LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí
Minh- chi nhánh Hà Nội- phòng giao dịch Kinh Đô cùng với sự nỗ lực học hỏi và
tìm tòi của bản thân , sự giúp đỡ nhiệt tình về kiến thức, kinh nghiệm cũng như
động viên tinh thần của các thầy cô giáo và các anh chị nhân viên ngân hàng quá
trình nghiên cứu em đã hoàn thành khóa luận “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Hà Nội – phòng giao
dịch Kinh Đô”.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ởn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại
học Thương Mại, những người đã tận tình dạy bảo em trong suốt bốn năm học vừa
qua và cung cấp cho em những nền tảng kiến thức vững chắc về kinh tế và nhiều
lĩnh vực khác có liên quan.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Tài Chính –
Ngân Hàng, Trường Đại Học Thương Mại, những thầy cô trang bị cho em những
kiến thức chuyên sâu về nghành học Tài Chính – Ngân Hàng.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô TS Nguyễn Thị Minh Hạnh. Cảm ơn cô
đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để hướng em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị tại Phòng Khách hàng Doanh
nghiệp tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh- chi nhánh Hà Nội-
phòng giao dịch Kinh Đô trong thời gian em thực tập tại đây đã nhiệt tình giúp đỡ,
hướng dẫn, tạo điều kiện cho em học hỏi kinh nghiệm thực tế trong quá trình em
thực tập tại Chi nhánh.
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến gia đình, bạn
bè luôn là nguồn động viên tình thần lớn lao giúp em có thể đứng vững trong mọi
hoàn cảnh và có những thành công bước đầu như ngày hôm nay.
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
11 TSĐB Tài sản đảm bảo
12 CBNV Cán bộ nhân viên
13 NHTM Ngân hàng thương mại
14 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
15 DN Doanh nghiệp
16 TCKT Tổ chức kinh tế
17 SXKD Sản xuất kinh doanh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng ngày nay giữ vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh
tế, sự phát triển của nó phản ánh thực trạng kinh tế của mỗi quốc gia. Trong
những năm gần đây, ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả hết sức khả quan
và khẳng định là một trung gian tài chính quan trọng không thể thiếu được của
nền kinh tế thị trường.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và ngân hàng TMCP phát triển thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng cung cấp rất nhiều các sản phẩm dịch vụ phong phú và đa
dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng trong xã hội. Chính vì tính đa
dạng trong hoạt động, hoạt động ngân hàng có thể phải đối mặt với rất nhiều rủi ro.
Trong hoạt động ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ chính và đem lại thu
nhập lớn nhất cho ngân hàng, đồng thời phục vụ lượng khách hàng đông đảo đến từ
mọi ngành nghề trong xã hội. Vì vậy, rủi ro tín dụng cũng là một trong những vấn đề
nghiêm trọng nhất mà ngân hàng phải đối mặt, nó có thể ảnh hưởng tới thu nhập và đe
dọa tính ổn định của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam và ngân hàng TMCP phát
triển thành phố Hồ Chí Minh
Sau một thời gian thực tập tại phòng tín dụng của Ngân hàng TMCP phát triển
thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Hà Nội – PDG Kinh Đô, em nhận thấy một số
vấn đề trong hoạt động điều hành, quản lí và xử lí rủi ro tín dụng tại phòng giao dịch
nên quyết định chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP phát
triển thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Hà Nội – phòng giao dịch Kinh Đô” đi
sâu nghiên cứu làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cho mình.
phát triển thành phố Hồ Chí Minh – chi nhánh Hà Nội - PGD Kinh Đô giai đoạn
2012-2014.
Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh – chi
nhánh Hà Nội – PGD Kinh Đô giai đoạn 2012-2014.
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG.
1.1. Rủi ro tín dụng.
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng theo khái niệm cơ bản là khả năng khách hàng nhận khoản vốn
vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn
thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ đúng hạn
cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Theo Thomas P.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không
thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Là rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”.
