PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN HOÀNG MAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY MÔN ĐỊA LÍ 8
TIẾT 14 – BÀI 12: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC ĐÔNG Á
Ở TRƯỜNG THCS
Môn: Địa lí
NĂM HỌC 2014 – 2015
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Việt Nam đang trên con đường hội nhập và phát triển, phấn đấu đến năm
2020 trở thành một nước công nghiệp mà con người là nhân tố quyết định. Để
thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá cần giáo dục thế hệ
trẻ trở thành những con người “Năng động - Sáng tạo – Có năng lực giải quyết
vấn đề”, những con người tự tin, có trách nhiệm, có những hành động phù hợp
với giá trị nhân văn và công bằng xã hội.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế tri thức đòi hỏi việc nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng và phù hợp với xu thế
hội nhập toàn cầu thì đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới chương trình cũng như
phương pháp dạy học mới. Phương pháp dạy học mới này được hiểu là: Học sinh tự
học, tự hiểu, tự rèn kĩ năng nhiều để từ đó có thể phát triển tư suy nhưng phải nhờ vào
sự hướng dẫn của giáo viên. “ Dạy học phải lấy học sinh làm trung tâm”, giáo
viên chỉ là người tổ chức, định hướng và điều khiển giúp học sinh tự tìm ra tri
thức; phải tích cực hoá các hoạt động của học sinh, khơi dậy trong các em tính
khao khát, tìm tòi, nghiên cứu, cố gắng phát huy trí tuệ và nghị lực cao trong
quá trình nắm vững kiến thức.
Trên thực tế hiện nay, toàn ngành giáo dục nói chung và dạy học Địa lí
nói riêng đã và đang nổ lực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh để thực hiện sứ mệnh
chung đó. NQ TW 2 khoá 8 tiếp tục khẳng định “Phải đổi mới phương pháp
giáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
mua sắm máy chiếu, máy vi tính, bố trí cho giáo viên học ứng dụng phần mềm
power point, violet, E-learning … vào soạn giảng. Đặc biệt, các giáo viên trẻ
còn chủ động tự trang bị cho mình máy tính xách tay. Vì vậy việc ứng dụng
CNTT vào dạy học nói chung và dạy học Địa lí nói riêng đã được thực hiện từ
vài năm nay. Trong quá trình dạy, tôi nhận thấy mỗi khi dùng bài giảng điện tử
thì các em vô cùng hứng thú, hoạt động sôi nổi, tiếp thu bài tốt, nhất là với môn
địa lí vốn là môn học khô khan thì bây giờ các em đã có niềm đam mê với môn
này. Vì thế việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Địa lí là rất cần thiết để nâng
cao chất lượng học tập bộ môn.Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy
môn Địa lí ở trường THCS Lĩnh Nam chưa mang lại hiệu quả cao, chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới dạy và học hiện nay. Vì vậy, tôi tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“ ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Địa lí 8: Tiết 14 – Bài 12:
Đặc điểm tự nhiên khu vực Đông Á ở trường THCS”. Đây là bài giảng tôi đã
tham gia Hội thi giáo viên giỏi Quận Hoàng Mai năm học 2014-2015 và đã được
xếp loại giỏi nên tôi mạnh dạn viết lại những công việc tôi đã làm để trao đổi
với bạn bè đồng nghiệp.
II. Mục đích nghiên cứu :
3/25
Ứng dụng CNTT vào dạy học môn Địa lí, đặc biệt là Địa lí 9 nhằm nâng
cao chất lượng dạy học bộ môn; tạo niềm hứng thú, say mê môn học cho học
sinh.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đưa CNTT vào giảng dạy Tiết 14 – Bài 12: Đặc điểm tự nhiên khu vực
Đông Á làm tăng hứng thú học tập, giờ học thêm sinh động, khắc sâu kiến thức
giúp các em học sinh hiểu bài nhanh và nhớ lâu.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Về lí luận: Nghiên cứu một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở
trường THCS , tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS, SGK,
SGV Địa lí 8.
