Li cm n
MC LC
TRANG
PHN I. M U 1
1.1. t vn 1
1.2. Mc ớch ca ti 2
Page 1 of 55
Li đầu tiên trong bản khoá luận này tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc tới các thầy cô khoa Công nghệ Sinh học Viện Đại học
Mở Hà Nội đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian tôi
học tập tại tr ờng và đã sắp xếp chu đáo nơi thực tập tốt nghiệp để tôi
hoàn thành bài luận văn này một cách tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Lê Huy Hàm Viện tr
ởng Viện Di truyền Nông nghiệp đã tận tình h ớng dẫn và dìu dắt tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn. Cảm
ơn tập thể cán bộ phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ tế bào
thực vật Viện Di truyền Nông nghiệp đặc biệt là TS. Phạm Thị Lý
Thu, TS. Nguyễn Thị Khánh Vân, Ths. Vũ Văn Tiến và CN. Phạm
Thị H ơng đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện và nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và
những ng ời thân đã luôn động viên, sát cánh bên tôi, giúp đỡ tôi
những khi gặp khó khăn.
Hà Nội, ng y 19 tháng 5 năm 2009
Sinh viên
1.3. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Một số đặc điểm sinh học của bèo tấm Spirodela polyrrhiza 4
3.2.3. Phương phỏp tỏch chiết DNA bèo tấm……………………………….…27
3.2.4. Phương pháp phân tích PCR…………………………………………….28
3.3. Nội dung nghiên cứu 29
3.4. Các chỉ tiêu đánh giá 31
PHẦN IV : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1. Xây dựng quy trình chuyển gen vào bÌo tấm S. polyrrhiza 32
4.1.1. Chọn lọc chủng vi khuẩn thích hợp cho các thí nghiệm chuyển
gen ở bèo tấm SP nguyên cây và
callus 32
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ vi khuẩn tới tỷ lệ biểu hiện tạm thời của
gen gus ở SP nguyên cây và callus 34
4.1.3.Ảnh hưởng của thời gian ly tâm chân không tới tỷ lệ biểu hiện tạm
thời của gen gus ở SP nguyên cây và callus 35
4.1.4. Ảnh hưởng của hàm lượng AS tới tỷ lệ biểu hiện tạm thời của gen
gus ở bèo tấm SP nguyên cây và callus 36
4.2. Chuyển gen bền vững vào callus bèo tấm Spirodela polyrrhiza
thông qua vi khuẩn Agrobacterium 39
4.2.1. Kết quả nuôi cấy phục hồi sau khi đồng nuôi
cấy 39
Page 3 of 55
4.2.2. Kết quả chọn lọc sau diệt khuẩn 39
4.2.3. Kết quả tách chiết DNA và phân tích PCR các dòng bèo
tấm chuyển gen 42
PHẦN V : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1. Kết luận 44
5.2. Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Transferred – DNA = DNA chuyển
Ti-
plasmid
Tumor inducing plasmid = plasmid gây khối u thực vật
X-gluc
5-bromo-4-chloro-3-indolyl-β -D-glucuronic acid
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Thập niên cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 chứng kiến những thành tựu vượt
bậc trong lĩnh vực công nghệ sinh học thực vật. Một trong những thành tựu đó là
tạo ra các giống cây trồng chuyển gen có các đặc tính mới nh chống chịu sâu,
bệnh, kháng thuốc diệt cỏ…Đến cuối năm 2008 diện tích cây chuyển gen toàn
cầu đã đạt 125 triệu ha. Một loạt các giống cây trồng với các đặc tính hoàn toàn
Page 5 of 55
mới như: chịu hạn, chịu mặn, tăng cường khả năng hấp thụ nitơ, chịu úng, tăng
cường sinh trưởng, hoặc tăng cường chất lượng dinh dưỡng, chất lượng chế biến,
tăng cường hoạt chất sinh học…đã được nghiên cứu và đang chuẩn bị đưa vào
ứng dụng trong sản xuất (James, 2008).
