TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI TRONG VIỆC
ĐIỀU HÀNH NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY VÀ
BÀI HỌC TỪ TRUNG QUỐC
Nhóm sinh viên:
1, Đào Hoài Thu – 1117120229
2, Trần Khánh Nga- 1117120181
3, Nguyễn Thị Thơ – 1211120101
4, Phạm Thu Hương – 1211120054
5, Trương Công Mỹ Hạnh-
1117120222
6, Nguyễn Thị Thảo - 1113120197
7, Vũ Thị Anh – 1113120103
8, Nguyễn Việt Anh - 1113120104
9, Nguyễn Minh Ngọc - 11111
20215
10, Nguyễn Thị Lan – 1113120170
11, Nguyễn Thị Phương Anh -
1111120212
12, Trần Thị Hoàng Hà –
1111120113
13, Nguyễn Quang Tùng –
1111120208
14, Lê Thị Thùy Dung -
1111120144
Giáo viên hướng dẫn: TS Hoàng Xuân Bình
Hà Nội
2013
MỤC LỤC
I. Lý thuyết chung về Bộ ba bất khả thi
Giáo sư Robert Mundell được xem là cha đẻ của lý thuyết bộ ba bất khả
thi. Và “mô hình Mundell-Fleming” được xem là điếm khởi đầu của bộ ba bất khả
thi, là kết quả nghiên cứu của Robert Mundell (1932) và J.M.Fleming (1911-
1976) trong thời gian làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF.
Đây là mô hình lý thuyết kinh tế học rất nổi tiếng. Vào những năm 1980
khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa
việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì Lý thuyết
bộ ba bất khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế
mở.
1.Khái niệm
Lý thuyết về bộ ba bất khả thi (The Impossible Trinity) là một chính sách
kinh tế quốc tế. Lý thuyết phát đó là: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện
cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách vĩ mô:
- Ổn định tỷ giá
- Tự do hóa dòng vốn
- Chính sách tiền tệ độc lập
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2
trong 3. Nó có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do
hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó
có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song
phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm
4
soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm
phát hoặc suy thoái (giống như Archentina hoặc hầu hết Châu Âu)" trích lời đề
tặng Robert Mundell - Paul Krugman, 1999.
1.1 Ổn định tỉ giá
Ốn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa đế chính phủ tiến hành các
biện pháp ổn định giá cả. Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với
nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư.
+ Vô hình : Tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản
trị tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập.
− Lợi ích lớn nhất-lợi ích vô hình-mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động lực
giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp
những thay đối tù' hội nhập. Trên thực tế chính nhờ vào quá trình tự do hóa tài
chính cuối những thập niên 1990, nhất là sau trở thành thành viên WTO 2007
mà chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách sâu rộng, trong đó có cải
cách thủ tục hành chính và chất lượng thể chế.
− Mặt trái: Hội nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh
tế những năm gần đây. Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn
hạn và mang tính đầu cơ. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1990 và cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng có nguyên nhân từ hội nhập tài chính
nhưng thiếu quy tắc điều tiết kèm theo. Tình trạng bong bóng chứng khoán và
bất động sản ở Việt Nam giai đoạn 2005-2008 dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ
mô một phần cũng do tự do hóa tài chính nhung thiếu cơ chế giám sát tương
6
thích. Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang
tính đầu cơ.
1.3.Chính sách tiền tệ độc lập
Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện
nhằm mục đích điều tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách
đến tỉ giá hay tăng giảm, hay các biến số vĩ mô khác.
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính
sách tiền tệ để thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế. Chẳng hạn nếu nền kinh
tế có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung
tiền và ngược lại. Trong các trường hợp này chính phủ không quan tâm đến tỷ
giá tăng hay giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác. Chính vì sự độc lập tiền tệ
này mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ốn
định hơn. Tuy nhiên độc lập tiền tệ quá mức có thế là một cái cớ đế chính phủ
để mua vào đồng ngoại tệ hoặc giảm lãi suất trong nước nếu dòng tiền đi vào
quá nhiều; ngược lại, NHNN sẽ phải bán bớt ra một lượng ngoại tệ dự trữ để thu
về đồng nội tệ hoặc gia tăng lãi suất trong nước khi dòng vốn đảo chiều. Trong
bối cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ hay nói cách khác điều
hành chính sách tiền tệ vì mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế sẽ không thể
đảm bảo vì cung tiền và lãi suất không phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền
kinh tế mà do tỷ giá hay dòng tiền vào ra quyết định.