- Tạo ra một không khí đoàn kết, thông hiểu lẫn nhau. Nếu biết sử dụng
giáo án điện tử hợp lí thì bao giờ học sinh cũng tiếp thu, hiểu bài giảng nhanh
hơn, nhớ bài lâu hơn.
- Giáo viên khai thác được kiến thức của bài học triệt để hơn.
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học như vậy giúp cho học sinh thích ứng
được với các phương pháp “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, phù hợp với
mục tiêu dạy học, quan điểm dạy học hiện nay mà nghị quyết TW 2 khóa VIII
đặt ra: đào tạo ra những con người toàn diện, năng động, sáng tạo và có năng
lực giải quyết vấn đề.
II. Thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học địa lí ở trường
THCS Lĩnh Nam:
5/25
Trong dạy học Địa lí, giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học
như phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan.
Nhiều giáo viên đã sử dụng các phương pháp này khá tốt, khêu gợi được suy
nghĩ, tìm tòi, tự lực của học sinh. Tuy nhiên, cũng không ít giáo viên còn ít quan
tâm tới việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi sử dụng các phương
pháp dạy học nói trên.
Phương pháp dùng lời cho đến nay vẫn được coi là một trong những phương
pháp chính để chỉ đạo học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng Địa lí. Phương
pháp vấn đáp cũng là một trong những phương pháp dùng lời được sử dụng phổ
biến hiện nay, trong đó thiên về vấn đáp tái hiện và vấn đáp giải thích minh
họa.Việc sử dụng các phương pháp dùng lời như vậy thực chất là giáo viên chủ
động truyền đạt một cách rõ ràng, mạch lạc nội dung bài đã được chuẩn bị sẵn,
trò thụ động tiếp thu và ghi nhớ những nội dung mà giáo viên truyền đạt, kết
hợp trả lời câu hỏi giáo viên nêu ra.
Phương pháp trực quan: Một số giáo viên Địa lí sử dụng các phương tiện
trực quan để minh họa, ít chú ý đến việc cho học sinh tự làm việc với các
phương tiện này. Chính vì vậy, kĩ năng Địa lí của học sinh còn yếu.
Khi đi vào nghiên cứu đề tài này, tôi đã gặp rất nhiều những thuận lợi:
- Học sinh đã và đang được học bộ môn Tin học trong nhà trường và phần
lớn gia đình các em đều có máy vi tính kết nối Internet nên việc tiếp cận, sử
dụng phương tiện này vào việc tìm kiếm, khai thác thông tin, hình ảnh, băng
hình liên quan đến nội dung bài học từ mạng Internet của học sinh là rất dễ
dàng, phổ biến.
- Nhà trường có đầy đủ phương tiện hiện đại để phục vụ công tác giảng dạy
của giáo viên.
- Nhà trường rất quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy nên đã tạo mọi
điều kiện cho giáo viên dự chuyên đề, thực hiện các chuyên đề trong tổ bộ môn,
tham gia các buổi bồi dưỡng chuyên môn do Phòng Giáo dục tổ chức.
Bên cạnh đó cũng còn có những khó khăn cần được khắc phục như :
- Nhà trường chưa có đủ máy tính nối mạng để cho học sinh sử dụng vào
việc khai thác thông tin, tìm kiếm tư liệu, hình ảnh, video phục vụ cho bài học
tại trường.
- Với đa số học sinh và phụ huynh: môn Địa lí vẫn là môn phụ nên không
chú trọng, đầu tư.
- Học sinh của trường thuộc địa bàn dân trí thấp, cha mẹ phần lớn là làm
nông nghiệp nên sự quan tâm tới việc học của con em còn hạn chế, các em chưa
có tính tự giác trong học tập,
- Các tài liệu phát cho giáo viên còn quá ít, thiếu tính thời sự, hạn chế tính
hấp dẫn của bài học.
CNTT là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho người giáo viên hiện nay trong quá
trình dạy học, đặc biệt là trong môn Địa lí 8 có rất nhiều tiết địa lí tự nhiên nên tôi
thấy việc ứng dụng chúng vào giảng dạy là hết sức cần thiết để mang lại hiệu quả
cao trong giờ học, giúp tôi có thể khắc phục được những khó khăn, tồn tại nêu trên.
