển nói chung và quá trình công nghiệp hóa diễn ra nói
riêng, khoa học - kỹ thuật là yếu tố không thể thiếu. Sự phát triển của khoa học
- kỹ thuật là tiền đề phục vụ qúa trình công nghiệp hóa, nâng cao năng suất lao
động, hiệu quả sản xuất. Đồng thời, là nhân tố giúp cho sự phát triển bền

gieo trồng, với sản lượng có thể lên đến 39,75 triệu tấn.
Phân tích tình hình cung cầu thế giới và khả năng cung ứng của Việt Nam, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo khối lượng gạo xuất khẩu năm 2011 cả
nước ước đạt mức 5,5-6,1 triệu tấn.
Có quan điểm tranh luận rằng đóng góp này không quan trọng vì sự thiếu hụt
về cung lương thực - thực phẩm có thể được đáp ứng bằng cách nhập khẩu. Cũng
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 12
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
cần chú ý rằng, nhập khẩu các yếu tố đầu vào của sản xuất (nguyên vật liệu, máy
móc, thiết bị cho sản xuất) làm tăng vốn sản xuất, còn việc nhập khẩu lương thực
thực phẩm là để tiêu dùng, không gia tăng vốn sản xuất cho nền kinh tế. Vì vậy cần
có sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa nhập khẩu lương thực - thực phẩm và tư liệu sản xuất.
1.1.2. Cung cấp nguyên liệu cho Công nghiệp
Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các
ngành công nghiệp chế biến nông sản trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa
ở nhiều nước đang phát triển.
Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam có
những bước phát triển tích cực. Với hàng chục ngàn cơ sở thuộc các thành phần kinh
tế với các quy mô khác nhau như xay xát gạo, chế biến chè, cà phê, hồ tiêu, chế biến
đường mật, hoa quả hộp, dầu thực vật… Hàng năm công nghiệp chế biến nông sản
đã sản xuất nhiều loại hàng hoá phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Bảng dưới đây biểu hiện cho mức sản lượng ngày càng tăng lên của các cây
công nghiệp:
Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm (Đơn vị nghìn tấn)
(Nguồn tổng cục thống kê Việt Nam)
Chè
(Búp tươi)
Cà phê
( Nhân)
Cao su

2008 4602.0 2136.4 2465.6
Sơ bộ 2009 4847.6 2277.7 2569.9
Sản lượng lâm nghiệp (Đơn vị tỷ đồng)
(Nguồn tổng cục thống kê Việt Nam)
Năm Tổng số
Chia ra
Trồng và nuôi
rừng
Khai thác
lâm sản
Dịch vụ và các
hoạt động lâm
nghiệp khác
Tỷ đồng
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 14
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
2000 7673.9 1131.5 6235.4 307.0
2001 7999.9 1054.2 6623.6 322.1
2002 8411.1 1165.2 6855.0 390.9
2003 8653.6 1250.2 6882.3 521.1
2004 9064.1 1359.7 7175.8 528.6
2005 9496.2 1403.5 7550.3 542.4
2006 10331.4 1490.5 8250.0 590.9
2007 12108.3 1637.1 9781.0 690.2
2008 14369.8 2040.5 11524.6 804.7
Sơ bộ 2009 15367.2 2182.2 12309.1 875.9
1.1.3. Cung cấp ngoại tệ thông qua xuất khẩu nông sản
Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế, hàng nông sản Việt Nam đã có mặt
trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển đất nước.
Các nước đang phát triển đều có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ để nhập khẩu

trọng sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 6,4% trong cơ cấu kinh tế song khu vực nông
thôn có vị trí quan trọng. Lực lượng lao động nông nghiệp năm 2010 của Hà Nội có
trên 2,4 triệu người, chiếm 59% dân số khu vực nông thôn (tăng 1,6 lần so với năm
2006).
1.1.5. Cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác
Thông qua:
• Dạng trực tiếp: ngồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản,
nhập khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp. Nguồn thu này được tập trung vào
ngân sách Nhà nước và dùng để đầu tư cho phát triển kinh tế.
Về nguyên tắc, đã sử dụng tài nguyên thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với
Nhà nước. Để thúc đẩy nông nghiệp phát triển, cần áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ
và thuế chỉ là một trong những công cụ góp phần giải quyết khó khăn tài chính trước
mắt cho tổ chức, cá nhân được giao đất để sản xuất. Với mục tiêu khuyến khích phát
triển nông nghiệp nhằm giảm nhẹ đóng góp cho nông dân, việc thu thuế không nhằm
mục tiêu thu ngân sách. Nhưng ngày 24/11/2010 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 16
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Do nông nghiệp là lĩnh
vực chậm phát triển, đời sống nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn và việc áp dụng
chính sách miễn, giảm thuế là cần thiết. Tuy nhiên, không miễn toàn bộ thuế sử dụng
đất nông nghiệp đối với mọi loại đất nông nghiệp và đối với diện tích vượt trên hạn
mức giao đất nông nghiệp bởi một số lý do đất đai là tài nguyên quốc gia, thuộc sở
hữu toàn dân.
• Dạng gián tiếp: với chính sách quản lý giá của Nhà nước theo xu hướng là giá
sản phẩm công nghiệp tăng nhanh hơn giá nông sản, tạo điều kiện cho gia tăng
nhanh tích luỹ công nghiệp từ “hy sinh” của nông nghiệp.
Sự dịch chuyển vốn từ nông nghiệp qua các ngành kinh tế khác có nguồn gốc
từ yêu cầu của tiến trình công nghiệp hoá. Do trong giai đoạn đầu của quá trình phát
triển kinh tế, đầu tư và trợ giúp nước ngoài thường chỉ là những nguồn bổ sung, trong
khi đó nên nông nghiệp còn la ngành thống trị trong nền kinh tế và là nguồn duy nhất

1.2. Nông nghiệp đóng góp vào tốc độ phát triển chung của nền kinh tế
nhưng giảm dần tỷ trọng
Thực tiễn trên Thế giới cho thấy rằng xu hướng chung là trong ngắn hạn vai
trò của nông nghiệp đóng góp rất quan trọng vào tốc độ tăng trưởng GDP và giảm
tương đối theo dài hạn và giảm dần theo thời gian.
Tổng sản phẩm quốc nội của toàn nền kinh tế trong 12 tháng năm 2010 tăng
gần 13 tỷ USD so với năm 2009, đưa GDP của Việt Nam đạt 104,6 tỷ USD.
Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu chính thức về tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam trong năm 2010. Theo đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tính theo giá
thực tế, đạt 1,98 triệu tỷ đồng. Con số này tương đương khoảng 104,6 tỷ USD (tính
theo tỷ giá liên ngân hàng ngày 28/12), nhiều hơn so với năm 2009 khoảng 13 tỷ
USD. Nếu so sánh theo kỳ gốc (năm 1994), tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
trong năm nay đạt khoảng 6,78% so với năm 2009. Con số này cao hơn gần 0,3% so
với kế hoạch được Quốc hội phê duyệt đầu năm. Tốc độ tăng trưởng cũng tăng dần
đều theo các quý và cao nhất vào quý IV (khoảng 7,3%). Về cơ cấu ngành, khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng mạnh nhất (7,7%), dịch vụ tăng 7,5% trong khi nông
nghiệp chỉ tăng khoảng 2,8%.
Để đạt được mức tăng trưởng nói trên, tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
trong năm 2010 đạt khoảng 140.000 tỷ đồng, giảm khoảng 8% về giá trị tuyệt đối so
với năm 2009. Tuy nhiên, con số này vẫn cao hơn khoảng 10% so với kế hoạch đề ra
hồi đầu năm.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính đến 21/12 năm nay, cả nước thu hút được
969 dự án với tổng vốn FDI đăng ký là 17,23 tỷ USD. Tuy chỉ có 8 dự án nhưng
Quảng Nam lại là địa phương thu hút FDI mạnh nhất cả nước với lượng vốn gần 4,2
tỷ USD, gấp gần 2 lần hai địa phương tiếp theo là Bà Rịa - Vũng Tàu và Quảng Ninh.
Trong những năm gần đây, sau một giai đoạn tăng trưởng liên tục, GDP nông
nghiệp đã có dấu hiệu giảm. Nếu GDP nông nghiệp chiếm 41,1 % tổng GDP giai
đoạn 1986-1990 thì giai đoạn 2001-2005 chỉ chiếm 22,1 %. Tăng trưởng GDP cũng
giảm từ 4,6% giai đoạn 1996-2000 xuống còn 4 % giai đoạn 2001-2005, và trong
năm 2009 -2010 là 6,78%.

gần 5 tỉ USD, gỗ và sản phẩm gỗ đứng thứ sáu với 3,4 tỉ USD, gạo đứng thứ bảy với
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 20
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
3,2 tỉ USD. Những mặt hàng xuất khẩu quan trọng khác của khu vực kinh tế này là
cao su 2,4 tỉ USD; càphê 1,8 tỉ USD; hạt điều trên 1,1 tỉ USD.
Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế – xã
hội, nhưng về cơ bản, nền nông nghiệp Việt Nam vẫn còn rất lạc hậu. Trên 70% dân
số và 3/4 lực lượng lao động của nước ta đang sống ở vùng nông thôn. Trong cơ cấu
nền kinh tế quốc gia, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tuy chỉ đóng góp khoảng
15 – 16% vào GDP của Việt Nam, nhưng lại sử dụng tới 53,9% lực lượng lao động.
Trước mắt, từ nay (năm 2011) đến năm 2015, nông nghiệp, lâm nghiệp và
thuỷ sản vẫn là một ngành kinh tế được Nhà nước quan tâm rất cao, đặc biệt đối với
các tỉnh nghèo với đại đa số dân sống ở nông thôn. Do đó, nếu các chính quyền địa
phương quá tập trung đầu tư vào công nghiệp và dịch vụ mà không quan tâm đúng
mức đến phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc
sống của đại đa số người dân địa phương. Phát triển nông nghiệp bền vững và nông
thôn mới cần được coi là trọng tâm của đa số các tỉnh trong cả nước hiện nay.
Đây là một quá trình lâu dài và đòi hỏi một chiến lược phát triển có kế hoạch
rõ ràng và hợp lý. Nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển dịch theo hướng đa
dạng hóa, phát triển hỗn hợp các loại hình canh tác thay thế cho cho chế độ độc canh,
hạn chế dần tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Tăng cường vận dụng khoa học
kỹ thuật hiện đại trong việc lai tạo và tìm giống mới, tiêu chuẩn hóa chất lượng nông
sản, nhưng đồng thời nâng cao ý thức trong việc sử dụng tiết kiệm được diện tích đất
sản xuất, phát triển nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau.
Trên thế giới, có những mô hình phát triển thành công dựa trên phát triển
nông nghiệp, kết hợp đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ (cung cấp đầu vào, chế
biến sản phẩm đầu ra), tổ chức cho người nông dân vào các hiệp hội để tăng hiệu quả
sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường như Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc,
Hà Lan, New Zealand v.v. Ngoài ra, nông nghiệp cũng là khu vực được mong đợi sẽ
tạo ra sản phẩm mới quan trọng trong tương lai: như các loại cây trồng mới, chất đốt

nhanh nhất (từ 15,8% năm 1990, lên 17,4% năm 1995, lên khoảng 21,8% năm 2000,
lên 24,7% năm 2005 và lên 26,6% năm 2010).
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 22
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
2.3. Tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP
Tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều đi kèm với những thay
đổi trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ba nhóm ngành nông nghiệp (bao gồm
nông- lâm nghiệp và thuỷ sản), công nghiệp (bao gồm công nghiệp và xây dựng) và
dịch vụ. Cơ cấu kinh tế của nước ta trong thời gian qua đã có sự chuyển dịch tích cực
(mặc dù chưa rõ nét): tỷ trọng nông- lâm- thuỷ sản trong GDP đã giảm đều đặn (từ
40,5% xuống 22,09% trong thời kỳ 1991-2008) và tỷ trọng công nghiệp- xây dựng
tăng lên tương ứng (từ 23,8% tăng lên 39,73% trong cùng thời kỳ). Trong khi đó, khu
vực dịch vụ sau một thời gian dài chững lại (1995-2004) và tăng chậm hơn nhịp độ
tăng trưởng chung của GDP, hiện nay đã trở lại tốc độ tăng trưởng khá.
Cơ cấu kinh tế Việt Nam phân theo nhóm ngành, 1991-2008

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế Việt Nam chuyển dịch chậm hơn dự kiến, kể cả cơ
cấu ngành, cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ... Trong nhiều năm qua, xét theo tỷ
trọng giá trị tăng thêm trong GDP, cơ cấu kinh tế chủ yếu biến đổi theo sự chuyển
dịch của hai nhóm ngành nông- lâm - thủy sản và công nghiệp- xây dựng. Tỷ trọng
dịch vụ trong GDP biến động không ngừng theo từng năm và chưa thể hiện một xu
thế chuyển dịch rõ ràng hướng tới một cơ cấu hiện đại, trong khi đây là khu vực có
rất nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển.
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 23
NÔNG NGHIỆP HOÁ– ĐÔ THỊ HOÁ NÔNG THÔN VIỆT NAM LHP: 210700601
Chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam nêu rõ: "Đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân
dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại".
Hiện nay, nếu đọc nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các

bị thu hẹp, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, an sinh xã hội và an toàn lương thực.
2.4. Đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng giảm
Việc chạy theo phát triển kinh tế khiến nhiều tỉnh cho phép khai thác tài
nguyên mà không cần biết đến hậu quả về môi trường và lợi ích kinh tế. Điều này
dẫn đến tình trạng lãng phí đất nông nghiệp và tiềm lực thực sự của đất nước, trong
khi khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản rất cần vốn đầu tư thì lại chỉ được
phân bổ hạn chế. Có thể quan sát điều này qua tổng hợp ngân sách nhà nước đầu tư
cho khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản ngày càng giảm: từ 7,5% tổng vốn
đầu tư năm 2005 xuống 6,26% năm 2009 (số liệu của tổng cục Thống kê năm 2009).
Do vậy, việc điều động, phân phối nguồn vốn vào các ngành đầy tiềm năng
của nông nghiệp, hơn bao giờ hết cần sự khuyến khích, động viên từ phía chính phủ.
Chúng ta rất cần sự hướng dẫn, tư vấn để các nguồn vốn lớn từ trong nước cũng như
từ các doanh nghiệp lớn nước ngoài được phát huy hiệu quả cao và hỗ trợ cho việc
chuyển dịch ngày càng nhanh chóng và giúp cho nông nghiệp Việt Nam bước lên giai
đoạn hiện đại.
2.5. Năng suất lao động nông nghiệp
Năng suất lao động nông nghiệp ở Việt Nam còn thấp và tăng trưởng chậm.
Năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế năm 2009 đạt khoảng 34,7 triệu
đồng/người, vẫn chưa vượt qua được 2.000 USD/người, trong đó nhóm ngành nông,
nghiệp- thuỷ sản chỉ đạt 12,4 triệu đồng/người... Năng suất lao động nông nghiệp
Việt Nam so với các nước chỉ chiếm 75% so với Trung Quốc, 25% so với Thái Lan
và chỉ đạt 4% so với Malaysia.
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), một lao động nông nghiệp của
Đan Mạch mỗi năm tạo ra một giá trị gia tăng là 63.131 USD (bình quân trong những
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hương 25

Trích đoạn Thị trường nông sản Nội dung của chính sách ruộng đất 1 Chính sách quyền sử dụng đất Chính sách quy hoạch ruộng đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status