Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LA THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Mã số: 60. 62. 01. 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐÌNH HÕA
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i “Nghiên cứu tình hình thực hiện một số chính sách xóa
đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Định Hóa”
.
mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả La Thị Huế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
Trang
i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở khoa học 3
1.1.1. Cơ sở lý luận 3
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 11
1.2. Thành tựu xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam 24
3.2.3. Chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. 65
3.2.4. Tình hình thực hiện nhóm chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ
tầng xã nghèo, xã ATK 69
3.3. Đánh giá một số nguyên nhân ảnh hưởng tới hộ nghèo của huyện
Định Hóa 71
3.3.1. Thông tin về hộ 71
3.3.2. Nguồn lực chủ yếu của nhóm hộ điều tra 73
3.3.3. Thu nhập bình quân từ hai nhóm hộ nghiên cứu của hộ gia
đình huyện Định Hóa giai đoạn 2011 - 2013 74
3.3.4. Phân tích nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của hộ gia đình
huyện Định Hóa năm 2013 76
3.4. Đánh giá chung tác động của các chính sách giảm nghèo trên địa
bàn huyện Định Hóa 81
3.5. Giải pháp chính sách giảm nghèo của huyện Định Hóa 85
3.5.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Định Hoá 85
3.5.2. Một số giải pháp giảm nghèo của huyện Định Hóa đến năm 2015 86
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATK
An toàn khu
DTTS
Dân tộc thiểu số
BHYT
Bảo hiểm y tế
TW
Trung ương
NSĐP
Ngân sách địa phương
LĐ
Lao động
KH
Kế hoạch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn
2006 - 2010, 2010* 18
Bảng 2.1: Định nghĩa các biến số của mô hình phân tích hồi quy 37
Bảng 2.2: Lựa chọn mẫu điều tra 38
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng quỹ đất của huyện Định Hoá năm 2013 44
Bảng 3.2: Nhân khẩu và lao động của huyện Định Hóa năm 2013 48
Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế huyện Định Hoá, 2011 - 2013 50
Bảng 3.4: Kết quả giảm nghèo huyện Định Hóa, giai đoạn 2011 - 2013 54
Bảng 3.5: Kết quả thực hiện chính sách tín dụng, giai đoạn 2011 - 2013 57
Bảng 3.6: Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ cho người nghèo
tiếp cận với các dịch vụ cơ bản 60
Bảng 3.7: Kết quả thực hiện nhóm chính sách hỗ trợ phát triển nguồn
nhân lực 66
Bảng 3.8: Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ
tầng xã nghèo; xã ATK 69
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục
với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát
triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương.
Đảng, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu cần đạt được trong giảm nghèo từ
2011 đến 2020: Giảm nghèo bền vững là một trong những trọng tâm của
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhằm cải thiện và
từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực
miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn
diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và
nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Thái Nguyên là
một tỉnh trung du miền núi, gồm nhiều dân tộc chung sống, có tập quán và
trình độ sản xuất khác nhau. Do vậy mức độ nghèo đói của từng dân tộc, từng
vùng cũng khác nhau. Trong chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội của địa
phương Đảng bộ chính quyền và nhân dân tỉnh Thái Nguyên coi vấn đề xoá
đói giảm nghèo là vấn đề cấp bách hàng đầu.[19]
Định Hoá là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm tỉnh
50 km về phía Tây Bắc. Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 52.970 ha, trong
đó rừng núi chiếm 68,025% diện tích của cả huyện. Tổng dân số của huyện
gần 9 vạn người, toàn huyện có 8 dân tộc cùng sinh sống tại 24 xã, thị trấn (cả
24 xã, thị trấn của huyện đều là ATK, trong đó có 17/24 xã, thị trấn là xã có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); Thu nhập bình quân đầu người
năm 2010: 12,5 triệu đồng/ người, năm 2011: 14 triệu đồng/ người, năm
2012: 15,5 triệu đồng/ người.[4]
Trong nhiều năm qua trên đia bàn huuyện Định Hoá triển khai nhiều
chính sách giảm nghèo, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, cụ thể: Năm 2010
tỷ lệ hộ nghèo trong toàn huyện là 16,3%, năm 2011 (năm đầu của giai đoạn
hướng của các cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo chính sách: Hội đồng Nhân dân và
Đảng bộ huyện Định Hóa đối với đối tượng hưởng chính sách nói chung,
người nghèo nói riêng.