III. Giải pháp thực hiện việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Địa lí 8:
Tiết 14 – Bài 12: Đặc điểm tự nhiên khu vực Đông Á ở trường THCS Lĩnh
7/25
8/25
TIẾT 14
BÀI 12: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC ĐÔNG Á
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1.Kiến thức:
- Biết vị trí địa lí, các quốc gia và vùng lãnh thổ của khu vực Đông Á.
- Hiểu và trình bày được các đặc điểm về khí hậu, song ngòi, cảnh quan tự
nhiên của khu vực.
2. Kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích lược đồ tự nhiên Đông Á, các hình
ảnh địa lí.
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng tập bản đồ trong quá trình học tập.
- Rèn luyện kĩ năng chỉ lược đồ.
- Rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm.
3. Thái độ:
- Ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường và phòng, chống thiên tai.
- Lòng yêu thích tìm hiểu, khám phá thế giới và yêu thích môn học.
4. Tích hợp liên môn: GDCD, bảo vệ môi trường.
II. CHUẨN BỊ:
1. Giáo viên:
- Máy chiếu, projecter, PHT.
- Lược đồ tự nhiên khu vực Đông Á.
- Tập bản đồ địa lí 8.
2. Học sinh:
- Tập bản đồ địa lí 8, SGK
- Các kiến thức, tư liệu mà giáo viên đã hướng dẫn về nhà ở bài học trước.
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU:
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp vấn đáp, gợi mở.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
(Phần đất liền gồm: Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều
1. Vị trí địa lí và phạm vi
lãnh thổ:
- Vị trí: giáp
+ Phía Bắc: Bắc Á, Mông
Cổ
+ Phía Tây: Trung Á
+ Phía Tây Nam: Nam Á
+ Phía Đông Nam: Đông
Nam Á
+ Phía Đông giáp: Thái
Bình Dương
13/25
Tiên. Phần hải đảo gồm: Nhật Bản, Đài Loan, Hải
Nam).
? Vị trí địa lí, giới hạn lãnh thổ có tác động như
thế nào đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu
vực?
HS: thuận lợi trong việc giao lưu, hợp tác phát
triển kinh tế, xã hội với các khu vực của châu Á
cũng như các châu lục khác trên thế giới.
GV: chuyển ý.
- Gồm 2 bộ phận:
+ Đất liền
+ Hải đảo
- Giới hạn: khoảng
18
0
B – 45
0
HS: huỷ hoại tài nguyên, gây ô nhiễm môi
trường…
- Nhóm 2: Khí hậu, cảnh quan
? Kiểu khí hậu và cảnh quan phổ biến?Phân bố?
? Tại sao lại có sự khác biệt về khí hậu giữa phần
15/25
phía Tây đất liền so với phần phía Đông và hải
đảo?
HS: thảo luận, hoàn thành PHT đại diện trình
bày
các nhóm NX, bổ sung
GV: chốt kiến thức (PHT).
- Nhóm 3: Sông ngòi
? Nhận xét về mạng lưới sông ngòi? Các sông
lớn? Hướng chảy chính? Chế độ nước?
? Sông ngòi khu vực Đông Á có ý nghĩa như thế
nào đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và đời
sống nhân dân?
? Điểm giống và khác nhau giữa sông Trường
Giang và Hoàng Hà?
? Dựa vào kiến thức đã học và lược đồ khí hậu
châu Á, hãy giải thích chế độ nước của sông
Trường Giang, Hoàng Hà?
HS: thảo luận, hoàn thành PHT đại diện trình
bày
các nhóm NX, bổ sung
GV: chốt kiến thức (PHT).