(Dictionary of banking systems, Barron’s Edutional Series, Inc, 1997).
Theo Timothy W-Koch: “Khi một ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy
ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi
theo thoả thuận. Rủi ro tín dụng có sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá
của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn”.
(Bank management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, pay 107).
Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN: “ Rủi ro
tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt
động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng
thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Như vậy, có thể nói rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản trong
Là tình huống phát sinh khi một bên không nhận biết đầy đủ về đối tác của
mình,dẫn đến những quyết định không chính xác trong quá trình giao dịch.Ví dụ,
những nhà quản lý công ty biết được rõ ràng là họ có trung thực hay không, hay họ có
được những thông tin đầy đủ hơn so với các cổ đông về công việc kinh doanh của
công ty. Sự tồn tại thông tin không cân xứng dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức:
8
• Lựa chọn đối nghịch (adverse selection): là tình huống thông tin không cân xứng xuất
hiện trước khi giao dịch được thực hiện. Những người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao lại là
những người tích cực trong việc tìm kiếm khoản vay. Như vậy, có những người có
nhiều khả năng đem lại kết quả không mong muốn lại là những người mong muốn trở
thành một bên trong giao dịch. Họ là những người ít được mong đợi cho vay nhất, bởi
vì khả năng không hoàn trả được nợ vay là rất lớn.
• Rủi ro đạo đức (moral hazard) phát sinh sau khi giao dịch được thực hiện. Người cho
vay có thể gặp rủi ro nếu người đi vay sử dụng vốn vào các hoạt động không được
mong đợi, bởi vì, các hoạt động này có thể khiến cho khoản vay không hoàn trả được.
Khi khách hàng đã nhận được khoản vay, họ có thể mạo hiểm đầu tư vào các dự án có
rủi ro cao với kỳ vọng thu được lợi nhuận nhiều hơn nếu thành công. Rủi ro càng cao
khiến cho khoản vay càng khó thu hồi.
Bởi vậy, để kinh doanh có lãi và an toàn, ngân hàng phải vượt qua được vấn đề
lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, là nguyên nhân chủ yếu khiến cho khoản tín
dụng không thu hồi được.
Môi trường chính trị và pháp lý:
Môi trường chính trị và pháp lý biến động dẫn đến những ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động kinh doanh nói chung của ngân hàng. Sự mất ổn định về chính trị sẽ
ngay lập tức làm cho kinh tế của đất nước đi xuống, mọi hoạt động SXKD bị ngưng
trệ, ứ đọng vốn lớn, từ đó dẫn tới nguy cơ ngân hàng thu nợ kém và rủi ro vì thế mà
không ngừng tăng lên.
Một vấn đề cơ bản và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng có hiệu quả đó là hệ thống pháp luật đồng bộ, nhất quán. Nó
Môi trường công nghệ:
Xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu làm cho xã hội ngày càng phát triển, vấn đề
áp dụng các công nghệ tiên tiến vào các sản phẩm, dịch vụ là việc rất cần thiết. Do nhu
cầu KH muốn sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tốt ngày càng tăng, thì công nghệ trở
thành yếu tố cạnh tranh giữa các ngân hàng. Vì thế, việc chú trọng phát triển công
nghệ cũng như đào tạo nhân lực được đặt lên hàng đầu để tạo đà cạnh tranh lành mạnh
và giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng.
Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân từ phía khách hàng:
• Khách hàng là cá nhân:
10
Phải xét tới tình trạng thu nhập của họ. Nếu thu nhập không ổn định cũng có
nghĩa họ đang đứng trước nguy cơ thất nghiệp, vì thế mà khả năng trả nợ của họ sẽ bị
giảm sút. Đồng thời phải xét đến mức độ chênh lệch giữa thu và chi trong việc KH sử
dụng vốn vay không đúng mục đích, số chi lớn hơn số thu cũng sẽ dẫn tới việc KH đó
không trả được nợ,ngân hàng phải đối mặt với rủi ro.
• Khách hàng là doanh nghiệp:
Nhiều doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng
vốn, đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lời của đồng vốn. Đa phần các
doanh nghiệp khi dùng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh thường đầu tư vào mở
rộng quy mô sản xuất, đầu tư vào cơ sở vật chất mà cái quan trọng nhất là đầu tư phát
triển kỹ năng của lực lượng nhân lực của công ty. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô
mà tư duy quản lý không thay đổi, trình độ của đội ngũ quản lý không được đảm bảo
thì doanh nghiệp tất yếu phải đối mặt với những rủi ro về khả năng quản lý sản xuất,
dẫn đến nhiều sai lầm trong quá trình ra quyết định quản lý kinh doanh.
Nhiều doanh nghiệp sử dụng không đúng mục đích đăng ký ban đầu trong hồ sơ
xin vay vốn. Đồng vốn không sử dụng đúng mục đích, tất yếu sẽ khó khăn trong việc
kiểm soát dòng vốn cũng như kiểm soát rủi ro của đồng vốn.
Ví dụ: Một doanh nghiệp SXKD khi vay vốn về đã sử dụng một phần vốn đi vay
để đầu tư vào thị trường chứng khoán. Khi thị trường chứng khoán tụt dốc, tất yếu sẽ
trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay.
Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để
đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng
nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt
động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng
giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng
cơ hội kinh doanh.
1.1.4. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro, và thường có một vài
dấu hiệu để nhận biết rủi ro tín dụng. Có dấu hiệu thì biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệu
biểu hiện rất rõ ràng. Ngân hàng cần có biện pháp để nhận ra những dấu hiệu ban đầu
của khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế, xử lý
chúng.
Vậy dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng có thể bao gồm các nhóm sau:
12
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên đến mối quan hệ khách hàng và ngân hàng.
• Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản khách hàng
qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm:
- Khó khăn trong thanh toán lương, sự biến động của số dư các tài khoản, đặc biệt là
giảm sút số dư tài khoản tiền gửi.
- Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.
- Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu đông từ nhiều nguồn khác nhau.
• Các hoạt động cho vay:
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn.
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.
- Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.
• Phương thức tài chính:
- Sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, ví dụ: thường xuyên sử dụng nghiệp vụ
chiết khấu các khoản phải trả.
• Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính, hoặc chậm trễ, trì hoãn.
• Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, số khách hàng nợ tăng nhanh và
thời hạn thanh toán của các con nợ kéo dài.
• Khả năng tiền mặt giảm.
• Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp.
• Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.
• Tăng giá trị quảng cáo thông qua việc tính lại tài sản…
1.1.5. Tác động của rủi ro tín dụng.
Đối với bản thân ngân hàng
Rủi ro xảy ra có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng
đến nguồn thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí ngân hàng phải lấy vốn tự có
của mình để bù đắp các khoản thiếu hụt do rủi ro gây ra, lúc đó khả năng thanh toán
của ngân hàng kém đi và lòng tin của khách khàng không còn nữa, khi người gửi tiền
muốn rút tiền để tránh rủi ro cho chính bản thân họ và người vay không muốn vay ở
đó nữa, chuyển sang vay ngân hàng khác. Vì vậy khi rủi ro ở mức nhỏ,ngân hàng có
thể bù đắp bằng lợi nhuận kinh doanh hoặc bị lỗ, nhưng nếu rủi ro ở mức độ nghiêm
trọng, nguồn vốn tự có của ngân hàng không đủ để bù đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn
14
ngân hàng đến bờ vực của sự phá sản. Như vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thành quả
hoạt động nhiều năm,thậm chí trở thành vấn đề sống còn của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư cách là
trung gian của đời sống kinh tế, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các tổ
chức kinh tế. Vì vậy kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro tất yếu sẽ gây ra những ảnh
hưởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế xã hội. Rủi ro làm cho lợi nhuận ngân
hàng giảm,từ đó ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách
hàng và chi trả chậm đối với người cho vay. Vì vậy,xét trong nền kinh tế,rủi ro làm
cho sản xuất bị đình trệ,các doanh nghiệp phải đóng cửa,hàng hoá không đủ đáp ứng
nhu cầu của thị trường,tới một chừng mực nào đó làm giá cả hàng hóa tăng vọt,đó
chính là một trong những nguyên nhân của lạm phát. Mặt khác,các ngân hàng thường
chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bời vì đó là “kim chỉ nam” cho
hoạt động tín dụng. Một chiến lược rõ ràng, chính xác trong dự báo đảm bảo cho bản
thân các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và xử lý những rủi ro tín dụng
có thể xảy ra. Nó góp phần định hướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai
nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao.
Xây dựng chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản: Lợi
nhuận, an toàn và lành mạnh. Một chính sách tín dụng hợp lý phải được xây dựng dưa
trên những căn cứ sau:
- Nguồn vốn của ngân hàng, bao gồm cả vốn huy động và vốn chủ sở hữu. Dựa vào quy
mô nguồn vốn, ngân hàng có thể lựa chọn kỳ hạn đầu tư, loại hình cho vay phù hợp.
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, điều này ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng
của thị trường. Do đó ngân hàng cần phải có sự phù hợp thống nhẩt đối với các điểu
chỉnh vĩ mô của Chính phủ.
- Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ của đội ngũ cán bộ
công nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động của ngân hàng trên những
khu vực thị trường nhất định. Chính những nhân tố này sẽ phát huy lợi thế cạnh tranh
của ngân hàng trên thị trường.
- Căn cứ vào những phân tích, dự báo rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung và
hoạt động tín dụng nói riêng. Đây là những phân tích mang tính chất kỹ thuật, kinh tế,
16
chính trị, xã hội trong nước và ngoài nước, điển hình lã những phân tích dự báo về tình
hình tài chính tiền tề như lãi suất, lạm phát, ngoại tệ…
Thực hiện tốt công tác phân tích tín dụng và xác định mức độ rủi ro tín dụng.
Thực hiên phân tích tín dụng một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đánh giá khách
hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho khách hàng vay.
Việc phân tích, thẩm định tín dụng được thực hiện trong và sau khi cho vay. Đó
là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản vay nhằm đảm bảo tính chính xác, tính kinh tế
của đồng vốn tín dụng đến được đúng đối tượng sử dụng vốn hiệu quả. Quá trình này
chỉ chấm dứt khi khoản vay được hoàn trả đúng thời han và đầy đủ. Công tác này có
đích đa dạng hoá rủi ro, tăng cường khả năng xử lý linh hoạt các tình huống có thể xảy
ra. Đồng thời cũng cần phải sử dụng nghiệp vụ cho vay hợp vốn nhằm mục đích san sẻ
rủi ro cho các đơn vị khác.
Sử dụng các công cụ ngoại bảng
Đây là biện pháp hạn chế rủi ro rất hữu hiệu của ngân hàng, nó không những có
thể hạn chế được rủi ro mà còn có thể mang lại được lợi nhuận cho ngân hàng. Đòi hỏi
sử dụng công cụ thị trường phái sinh phải có hệ thống, bao gồm các công cụ quyền
chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi.
Trên cơ sở các hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh, mỗi ngân hàng cần
phải đưa ra các chính sách sử dụng các công cụ phái sinh dựa trên những phân tích
đánh giá về tình hình biến động của thị trường tiền tệ. Đây là biện pháp quản lý cấp
cao trong hoạt động ngân hàng.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.
Tỷ lệ thu nợ
Tỷ lệ thu nợ = (Doanh số thu nợ / Tổng doanh số cho vay) * 100%
Tỷ lệ thu nợ đánh giá khả năng thu hồi nợ từ hoạt động cho vay của ngân hàng,
nếu tỷ lệ thu nợ càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp và hoạt động cho vay của ngân
hàng càng có hiệu quả. Do đó, tỷ lệ này càng cao thì càng tốt.
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn / Tổng dư nợ cho vay) * 100%
Thể hiện mối quan hệ giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ, nếu nợ quá hạn chiếm tỷ lệ
càng cao trong tổng dư nợ thì rủi ro tín dụng càng lớn và cho thấy hoạt động của ngân
hàng ngày càng kém hiệu quả. Ngược lại, tỷ lệ này càng nhỏ thì rủi ro tín dụng càng
18
thấp. Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ này không được vượt
quá 5%.
Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng = (Tổng dư nợ cho vay / Tổng tài sản có) * 100%
Hệ số rủi ro tín dụng phản ánh những khoản mục tín dụng trong tài sản có, hệ số
này càng lớn sẽ thể hiện lợi nhuận của ngân hàng càng cao, nhưng song song với lợi
dân được nâng cao, thu nhập cao hơn và ổn định do đó nhu cầu của dân cư về tiêu
dùng cũng tăng lên một cách phong phú và đa dạng hơn, vì vậy, tạo điều kiện cho hoạt
động của các NHTM phát triển cao hơn và ngược lại.
Lãi suất: Khi lãi suất trên thị trưòng tăng lên thì lãi suất cho vay của các NHTM
cũng tăng lên, và làm cho chi phí về mua sắm tăng lên, nhu cầu chi tiêu của dân cư sẽ
giảm từ đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động của NHTM.
Lạm phát: Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá, mức thu
nhập thực tế của người dân giảm xuống. Lúc này người dân thích tích trữ hàng hoá
hơn là gửi tiền vào ngân hàng, vì vậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng trở
nên khó khăn hơn.
1.3.2.2. Môi trường chính trị - pháp luật.
Chính trị: Môi trường chính trị ổn định, không xảy ra xung đột sắc tộc, đảo
chính, nội chiến sẽ tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn và tạo lòng tin cho
nhân dân, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh.
Pháp luật: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu tác động của rất nhiều các
văn bản, quy định của Nhà nước như: Luật các tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp,
luật dân sự Nếu các văn bản, quy định không rõ ràng, chặt chẽ, không đồng bộ thì sẽ
gây ra những khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt
động phòng ngừa rủi ro tín dụng nói riêng. Bên cạnh đó, cũng tạo ra các khó khăn cho
doanh nghiệp, họ không yên tâm sản suất kinh doanh trong môi trường như vậy, cắt
giảm đầu tư làm cho nền kinh tế kém phát triển. Ngược lại, một môi trường pháp luật
20
chặt chẽ, đồng bộ, rõ ràng sẽ khuyến khích các nhà đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của dân cư.
1.3.2.3. Môi trường văn hóa - xã hội.
Trình độ dân trí: Trình độ dân trí của người dân Việt Nam còn tương đối thấp,
đây cũng là một trở ngại lớn cho việc mở rộng tín dụng của các NHTM Việt Nam. Tại
nước ta, hoạt động phòng ngừa rủi ro chỉ mới tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn,
nơi có trình độ dân trí tương đối cao, còn các vùng nông thôn thì công việc phòng
ngừa rủi ro tín dụng là khá đơn giản. Sở dĩ các nước phát triển, việc phòng ngừa rủi ro
Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh.
Tên giao dịch quốc tế : HO CHI MINH CITY DEVELOPMENT JOINT
STOCK COMMERCIAL BANK.
Tên gọi tắt : HD BANK.
Loại hình: Ngân hàng thương mại cổ phần.
Vốn điều lệ: HD Bank: 8100 tỷ đồng
Thành lập: Ngày 04/01/1990.
Trụ sở chính: 25Bis Nguyễn Thị Minh Khai Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh,
Việt Nam.
Thành viên chủ chốt bộ máy lãnh đạo:
- Lê Thị Băng Tâm - Chủ tịch hội đồng quản trị
- Nguyễn Hữu Đặng - Quyền Tổng giám đốc
Ngân hàng TMCP Phát Triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank) được thành lập từ
ngày 04/01/1990. Là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên của cả nước với vốn
điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng, HDBank mang lấy sứ mệnh “phát triển nhà ở và chỉnh
trang đô thị, góp phần xây dựng TP. Hồ Chí Minh văn minh hiện đại”.
Sáng 23/11, Ngân hàng Phát triển TP HCM (HDBank) chính thức công bố việc
sáp nhập Đại Á Bank sau khi được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận.
Qua hơn 20 năm hoạt động, HD Bank đã đạt được những kết quả quan trọng:
Vốn điều lệ tăng từ 3 tỷ lên 8100 tỷ đồng; lao động từ 50 người nay tăng lên hơn 8000
người. Mạng lưới hoạt động không ngừng mở rộng, từ 1 trụ sở ban đầu , đến cuối năm
2014 HD Bank đã có mặt tại hầu hết các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước với 224
Chi nhánh trên cả nước.
2.1.2. Giới thiệu về phòng giao dịch Kinh Đô- chi nhánh Hà Nội.
Chi nhánh Hà Nội: 8B Lê Trực, P. Điện Biên, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội( Việt Nam)
22
Phòng Giao Dịch: HD Kinh Đô- 198A Trường Chinh, P. Khương Thượng, Q.
Đống Đa, TP. Hà Nội.
Điện Thoại: (+84) 04.6253 3069 | website: www.hdbank.com
NH TMCP phát triển TP. Hồ Chí Minh chi nhánh Hà Nôi- PGD Kinh Đô (HD
- Hoạt động bao thanh
toán
23
Phòng Giám Đốc
Phòng Giám Đốc
Phòng Tín dụng
Phòng Tín dụng
Phòng dịch vụ khách hàng
Phòng dịch vụ khách hàng
Phòng tài chính - kế toán
Phòng tài chính - kế toán
Phòng hành chính nhân sự
Phòng hành chính nhân sự
Phòng Phó Giám Đốc
Phòng Phó Giám Đốc
Nhiệm vụ
- Cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ tài chính hoàn hảo theo chuẩn mực quốc tế,
đáp ứng tốt nhất nhu cầu đa dạng của khách hàng.
- Tổ chức công tác hạch toán kế toán và an toàn kho quỹ theo quy định của ngân hàng
nhà nước và quy định nghiệp vụ, quy chế của HD Bank
2.1.4. Mô hình tổ chức phòng giao dịch Kinh Đô- chi nhánh Hà Nội.
PGD có chức năng và nhiệm vụ gần giống như một Chi nhánh song ở quy mô
nhỏ hơn.
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức PGD Kinh Đô-Chi nhánh Hà Nội-HD Bank
( Nguồn: Phòng hành chính nhân sự PGD Kinh Đô)
24
S
T
T
BỘ
vụ
khách
hàng.
Là bộ phận thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, giải
quyết những thắc mắc, vướng mắc mà khách hàng gặp
phải khi giao dịch với Ngân hàng. Ngoài ra còn cung cấp
một số sản phẩm, tiện ích của Ngân hàng cho khách
hàng và giúp nhân viên tín dụng quản lý hồ sơ khách
hàng, phân loại khách hàng. Gồm tổ huy động vốn và tổ
dịch vụ thẻ.
5.
Phòng
tài
chính
kế
toán.
Gồm các chức năng và nhiệm vụ cụ thể sau:
Thanh toán bù trừ, Kế toán liên ngân hàng, Kế toán chi tiết và
Kế toán thanh toán.
Thực hiện nhiệm vụ hạch toán mọi khoản phát sinh trong ngày
Đảm bảo mọi khoản thu chi đầy đủ kịp thời chính xác.
Ngoài ra còn thực hiện việc quản lý tài sản cơ quan: kiểm kê,
thực hiện việc khấu hao tài sản hàng năm, đánh giá lại tài sản đã
hết khấu hao.
6.
Phòng
hành
chính
nhân
sự.