Các thông tin của đề tài phục vụ cho cho các cơ quan thực thi chính
sách đối với người nghèo tại huyện: Phòng Lao động - Thương binh xã hội,
Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế - hạ tầng, Ngân
hàng chính sách huyện…v.v và các tổ chức đoàn thể quần chúng tại địa
phương trong việc đề xuất giải pháp, tư vấn, phối hợp thực hiện chính sách
xóa đói giảm nghèo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Giới thiệu một số chính sách xóa đói giảm nghèo
a. Chính sách Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, giáo dục đào tạo
- Chính sách giáo dục nâng cao mặt bằng dân trí.
- Tăng cường dạy nghề gắn với tạo việc làm.
- Chính sách đào tạo, nâng cao nhân lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
b. Hỗ trợ tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ cơ bản
- .
- .
- .
c. Chính sách hỗ trợ tín dụng hộ nghèo
- Chương trình cho vay hộ nghèo.
- Chương trình cho vay hộ cận nghèo.
- Chương tình cho vay đi xuất khẩu lao động.
Bộ máy thực hiện chính sách giảm nghèo được lồng ghép trong các cơ
quan quản lý Nhà nước , gắn với lĩnh vực được phân công đã tăng cường
trách nhiệm của nhiều cơ quan tham gia tổ chức thực hiện chính sách giảm
nghèo từ trung ương đến địa phương. Công tác vận động xã hội, cộng đồng
tham gia giảm nghèo được đẩy mạnh đã góp phần tăng thêm nguồn lực, nâng
cao trách nhiệm, tình cảm của xã hội đối với người nghèo, các địa bàn nghèo.
Với vai trò chủ đạo của Nhà nước, sự nỗ lực của các ngành, các cấp,
các tổ chức trong và ngoài nước, các cộng đồng dân cư, hàng triệu người
nghèo đã chủ động tham gia vào mục tiêu giảm nghèo, vượt qua khó khăn để
thoát nghèo, cải thiện cuộc sống và hòa nhập với xã hội, đóng góp quan trọng
vào thành quả giảm nghèo của Việt Nam.
1.1.1.3. Đặc điểm của người nghèo và hộ nghèo
Có thể tập trung vào các nguồn vốn sinh kế của hộ nghèo để viết theo 5
nguồn lực [16] sau để xem họ có điểm mạnh, điểm yếu nào
Nguồn lực con người: kỹ năng, sự hiểu biết, kiến thức, khả năng của
lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi
các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ. Ở cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng và chất lượng của lao
động. Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy mô hộ gia
đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần, năng lực lãnh đạo,
v.v. Tài sản con người có thể được diễn giải băng các chỉ báo về giáo dục,
kiến thức bản địa, số lượng lao động, kỹ năng của lao động, tuổi thọ, số trẻ
em suy dinh dưỡng, v.v.
Nguồn lực tự nhiên: chỉ các nguồn lực tự nhiên mà con người có thể sử
dụng cho cuộc sống, ví dụ: diện tích đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, diện
tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, độ phì nhiêu của đất đai…?
tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đai hạn chế, mặt khác người nghèo thường
sản xuất, ăn tiêu không có kế hoạch hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không
đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện trả nợ các nguồn vay, cuối cùng
làm cho họ càng nghèo hơn.
- Người nghèo ít co cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định , mức thu
nhập thấp, hầu như thu nhập chỉ đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống tối thiểu và
do vậy không có điều kiện cải thiện cuộc sống hiện tại (nhà ở tạm bợ, dột nát,
con cái thất học,sức khỏe không được chăm sóc), từ đó làm cho việc thoát
nghèo trở nên khó khăn hơn.
- Quy mô hộ gia đình thường đông con, tỷ lệ sinh đẻ của các hộ nghèo
thường rất cao. Đây là một trong những đặc điểm của các hộ nghèo, từ đó mà
tỷ lệ người ăn theo cao đồng nghĩa với việc thiếu lao động cũng chính là
nguyên nhân nghèo của họ. Mặt khác các hộ gia đình nghèo nguy cơ dễ bị tổn
thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác. Do đó số hộ tái nghèo
vẫn còn lớn và rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, mất việc
là và gia đình có người ốm đau dài ngày.