GV: tổng kết bài học, yêu cầu 1 HS nhắc lại những
kiến thức cần ghi nhớ.
bài của học sinh từng lớp. Kết quả đạt được như sau:
( Lưu ý: trình độ của học sinh các lớp nghiên cứu là tương đương nhau)
Bảng tổng hợp số liệu học sinh hiểu bài
Lớp Sĩ số Số HS hiểu bài Số HS chưa hiểu bài
SL % SL %
8ª1 35 35 100 0 0
8ª2 38 38 100 0 0
8ª3 41 41 100 0 0
8ª4 40 32 80 8 20
8ª5 41 34 83 7 17
Trong đó: ở lớp 8ª1: 90% học sinh hiểu bài sâu sắc, 10% học sinh nắm
chắc kiến thức cơ bản; ở lớp 8ª2, 8ª3: khoảng 70% học sinh hiểu bài học sâu sắc,
30% còn lại nắm chắc kiến thức cơ bản của bài học.
Ở lớp 8ª4, 8ª5: khoảng 30% học sinh hiểu bài học sâu; 50 % học sinh nắm vững
kiến thức cơ bản của bài học; 20 % ( 8ª4) và 17 % ( 8ª5) hiểu bài chưa chắc
chắn.
Để có được kết quả đó, tôi đã làm tốt các biện pháp nêu trên:
- Ứng dụng CNTT vào soạn giảng.
- Khai thác và lựa chọn thông tin, tư liệu, hình ảnh trên Internet phù hợp
với nội dung bài học; phù hợp với trình độ và tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 8.
- Chốt kiến bằng các bảng biểu, hình ảnh trên máy khoa học.
- Cho học sinh tiếp xúc và làm việc với các phương tiện dạy và học hiện
đại để các em tự tin, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức và thuyết trình về
một vấn đề nào đó trước lớp.
Như vậy, bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, xây dựng
được băng hình phù hợp với nội dung bài học, đưa thêm hình ảnh bên ngoài vừa
thiết thực vừa gần gũi lại đa dạng, hấp dẫn với học sinh vào bài giảng không chỉ
làm phong phú thêm tư liệu dạy học mà còn đạt được hiệu quả cao trong dạy
học. Giờ học Địa lí trôi qua rất nhẹ nhàng, không khô cứng: học sinh thấy yêu
thích môn học hơn, hiểu bài nhanh và nhớ lâu hơn; giáo viên cũng không phải
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề cấp Thành phố, cấp Quận, cấp cụm
về việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Địa lí để giáo viên các trường có cơ
hội gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm; trau dồi và nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ.
- Kịp thời nắm bắt và chỉ đạo việc đổi mới các phương pháp dạy học theo
hướng tích cực, hiện đại nhằm phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong học tập môn Địa lí.
2. Đối với BGH trường THCS Lĩnh Nam:
- Cần quan tâm, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo viên hoàn
thành tốt công tác giảng dạy, nhất là về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương
tiện hiện đại.
- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về CNTT cho giáo viên để tất cả
các giáo viên đều chủ động được việc ứng dụng CNTT vào soạn giảng, tìm kiếm
thông tin, hình ảnh phù hợp với nội dung bài học.
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề ứng dụng CNTT vào dạy học Địa lí
để tổ, nhóm chuyên môn được học hỏi, chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm với nhau
đồng thời còn để cho học sinh quen dần với việc sử dụng các phương tiện hiện
đại vào học tập bộ môn.
- Yêu cầu giáo viên bộ môn kiểm tra, đánh giá thường xuyên để thấy được
sự tiến bộ của học sinh.
2. Đối với giáo viên bộ môn:
Trên đây là những chia sẻ chân tình của tôi về việc ứng dụng CNTT vào
dạy học môn Địa lí, tôi rất mong các đồng chí sẽ nhiệt tình hưởng ứng cuộc phát
động của ngành giáo dục trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy bộ môn để
nâng cao chất lượng học tập môn Địa lí. Quan trọng hơn là chúng ta khơi dậy
được niềm say mê, hứng thú đối với môn học trong học sinh để các em tích cực,
chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức cũng như hiểu bài nhanh và nhớ bài lâu
hơn trong quá trình học. Để đạt được điều này, tôi thiết nghĩ, mỗi giáo viên dạy
Địa lí cần phải làm tốt những việc sau:
- Trong các giờ học, phải thường xuyên hướng dẫn, rèn luyện các kĩ năng
nghiệp trồng người của đất nước.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
25/25