Sự phát triển hứa hẹn sáng sủa nhất của công nghệ sinh học thực vật là
sử dụng cây chuyển gen để sản xuất các chất có hoạt tính sinh học như: vitamin,
các dược chất, các hoá chất sử dụng trong công nghiệp, trong y tế như: kháng
nguyên, kháng thể, interferon, vaccine…(Mason & cs, 1998).
Có nhiÒu hệ thống sản xuất protein tái tổ hợp cần thiết cho các mục đích
khác nhau của con người. Đó là hệ thống sử dụng tế bào động vật bậc cao, vi
khuẩn, nấm men…Gần đây tế bào côn trùng, thực vật biến đổi gen được sử dụng
để khắc phục các nhược điểm của hệ thống sản xuất protein sử dụng tế bào động
vật bậc cao, vi khuẩn và nấm men. Do đó nhiệm vụ to lớn đặt ra cho các nhà
khoa học là tìm kiÕm hệ thống sản xuất protein tái tổ hợp khác, rẻ tiền, dễ sử
dụng và không mang nguy cơ lây nhiễm các bệnh có nguồn gốc virus. Hệ thống
đó là thực vật. So với các hệ thống truyền thống, thực vật có nhiều lợi thế trong
Spirodela polyrrhiza nhằm sản xuất protein tái tổ hợp.
Page 7 of 55
PHẦN II . TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số đặc điểm sinh học của bèo tấm Spirodela polyrrhiza
2.1.1 Hệ thống phân loại
Bèo tấm gồm 5 chi: Spirodela, Landoltia, Lemna, Wolffia, Wolffiella
thuộc họ Lemnaceae với khoảng 40 loài khác nhau (Landolt, 1998; Les & cs,
2002; http://plants.usda.gov/java/profile?symbol=SPPO).
Spirodela polyrrhiza thuộc:
Giới : Thực vật (Plantae)
Phân giới: Thực vật có mạch (Tracheobionta)
Liên ngành: Thực vật có hạt (Spermatophyta)
Ngành: Ngọc lan (hạt kín) (Magnoliophyta)
Lớp: Một lá mầm (Liliopsida)
Phân lớp: Ráy (Arecidae)
Bộ: Ráy (Arales)
Họ: bèo tấm (Lemnaceae)
Chi: Spirodela
a. Bèo trong vại nuôi b. Hình thái bèo tấm S.polyrrhiza
Hình 2.1: Bèo tấm Sprirodela polyrrhiza
Page 8 of 55
a
b
S. polyrrhiza thuộc chi Spirodela, chi này gồm 2 loài: S. intermedia và
S. polyrhiza. Chi Spirodela là chi nguyên thủy nhất trong họ Lemnacea và có
kích cỡ genome nhỏ nhất (Landolt, 1986).
2.1.2 Đặc điểm hình thái của bèo tấm
Bèo tấm nói chung không có dạng thân, lá điển hình mà cơ thể gãi gọn
trong một cấu trúc gọi là cánh bèo (frond). Chúng có hình dạng và kích thước rất
thể bèo phát triển nhanh chúng, cũn phương thức sinh sản hữu tớnh giỳp cho
quần thể bốo cú sự đa dạng về di truyền và chỉ xảy ra ở điều kiện nhiệt độ, độ ẩm
và chất dinh dưỡng thớch hợp với sự ra hoa, thụ phấn và kết trái. Hạt của bèo
tấm có sức chống chịu lớn với cỏc điốu kiện nóng, lạnh và khô hạn nên có thể tồn
tại qua nhiều năm trong bùn, đất và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi (Ladolt,
1986).
2.1.4 Phân bố của bèo tấm
S. polyrhiza nói riêng và bèo tấm nói chung, sống ở các vùng nước ngọt
như ao hồ hay đầm lầy Đặc điểm của các vùng nước này là tĩnh lặng hoặc có
dòng chảy chậm. Chúng cũng có thể sống ở các vùng nước lợ nhưng rất hiếm
thấy (Landolt, 1986).
S. polyrhiza phân bố rộng rãi trên toàn thế giới trừ vùng cực Bắc, cận
Bắc cực, những vùng rất ẩm ướt hay rất khô với mùa hè ấm, phia Đông và phía
Nam của Nam Mỹ, New Zealand và một số đảo khác, hiếm gặp ở cỏc vựng cú
khí hậu Địa Trung Hải (Landol, 1986).
Page 10 of 55
Hình 2.2. Phân bố của bèo tấm S. polyrrhiza (Landol, 1986)
2.2. Các yếu tố môi trường nuôi cấy ảnh hưởng tới đời sống bèo tấm
a) Thành phần môi trường: Cây trồng nói chung và bèo tấm nói riêng sinh
trưởng và phát triển tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường.
Cho đến nay người ta tìm ra được nhiều loại môi trường dinh dưỡng cơ bản như:
Môi trường MS (Murashige & Skoog, 1962), môi trường LS (Laismener &
Shoog, 1963), môi trường Knop (Knop, 1974), môi trường B5 (Gamborg, 1986),
môi trường H (Hutner, 1953) Mỗi đối tượng cần có một môi trường thích hợp
với sự sinh trưởng và phát triển của chúng. Đối với S. polyrrhiza nói riêng và các
loài bèo tấm nói chung, một trong các môi trường nuôi nhân tạo thích hợp nhất
thường được sử dụng là môi trường khoáng Hutner, 1953 (Landolt, 1986).
Page 11 of 55
Bảng 2.1. Thành phần các chất dinh dưỡng cần thiết cho Spirodela polyrrhiza
0,01
0,0001
0,0005
0,00001
0,002
< 0,00001
< 0,000001
< 0,00001
10 -30
2,5- 5
0,2 – 1
0,5 – 20
1 – 20
0 – 60
0,5 – 10
0,2 – 4
0,01 – 1
0,01 – 0,1
0,001 – 0,06
0,02 – 0,5
0,1 – 1
0 – 0,3
0,001
100
75
50
50
50
> 60
50
* Độ pH
pH ảnh hưởng đến khả năng hút chất dinh dưỡng của cây. Bèo tấm có thể
sinh trưởng và phát triển trong môi trường có dải pH từ 3,5 – 10,4.
2.3. Các phương pháp chuyển gen vào thực vật
Kỹ thuật chuyển gen là kỹ thuật đưa một hay nhiều gen lạ đã được thiết
kế ở dạng DNA tái tổ hợp vào tế bào chủ của cây trồng nói riêng và của các sinh
vật nói chung (vi sinh vật, động vật) làm cho gen lạ có thể tồn tại ở dạng plasmid
tái tổ hợp hoặc gắn vào bộ gen tế bào chủ. Trong tế bào chủ, các gen này hoạt
động tổng hợp nờn cỏc protein đặc trưng dẫn tới việc xuất hiện các đặc tính mới
của cơ thể chuyển gen (GS. TS Nguyễn Quang Thạch, 2004).
Có nhiều phương pháp chuyển gen vào thực vật nhưng có thể phân thành
hai nhóm chính: Phương pháp chuyển gen trực tiếp và phương pháp chuyển gen
Page 13 of 55
gián tiếp. Trong phương pháp chuyển gen gián tiếp, gen được chuyển vào tế bào
thực vật qua mét sinh vật trung gian, thường là vi khuẩn, virus. Còn ở phương
pháp chuyển gen trực tiếp, gen được đưa trực tiếp vào tế bào thực vật thông qua
những thiết bị và thao tác nhất định mà không phải nhờ tới các sinh vật trung
gian(GS. TS Nguyễn Quang Thạch, 2004).
2.3.1. Phương pháp chuyển gen trực tiếp
a) Chuyển gen nhờ kỹ thuật siêu âm
Kỹ thuật siêu âm dùng để chuyển gen vào các tế bào trần. Sau khi thu
được tế bào trần, tạo huyền phù tế bào trần với các plasmit tái tổ hợp mang gen
mong muốn và gen chọn lọc. Cắm đầu siêu âm của máy phát siêu âm ngập trong
huyền phù tế bào trần 3mm. Cho máy phát siêu âm với tần số 20kHz theo từng
nhịp ngắn 110 mili giây. Tổng thời gian tác động khoảng 500 - 900 mili giây. Sau
đó đem tế bào trần nuôi trong các môi trường thích hợp hoặc môi trường chọn lọc
để tách các tế bào trần đã nhận được DNA. Nuôi cấy tái sinh cây.
b) Chuyển gen nhờ kỹ thuật điện xung (electroporation)
Kỹ thuật này áp dụng cho việc chuyển gen vào tế bào trần. Người ta
chuẩn bị một huyền phù tế bào trần với các plasmit tái tổ hợp mang gen mong
Ngoài ra còn có các phương pháp chuyển gen trực tiếp như: Phương
pháp vi tiêm ( sử dụng các thiết bị hiển vi và máy vi nhu động để chuyển gen
trực tiếp vào tế bào, thường áp dụng đối với các tế bào có kích thước nhỏ bé như
hạt phấn, phôi non); Phương pháp vĩ tiêm (sử dông kim tiêm có đường kính lớn
Page 15 of 55
hơn đường kính tế bào để đưa DNA vào tế bào, thường áp dụng cho những đối
tượng có bầu nhụy lớn, dễ thao tác); Phương pháp sốc nhiệt, (Nguyễn Đức
Thành, 2003).
2.3.2. Phương pháp chuyển gen gián tiếp
2.3.2.1. Chuyển gen nhờ virus
Virus được sử dụng làm vectơ chuyển gen cho cây trồng do rất dễ thâm
nhập và lây lan trong cơ thể thực vật. Mặt khác trong cấu tạo của virus cũng có
mặt axit nucleic làm cơ sở cho việc gắn các gen cần chuyển vào. Tuy nhiên hiện
nay, việc chuyển gen nhờ virus rất Ýt được sử dụng, do virus về nguyên tắc
không truyền qua hạt do vậy việc nhân giống các cây chuyển gen nhờ virus phải
tiến hành bằng phương pháp vô tính. Điều này không phải thực hiện được với tất
cả các loài cây. Đây chính là một nhược điểm lớn của phương pháp chuyển gen
bằng virus.
2.3.2.2. Phương pháp chuyển gen thông qua vi khuẩn Agrobacterium
Dựa vào cơ chế chuyển gen của vi khuẩn A. tumefaciens, người ta đó
dựng vi khuẩn đất để chuyển các gen mong muốn cho mỡnh trờn cơ sở thiết kế
lại hệ thống Ti – plasmid của vi khuẩn sao cho vẫn đảm bảo được chức năng
chuyển gen nhưng không mang các gen gây độc cho cây. Người ta đã tạo ra các
dạng vector mới để chuyển gen là những vector liên hợp và vetor nhị thể. Các hệ
thống vetor mới đượ tạo thành này đều được dựa trên cơ sở cải tiến Ti – plasmid.
Phần T-DNA củ Ti-plasmid sẽ bị cắt bỏ những gen gây u và gen tổng hợp opine,
thay thế vào đấy là các gen mong muốn kèm theo gen chỉ thị và gen khởi động.
2.4. Chuyển gen gián tiếp nhờ vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens
Phương pháp chuyển gen nhờ Agrobacterium đã được áp dụng thành
công trên nhiều đối tượng cây trồng đặc biệt là cây hai lá mầm nh: khoai tây, cà
(Onc)
T-ADN
Vùng phân
Vùng phân
giải nopaline
giải nopaline
Vùng tái bản
Vùng tái bản
Vùng tiếp hợp
Vùng tiếp hợp
plasmid
plasmid
Vùng
Vùng
gây độc
gây độc
vir
vir
A
B
C
D
pTiC58
(Nopalin)
Hình 2.3. Cấu tróc Ti-plasmid
Trên Ti-plasmid, chỉ có vùng T-DNA được chuyển từ vi khuẩn sang hệ
gen của cây chủ và tồn tại bền vững ở đó. Tuy nhiên, vùng này không mã hoá
những sản phẩm trung gian cho quá trình chuyển T-DNA mà cần có sự trợ giúp
đặc biệt của các gen gây khối u nằm trên vùng VIR và trên nhiễm sắc thể vi
khuẩn (gen chv).
u
u(Onc)
(Onc)
nos
hóa cho enzyme liên quan đến sinh tổng hợp cytokinin (PGS. TS Khuất Hữu
Thanh, 2003).
2.4.3. Cơ chế phân tử của chuyển gen thông qua A. tumefaciens
Các tế bào ở cây bị tổn thương sẽ tiết ra các hợp chất của phenol như:
Acetosyringon, hydroxy-acetosyringon Dưới tác dụng dẫn dụ của các hợp chất
này, A. tumefaciens nhận biết rồi bám vào thành tế bào cây chủ. Protein VirA
nằm trên thành tế bào vi khuẩn Agrobacterium sẽ nhận biết sự có mặt và tương
tác với các phân tử acetosyringon, có mặt các phân tử đường. Tiếp đến VirA sẽ
phosphoryl hoá protein VirG làm cho VirG trở thành dạng hoạt động. Đến lượt
VirG lại kích hoạt các gen gây độc khác như virB, virC, virD và virE cũng như
tăng cường mức độ phiên mã của gen virG (Mclean & cs., 1994) bằng cách tương
tác với trình tự điều hoà của VIR box. Tiếp theo đó, tại vùng T – DNA kể cả 2
biên, 1 đoạn DNA mạch đơn tách ra khỏi Ti-plasmid và chuyển vào tế bào thực
vật với đầu 5’ đi trước (Janofsky & cs, 1986). Đoạn DNA mạch đơn còn lại trên
Ti-plasmid sẽ làm khuôn để tổng hợp mạch DNA bổ trợ mới. Gen VirD mã hoá
cho một số endonuclease cắt T-DNA ở vị trí giữa nucleotid thứ 3 và 4 của trình
tự biên. Đoạn bị cắt ra là sợi đơn đại diện cho vùng T-DNA và được gọi là sợi T,
sợi T được chuyển sang tế bào thực vật với đầu 5’ đi trước (Wie và cs., 2000).
Đầu 5’ của sợi T được liên kết đồng hoá trị với protein VirD2 ở vị trí axit amin
tyrosine 29 (Gelvin, 2003).
Trong quá trình di chuyển, protein VirE2 gắn với sợi T tạo thành phức
hợp T dạng ống sợi nucleo-protein (T-complex) nhằm bảo vệ chúng trước các tác
động của các enzym thuỷ phân và các enzym endonuclease có trong dịch bào của
2.4.4.1. Hệ vectơ nhị thể
Trên cơ sở phát hiện vùng VIR không cần nằm trên cùng một plasmid
với vùng T-DNA mà vẫn điều khiển được sự chuyển và xâm nhập của T-DNA
vào hệ gen thực vật, người ta đã nghiên cứu và hoàn chỉnh hệ thống vectơ nhị thể
trong đó vùng T-DNA và vùng VIR nằm trên hai plasmid khác nhau nhưng trong
cùng một chủng A. tumefaciens (hình 2.6).
Hình 2.6. Sơ đồ cấu trúc vectơ nhị thể
Cã hai loại vectơ được sử dụng trong hệ thống vectơ nhị thể là vectơ
chuyển gen và vectơ bổ trợ. Hai cấu trúc này cùng được đưa vào Agrobacterium,
khi các gen trên vectơ bổ trợ hoạt động thì các sản phẩm của nó sẽ tác động tới
Page 21 of 55
đoạn T-DNA trên vectơ chuyển gen dẫn đến việc chuyển đoạn T-DNA sang tế
bào thực vật (Lê Thị Thu Hiền, 2003).
2.4.4.2. Hệ vectơ liên hợp
Vectơ liên hợp được xây dựng trên cơ sở sự tái tổ hợp giữa vùng tương
đồng nằm trên plasmid vi khuẩn (như vectơ của E. coli) với vùng T-DNA trên Ti-
plasmid của A. tumefaciens. Trong đó, người ta giữ lại vùng VIR, loại bỏ vùng
mã hoá chức năng gây khối u và thay thế bằng những đoạn DNA mới trong Ti-
plasmid (hình 1.6).
Hình 2.7. Sơ đồ cấu trúc vectơ liên hợp
Có 3 loại vectơ tham gia vào hệ thống vectơ liên hợp đó là: Ti-plasmid;
vectơ trung gian và vectơ trợ giúp (Walkerpeach & Velten, 1994).
2.5. Tình hình nghiên cứu chuyển gen vào bèo tấm
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Có rất nhiều các nghiên cứu về hệ thống phân loại, sinh lý, sinh hóa, hình
thái, cấu tạo, sinh sản đã được tiến hành trên các loài bèo tấm khác nhau
(Landolt, 1986; Landolt & Kandeler, 1987), tuy nhiên các nghiên cứu về chuyển
gen vào bèo tấm thì còn hạn chế.
Năm 2001, Yamamoto & cs đã áp dụng qui trình tạo callus trên đối
tượng L.gibba G3 của Moon và Stomp (1997) để xây dựng quy trình chuyển gen
2.5.2. Tình hình nghiên cứu về bèo tấm trong nước
ở nước ta bèo tấm tồn tại phổ biến ở hầu hết mọi nơi. Tuy chưa có
một nghiên cứu đầy đủ về phân loại học thực vật các loài bèo tấm Việt Nam
nhưng qua đặc điểm hình thái chúng tôi thấy rằng ở Việt Nam có mặt rất nhiều
loài của cả 5 chi thuộc họ Lemnaceae. Nhiều loài được sử dụng rộng rãi trong
chăn nuôi. Một số loài trước kia được sử dụng làm thức ăn cho người ở một số
vùng nônng thôn như các loài chi Wolffia.
Các nghiên cứu liên quan đến bèo tấm ở Việt Nam chỉ hạn chế ở việc sử
dụng làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm. Tại Đại học Nông lâm thành phố
Hồ Chí Minh, các nhà khoa học thử nghiệm bổ sung bèo tấm cho 200 con gà
giống Tàu Vàng, kết quả gà tăng trọng nhanh và chi phí thức ăn giảm 10 –
15%/kg thịt. Thí nghiệm trên gà mái đẻ, trứng cho lòng đỏ đậm và hương vị thơm
hơn.
Đại học Huế cũng đó cú một số nghiên cứu ứng dụng họ bèo tấm
Lemnacae trong việc cải tạo môi trường nước. Kết quả cho thấy bèo có khả năng
hấp thụ NH4+ khá cao từ 90 – 100%, trong đó bèo Nhật bản hấp thụ từ 93 –
100%, bèo tấm hấp thụ 90 – 93,33% và bèo cái hấp thụ 90 – 99,99%. Bèo cũng
có khả năng hấp thụ PO4+ cao từ 35 – 58,6%, trong đó hấp thụ cao nhất là bèo
Nhật Bản từ 40 – 58,6%, bèo tấm hấp thụ 42,22 – 50% và bèo cái hấp thụ từ 35 –
53,44% (http://www.vista.gov.vn).
Tại viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam, quy trình chuyển gen mã hoá
virus Gumboro VP2 (gây bệnh viêm túi bạch huyết nhiễm trùng ở gà) vào callus
và bèo tấm nguyên cây (Lemna sp. và Wolffia sp. ) bằng súng bắn gen và
Page 24 of 55
Agrobacterium đã được xây dùng và cải thiện trên cơ sở tối ưu hoá các yếu tố
chính ảnh hưởng đến quá trình bién nạp: chủng vi khuẩn, nồng độ AS, thời gian
đồng nuôi cấy,…Sự có mặt của gen chuyển trong các dòng bèo tấm chuyển gen
đã được phân tích bằng các phương pháp sinh học phân tử (PCR, Southem) đã
nhận được 06 dòng bèo tấm Wolffia australiana chuyển gen VP2. Protein VP2 đã
được tách chiết từ các dòng bèo tấm chuyển gen. Thử nghiệm bước đầu cho thấy