- Do trình độ học vấn thấp nên người nghèo, đặc biệt là người nghèo là
người dân tộc thiểu số thường không có khả năng tự giải quyết các vấn đề
vướng mắc có liên quan đến pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế
thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý
chưa phát triển là thiệt thòi lớn cho người nghèo tiếp cận các chính sách ưu
đãi của Nhà nước đối với họ.[3]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
1.1.1.4. Vai trò của các chính sách xóa đói giảm nghèo đối với hộ nghèo
- Được tiếp cận với các chính sách giảm nghèo, người nghèo có cơ hội
học nghề, được tiếp cận với nguồn lục trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công
nghệ ), được hỗ trợ nguồn lực để phát triển kinh tế và có khả năng tiếp cận
cho các loại tài sản có sẵn cho người dân địa phương - con ngƣời, thiên
nhiên, tài chính, vật chất và xã hội . Những tài sản này được có sự tương tác
với nhau, ví dụ: vốn nhân lực cuả hộ được đánh giá là tốt, họ có khả năng lực
quản lý tốt, khi xây dựng phương án sản xuất vay vốn dễ được các tổ chức tín
dụng cho vay, do đó, họ sẽ làm nguồn lực tài chính của họ mạnh hơn. Từng
loại tài sản được ký hiệu trong hình với các chữ cái (H, N, M, P, S).
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Tiến Khai, Nguyễn Ngọc Danh (2012)
về “Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam” nêu rõ:
Vốn con ngƣời: Tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng,
sự hiểu biết, kiến thức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp
cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt
được mục tiêu sinh kế của họ. Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao
gồm số lượng và chất lượng của lao động. Số lượng và chất lượng của lao
động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể
chất và tinh thần, năng lực lãnh đạo, v.v. Tài sản con người có thể được diễn
giải băng các chỉ số về giáo dục, kiến thức bản địa, số lượng lao động, kỹ
năng của lao động, tuổi thọ, số trẻ em suy dinh dưỡng, v.v.
Vốn tự nhiên: Các nguồn lực tự nhiên mà con người có thể sử dụng
cho cuộc sống. Vốn tự nhiên rất đa dạng, có thể hữu hình hay vô hình, hoặc
dưới dạng hàng hóa công như khí hậu, sinh quyển làm nền tảng cho sản xuất.
Vốn tự nhiên có thể được biểu thị bằng các chỉ báo khác nhau như diện tích
đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, độ
phì nhiêu của đất đai, khả năng được tưới, khả năng tăng vụ, trữ lượng cá, trữ
lượng tài nguyên rừng, v.v.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Vốn vật chất: Bao gồm cơ sở hạ tầng và các tài sản vật chất cần thiết
cho sinh kế như giao thông thuận lợi, điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt, điều
10
Hộ gia đình có nhiều tài sản sinh kế nói chung có nhiều khả năng để
bảo vệ cuộc sống và tài sản của họ khi đối mặt với những cú sốc hơn so với
các hộ gia đình có tài sản ít hơn. Họ có đủ tiền tiết kiệm để họ có thể đủ khả
năng để mua thức ăn khi mất mùa. Họ có đủ vật nuôi mà họ để bù số mất
hoặc bán một số ít và vẫn có đủ con giống để chăn nuôi khi tình trạng khẩn
cấp qua đi. Khả năng phục hồi là khả năng chịu được những cú sốc.
Các hộ gia đình có ít tài sản (ít đất, ít vật nuôi, hạn chế vốn vật chất và
tài chính, lao động gia đình yếu, thiếu kiến thức và kỹ năng tiếp cận thị
trường kém dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài hơn so với các hộ
gia đình có tài sản nhiều hơn. Khi những hộ này đối mặt với những cú sốc từ
bên ngoài như hạn hán kéo dài, mùa màng thất bát, các hộ nghèo bắt buộc
phải bán đi gia súc của mình với giá thấp để mua lương thực nuôi sống gia
đình. Còn các trường hợp khẩn cấp, họ càng làm cạn kiệt cơ sở tài sản của
họ, đến mức họ không còn có bất cứ thứ gì còn lại để bán, trong khi lao
động của họ yếu vì đói và sức khỏe giảm sút. Khi họ bị mất tài sản, họ bị
mất phương tiện sinh kế.
b. Nguồn lực xã hội và địa phƣơng: Điều kiện hạ tầng cơ sở như hệ
thống giao thông, hệ thống điện, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cơ sở
vật chất đảm bảo dịch vụ công về giáo dục - các cơ sở giáo dục địa phương,
các hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe; sự phát triển các cơ sở sản xuất, chế
biến tiểu thủ công nghiệp; hệ thống cung cấp dịch vụ tài chính- các chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn; các chi nhánh của Ngân
hàng chính sách xã hội,…[5]
Bên cạnh đó, phải kể đến sự hỗ trợ của các chương trình, dự án của
Chính phủ hoặc phi chính phủ trong việc hỗ trợ người dân (làm nhà, cấp
thẻ BHYT, miễn giảm học phí cho thành viên trong gia đình; sự giúp đỡ
của cộng đồng,…). Các chương trình hỗ trợ xây dựng hạ tầng cơ sở vật
chất tại địa phương.
triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng
chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển
kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở
khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế
ổn định và bền vững cho nền kinh tế.