2.2.Sự kết hợp giữa độc lập tiền tệ và tự do hóa dòng vốn.
Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế
độ tỷ giá thả nổi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá.
Với lựa chọn này, chính phủ (NHNN) được quyền tự do ấn định lãi suất
nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo những nguyên tắc của thị trường.
Ngược lại với cách kết hợp ở trên, nếu NHNN muốn có một chính sách tiền tệ
độc lập vì mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế thì buộc phải thả nổi tỷ giá
khi tài khoản vốn đã được tự do.
Trong nền kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài, dòng vốn chảy vào và
chảy ra, tỷ giá hối đoái, và lạm phát là những yếu tố luôn có liên hệ mật thiết với
nhau. Tuy nhiên, khi dòng vốn ra vào được tự do, nếu muốn giữ tỷ giá hối đoái
ổn định thì ngân hàng trung ương buộc phải tung đồng nội tệ mua đồng ngoại
tệ trong trường hợp dòng tiền đi vào quá nhiều; ngược lại, một lượng ngoại tệ
dự trữ sẽ phải bán bớt ra để thu về đồng nội tệ khi dòng vốn đảo chiều. Trong
bối cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ hay nói cách khác điều
hành chính sách tiền tệ vì mục tiêu lạm phát sẽ không thể đảm bảo vì cung tiền
không phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền kinh tế mà do tỷ giá hay dòng
tiền vào ra quyết định.Ngược lại, nếu ngân hàng trung ương muốn có một chính
9
sách tiền tệ độc lập vì mục tiêu lạm phát thì buộc phải từ bỏ mục tiêu cố định tỷ
giá khi tài khoản vốn đã được tự do. Vì vậy, không thể có chính sách tiền tệ độc
lập trong điều kiện cố định hay coi như cố định tỷ giá hối đoái và tài khoản vốn
được tự do.
NHNN đã tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết
khấu nhằm thắt chặt hơn tiền tệ, qua đó kiểm soát lạm phát đang có xu hướng
gia tăng.
- Chính sách về dự trữ bắt buộc:
Tháng 5/2001 tăng tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ lên 15%, giảm tỷ lệ DTBB
bằng VND xuống 3%; tháng 11/2001 giảm tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ xuống còn
10%.
Từ năm 2003, các TCTD được tính cả tiền gửi DTBB tại các chi nhánh
NHNN, đây là bước khởi đầu cho việc thực hiện mục tiêu tăng cường khả năng
điều tiết tiền tệ của công cụ này.
1.3. Chính sách kiểm soát vốn:
Chính sách nghiệp vụ thị trường mở
Khai trường tháng 7/2000, chính sách về nghiệp vụ thị trường mở đã góp
phần điều chỉnh vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng.
Từ năm 2004, Nghiệp vụ thị trường mở được tăng cường sử dụng như
một công cụ chủ yếu điều tiết tiền tệ, không chỉ khắc phục hiện tượng mất cân
đối cung cầu ngoại tệ, mà còn tạo điều kiện cho NHNN tăng dự trữ ngoại hối.
11
2. Các chính sách điều hành kinh tế tại Việt Nam từ sau 2007, vận dụng lý
thuyết bộ ba bất khả thi:
Sau khủng hoảng kinh tế 2008, các nền kinh tế trên thế giới đang phải đối
đầu với nhiều vấn nạn như sự gia tăng nợ công của khu vực Châu Âu, bong bóng
tài sản ở Trung Quốc và hiện nay là tình hình lạm phát ngày càng nghiêm
trọng ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Trong việc vận dụng bộ ba bất khả thi ở Việt Nam, chúng ta thấy rằng,
Việt Nam đang chấp nhận độc lập tiền tệ ở mức trung bình để duy trì một chế độ
tỷ giá ổn định ở mức cao (neo tỷ giá) và kiểm soát dòng vốn. Tuy nhiên trước
thực trạng lạm phát ngày càng cao và xu hướng hội nhập toàn cầu thì buộc
chúng ta phải chuyển đổi sang một hướng đi mới, hướng các chính sách nhằm
giảm tốc lạm phát. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta phải thay đổi
mức tăng giá trong năm 2007 ở con số 6,5% của Chính phủ trở nên khó khăn hơn.
Để giảm bớt áp lực gia tăng của chỉ số giá trong thời gian còn lại của năm
2007, NHNN rút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế bằng lựa chọn tăng dự trữ bắt buộc
tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ 5% lên 10%; theo đó có khoảng 40.000-50.000 tỉ
đồng, tương đương với số tiền bỏ ra để mua 3 tỉ Đôla nêu trên, quay trở lại kho của
Ngân hàng Nhà nước.
Trong nền kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài, ba yếu tố gồm: dòng vốn;
tỷ giá hối đoái và lạm phát luôn có liên hệ mật thiết với nhau.
Khi dòng vốn ra vào (tài khoản vốn) được tự do, nếu muốn giữ tỷ giá hối đoái ổn
định thì ngân hàng trung ương buộc phải tung đồng nội tệ mua đồng ngoại tệ trong
13
trường hợp dòng tiền đi vào quá nhiều; ngược lại, một lượng ngoại tệ dự trữ sẽ
phải bán bớt ra để thu về đồng nội tệ khi dòng vốn đảo chiều.
Trong bối cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ hay nói cách khác điều
hành chính sách tiền tệ vì mục tiêu lạm phát sẽ không thể đảm bảo vì cung tiền
không phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền kinh tế mà do tỷ giá hay dòng tiền
vào ra quyết định.
Ngược lại, nếu ngân hàng trung ương muốn có một chính sách tiền tệ độc
lập vì mục tiêu lạm phát thì buộc phải từ bỏ mục tiêu cố định tỷ giá khi tài khoản
vốn đã được tự do.
Nhìn vào việc vận hành chính sách tiền ở Việt Nam, dường như ba đỉnh của
tam giác bất khả thi đều được hướng đến: dòng vốn ra vào tương đối tự do, chính
sách tiền tệ lạm phát mục tiêu vẫn được thực hiện và tỷ giá thì ổn định.
Đây chính là nghịch lý mà Ngân hàng Nhà nước đã tạo ra. Khi làm như vậy, tiền
chảy vào không được đưa vào đầu tư mà lại cất trong két không tạo ra giá trị gia
tăng cho nền kinh tế và theo thời gian sẽ không lấy gì trả được cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Về dài hạn chính sách như vậy sẽ ảnh hưởng đến cả nền kinh tế.
Khi đồng tiền chảy vào không được đưa vào đầu tư mà lại cất trong két
không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế và theo thời gian sẽ không lấy gì trả
được cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vì mục tiêu đưa tiền vào Việt Nam của các
nhất, mỗi ngân hàng phải mua 3000 tỷ đồng.
- Tăng các loại lãi suất của NHNN
- NHNN ban hành quyết định thắt chặt cho vay chứng khoán.
15
Trên đây là những điều chỉnh mở rộng nghiệp vụ thị trường mở của
NHNN nhằm thu hồi lượng tiền mặt quá lớn đồng thời thắt chặt tín dụng của
các NHTM.
Phản ứng của nền kinh tế sau những CSTT thắt chặt:
- Lãi suất biến động mạnh và liên tục tăng cao trong những tháng đầu năm, xu
hướng giảm nhẹ trong những tháng cuối năm.
- Tỷ giá trên thị trường diễn biến tăng giảm phức tạp, tăng giảm thất thường đòi
hỏi những can thiệp sâu hơn của NHNN.
- Đầu tư giảm do các nhà đầu tư lo ngại về tình hình kinh tế bất ổn và do tình
hình vay vốn đầu tư khó khăn.
- Xuất hiện đầu cơ ngoại tệ vào thời điểm tỷ giá VND/USD tăng cao; đẩy giá vàng
tăng mạnh.
Chính phủ không dự đoán được tình hình khủng hoảng xảy ra nên việc áp
dụng CSTT của NHNN được thực hiện trong bị động và tình hình kinh tế căng
thẳng. Việc thắt chặt CSTT đột ngột trong giai đoạn đầu tạo ra cú sốc lớn và gây
ra các phản ứng tiêu cực tức thời của thị trường tiền tệ và của NHTM.
Thêm vào đó, sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu trong ngắn hạn sẽ khiến
cho nền kinh tế trong ngắn hạn không thể thực hiện được tất cả các mục tiêu
của chính sách tiền tệ.
Năm 2009
Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy
nền kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường
xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều
lĩnh vực kinh tế - xã hội khác của nước ta.
16
Thêm vào đó, lạm phát cao năm 2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu
trước) vào tháng 5 và lạm phát cơ bản cũng đang tăng lên, và có khả năng tăng
cao hơn nữa trước khi bắt đầu giảm vào cuối năm.
Đối với chính sách tiền tệ, ngay từ những tháng cuối năm 2009, những
biện pháp điều hành chính sách tiền tệ của NHNN bắt đầu cho thấy dấu hiệu
chuyển dần từ nới lỏng sang chính sách thắt chặt.
Trong lúc thực hiện mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế, phù hợp với mục
tiêu tăng trưởng kinh tế và định hướng tăng trưởng tín dụng của hệ thống,
NHNN cũng yêu cầu hệ thống tài chính tín dụng không được hạ thấp các điều
kiện cho vay và kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất. Việc đáp
ứng các nhu cầu vốn phục vụ kinh doanh bất động sản, đầu tư chứng khoán hay
cho vay tiêu dùng, kinh doanh theo đó sẽ bị kiểm soát chặt chẽ hơn. Điều chỉnh
giảm các chỉ tiêu tăng trưởng, từ mức 28,7% tăng tổng phương tiện thanh toán
và 37,73% tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế đến cuối năm 2009 xuống
chỉ còn 25% trong năm 2010 cho thấy quyết tâm rõ rệt và cụ thể nhất của
NHNN.
Trong năm 2010, NHNN đã điều hành được lượng tiền cung ứng thông
qua các công cụ chính sách tiền tệ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các
ngân hàng thương mại (NHTM) và nền kinh tế, tác động làm giảm mặt bằng lãi
18
suất thị trường. Thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất thỏa thuận bằng VND,
điều hành linh hoạt các mức lãi suất, kết hợp với các biện pháp khác để điều tiết
mặt bằng lãi suất thị trường phù hợp. Thực hiện các giải pháp hỗ trợ khu vực
nông nghiệp, nông thôn và gói kích thích kinh tế theo Nghị quyết của Chính
phủ, trong đó tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng mở rộng và nâng cao chất
lượng, hiệu quả tín dụng, đơn giản hóa thủ tục cho vay; tập trung vốn cho vay
chi phí sản xuất, kinh doanh khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Điều hành tỉ giá và thực hiện các biện pháp quản lý ngoại hối
chống suy giảm dự trữ ngoại hối Nhà nước, kiểm soát nhập siêu và ngăn ngừa
nguy cơ rủi ro về thanh khoản ngoại tệ và tỉ giá. Trong năm 2010, NHNN đã 2
lần điều chỉnh tăng tỉ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng; quy định mức lãi
cao, thanh khoản của hệ thống Ngân hàng căng thẳng, thị trường chứng khoán
suy kiệt, thị trường bất động sản đóng băng, nhưng lạm phát thực tế vẫn ở mức
quá cao 18.13%. Nguyên nhân của mức lạm phát năm 2011 quá cao so với mục
tiêu đề ra (<7%) là do những hệ quả , tất yếu của việc mở rộng cung tiền quá
mức và tăng trưởng tín dụng quá nóng trong giai đoạn trước đó và một phần
xuất phát từ việc điều hành CSTT thiếu chủ động.
Năm 2012
20
Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã giữ được lời hứa về biến động tỷ
giá khi tỷ giá USD/VNĐ ổn định xuyên suốt cả năm 2012. Tỷ giá bình quân liên
ngân hàng ở mức 20,828 VND/USD, và bằng con số cuối năm 2011. Việc giữ ổn
định thị trường ngoại hối có thể xem là điểm cộng lớn nhất cho công tác điều
hành chính sách tiền tệ năm 2012. Dưới đây là một số tác nhân quan trọng góp
phần bình ổn giữ tỷ giá USD/VNĐ trong suốt năm 2011:
(i) Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nhập siêu tháng 11 ước tính 50
triệu USD; và tính chung 11 tháng, cán cân thương mại thặng dư 14 triệu USD,
bằng 0.01% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.
(ii) Dữ liệu công bố của NHNN cho thấy cán cân thanh toán tổng thể quý
2/2012 thặng dư 2.169 tỷ USD; so với con số thặng dư 3.373 tỷ USD trong quý
1/2012. Dự báo, cán cân thanh toán tổng thể trong cả năm 2012 sẽ tiếp tục duy
trì trạng thái thặng dư.
(iii) Theo thống kê của nhiều tổ chức, dự trữ ngoại tệ quốc gia hiện dự
kiến khoảng hơn 20 tỷ USD, tương đương hơn 11 tuần nhập khẩu. Theo ước tính
của Chính phủ, dự trữ ngoại tệ sẽ tương đương 12 tuần nhập khẩu vào cuối năm
2012.
(iv) Giá vàng thế giới tương đối ổn định trong gần suốt cả năm qua đã góp
phần bình ổn thị trường hàng hóa này; và theo đó, không tạo ra sức ép đáng kể
nào cho thị trường ngoại hối như cùng kỳ năm 2011.
Trong việc sử dụng chính sách tiền tệ, NHNN đã tạo được sự ổn định cơ
bản trên hệ thống tài chính – ngân hàng, như thanh khoản được cải thiện, kéo
đông, sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước với giá quốc tế và sự lúng túng
của người dân trong tình hình áp dụng thương hiệu vàng quốc gia, giải quyết
nút thắt nợ xấu hiện vẫn chưa có nhiều tiến triển đáng kể vẫn là những vấn đề
còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách tiền tệ năm 2012.
Năm 2013
Quý I/2013 đã đạt được một số kết quả tích cực, như lạm phát thấp hơn
cùng kỳ năm trước, đã có xuất siêu
Kết quả của quý I cũng là tín hiệu để giảm hệ số ICOR năm 2013 so với
năm trước, cải thiện dần hiệu quả đầu tư - yếu tố tiềm ẩn, nguyên nhân sâu xa
để giảm lạm phát, giảm nhập siêu. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền
kinh tế nói chung và của khu vực kinh tế nhà nước nói riêng còn thấp so với
nhiều nước.
Về cán cân thương mại, chúng ta đã chuyển từ nhập siêu lớn trong nhiều
năm trước sang xuất siêu từ tháng 5/2012 đến tháng 2/2013.
Trong 3 tháng đầu năm, Việt Nam vẫn xuất siêu gần nửa tỷ USD, mức xuất
siêu lớn nhất so với cùng kỳ từ trước tới nay và là tín hiệu khả quan để cả năm
2013 tiếp tục xuất siêu hoặc nếu nhập siêu cũng không lớn như chỉ tiêu kế hoạch
(dưới 8% kim ngạch xuất khẩu, tương đương với 10 tỷ USD). Nhờ đó, cán cân
thương mại được thặng dư (theo ước tính của các chuyên gia, dự trữ ngoại hối
tính đến nay đã đạt được 14 tuần nhập khẩu, vượt qua ranh giới an toàn tài
chính theo thông lệ quốc tế).
23
Tình trạng găm giữ ngoại tệ giảm với 2 lý do chính: Tỷ giá đã được ổn
định trong thời gian tương đối dài (năm 2011 chỉ tăng 2,24%, năm 2012 giảm
0,96%, quý I/2013 chỉ tăng 0,36%); lãi suất gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ thấp xa
so với lãi suất tiết kiệm bằng VND, mặc dù lãi suất tiết kiệm bằng VND đã qua
nhiều lần giảm. Nếu tính chung cả 2 yếu tố này thì việc giữ ngoại tệ là không có
lợi. Tình trạng găm giữ ngoại tệ giảm tạo điều kiện để giảm tình trạng “đô la
hoá” nền kinh tế kéo dài trong nhiều năm trước đó, đồng thời củng cố và nâng
cao lòng tin đối với đồng nội tệ, một trong những yếu tố rất quan trọng góp
đầu tư nước ngoài chỉ được mua cổ phiếu được định danh bằng đồng ngoại tệ
chứ không được mua trái phiếu cũng như cổ phiếu được định danh bằng đồng
nhân dân tệ. Điều này sẽ duy trì mức cung nội tệ trong nước nhằm ổn định lãi
suất trong nước và theo đuổi mục tiêu lạm phát ổn định.
Hạn chế đầu tư nước ngoài trực tiếp: hoạt động đầu tư nước ngoài phải
chịu sự kiểm soát và điều phối bởi Ủy ban kế hoạch Nhà nước.
Kiểm soát chặt chẽ đối với thủ tục phê chuẩn FDI.
1.1.2 Thực hiện duy trì tỷ giá cố định
Trước năm 1990, Trung Quốc theo đuổi chính sách điều chỉnh tỷ giá liên
tục, đồng nhân dân tệ liên tục giảm giá nhằm kích thích tăng xuất khẩu, giảm
25