- Trung Quốc
Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm
1984, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhung
cái chính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn. Mục đích của nó là làm
thay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài
chính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều
năm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp. Năm 1985 ông Đặng Tiểu
Bình đã nói: "Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì nhiều nếu không
có sự ổn định ở nông thôn ". Sau khi áp dụng một loạt các chính sách cải
cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu
đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chính trị, thay đổi
về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản lý, thay
đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò
chính, và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường có sự điều tiết cuả Nhà nước , thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế
thị trường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội. Do chính
sách mở cửa nền kinh tế, các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất
công nghiệp, tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng
nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn
Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông
nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá
nông thôn góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông
thôn. Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp
ngay ở vùng nông thôn để thu hút những lao đông nhàn rỗi của khu vực nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn
định cuộc sống. Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những
người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được
nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống
được cải thiện. Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%/năm (1950) xuống còn
1,5%/năm (1985). Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân
cũng được quan tâm đầu tư thích đáng.
- Braxin
Lập quỹ hỗ trợ cho các gia đình nghèo nhất: Ở Braxin, Quỹ gia đình
(Bolsa Familia) được chính phủ của tổng thống Luiz Inacio Lulu da Silva
thiết lập vào năm 2003 nhằm cung cấp một khoản lương cơ bản cho 7,5 triệu
gia đình nghèo nhất của Braxin (tương đương với 30 triệu dân). Mục đích của
Quỹ là cung cấp một mức thu nhập hàng tháng tính theo đầu người là dưới
100 reai/người/tháng cho 11,2 triệu gia đình (bằng một phần tư dân số
Braxin) cho đến cuối năm 2006. Đây là chương trình lớn nhất của một thế hệ
mới các chương trình xã hội ở châu Mỹ La tinh, được gọi là các kế hoạch trợ
cấp tiền mặt có điều kiện. Mục tiêu của các kế hoạch này là giảm tình trạng
nghèo của ngày hôm nay, trong trường hợp của Braxin là bằng cách trợ cấp
tới mức 95 reai mỗi tháng cho các gia đình nghèo (các chính quyền tiểu bang
và địa phương có thể tăng thêm mức lương trên tùy theo khả năng tài chính
của các chính quyền này) và ngăn chặn tình trạng tái nghèo trong tương lai
tử tại chi nhánh ở địa phương của ngân hàng Nhà nước . Thông qua các danh
sách duy nhất này, chính quyền có thể kiểm tra xem ai xứng đáng nằm trong
danh sách này. Những người được coi là không xứng đáng là vì họ không
thuộc diện gia đình nghèo đói hoặc họ được một số người có quyền thế ở địa
phương ban cho cái đặc ân là tên của họ được ghi danh vào danh sách này để
đổi lấy lá phiếu ủng hộ trong các kỳ bầu cử tới. Theo hợp đồng mới với chính
phủ liên bang thì các chính quyền địa phương phải thành lập các “hội đồng xã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
hội” gồm các quan chức ở địa phương và đại diện của các tổ chức chính phủ
để theo dõi việc thực thi quỹ. Các chính quyền địa phương cũng được cấp
ngân sách để cập nhật các danh sách duy nhất tại địa phương. Qua chương
trình chuyển giao tiền mặt có điều kiện này, chính phủ Braxin cũng tranh thủ
với các gia đình thụ hưởng, buộc họ phải tuân thủ các điều kiện ràng buộc
kèm theo để khỏi bị mất số tiền họ nhận được. Chẳng hạn như tất cả trẻ trong
gia đình đều phải được đi học, đến lớp đều đặn cho đến khi chúng được 15
tuổi, bằng không gia đình sẽ bị phạt và mức phạt cao nhất là gia đình sẽ mất
đi số tiền đã được chuyển giao. Kết quả là số học sinh bỏ học nửa chừng giảm
mạnh, và số học sinh đăng ký theo học bậc trung học tăng lên khả quan.[6]
1.1.2.2. Tình hình thực tiễn tại Việt Nam
- Theo số liệu của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam,
vào đầu thập niên 1990, chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình Xóa
đói giảm nghèo cùng với lời kêu gọi của Ngân hàng thế giới. Cũng theo số liệu
của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo
chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12,9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ
nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10,87%. Vào năm
2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177 nước,
chỉ số phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng