bài giảng vi sinh vật hại nông sản sau thu hoạch - Pdf 27


Vi sinh vật hại Nông sản
sau thu hoạch
POSTHARVEST DISEASE
PGS.TS.Ngô Bích Hảo
Bộ môn Bệnh cây
ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
- Tên môn học: Vi sinh vật hại Nông sản sau thu hoạch (phần bệnh
cây)
- Lý thuyết 9 tiết, thực hành 3 tiết
-
Giảng viên môn học: PGS.TS. Ngô Bích Hảo
-
Giáo viên hướng dẫn thực hành: Th.s. Nguyễn Thanh Hồng
-
Bộ môn phụ trách: Bệnh cây
-
Mục tiêu môn học: Sinh viên nắm được các kiến thức cơ bản về mối
quan hệ giữa tác nhân gây bệnh và nông sản sau thu hoạch. Kiểm
tra, giám định bệnh hại nông sản STH và biện pháp phòng trừ bệnh
hại nông sản sau thu hoạch phục vụ sản xuất, chế biến, quản lí và
kinh doanh nông sản
Nội dung học phần

Tác hại của các vi sinh vật gây hại nông sản sau
thu hoạch.

Tác nhân gây bệnh hại nông sản STH (Nguồn
bệnh, quá trình xâm nhiễm, lan truyền và ảnh
hưởng của điều kiện ngoại cảnh)
- Nấm hại nông sản sau thu hoạch

Kích thước của các tác nhân gây bệnh cây so với tế bào cây trồng
1. Một số khái niệm chung

Vi sinh vật hoại sinh: là các loại vi sinh vật chỉ có thể
phát triển và sử dụng nguồn thức ăn từ các tế bào
cây đã chết mà không có khả năng kí sinh, sống ở
mô tế bào còn sống

Vi sinh vật bán hoại sinh: Là các vi sinh vật chủ yếu
sống trên các tế bào cây trong giai đoạn ngủ nghỉ
như hạt quả hoặc đã suy nhược và chết, nhưng
trong những điều kiện cho phép chúng có thể kí sinh
gây bệnh trên tế bào cây còn sống như nấm mốc,
nấm Aspergillus, Penicillium, Botrytis…
Nấm mốc Penicillium hại nông sản STH
Thối ướt khoai tây do vi khuẩn Erwinia
1. Một số khái niệm chung

Vi sinh vật bán kí sinh: Là các loại VSV sống kí sinh
trên tế bào sống của cây là chủ yếu để sinh trưởng
và sinh sản vô tính nhưng trong điều kiện nhất định
chúng vẫn có khả năng sống , tồn tại trên tàn dư cây
trồng. Ví dụ nấm Túi

Kí sinh chuyên tính: Là các loại kí sinh bắt buộc, chỉ
có khả năng sử dụng các vật chất hữu cơ sẵn có
trong tế bào cây còn sống mà không thể phát triển kí
sinh trên các tế bào cây đã chết. Ví dụ nấm sương
mai gây hại cà chua khoai tây
Monilia fructicola

Các loại dịch hại cây trồng và nông sản sau thu
hoạch phát triển quanh năm
2. Vai trò của quá trình bảo quản đối với chất
lượng nông sản sau thu hoạch

Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng nông sản có ý
nghĩa rất to lớn, nhiệm vụ của sản xuất không chỉ
hoàn thành về mặt số lượng mà còn phải đảm bảo
các chỉ tiêu về chất lượng.


Để thu tăng được 1% năng suất ngoài đồng ruộng
trên một diện tích lớn là một điều hết sức khó khăn,
nhưng sau khi thu hoạch về nếu không bảo quản tốt
thì nông sản phẩm sẽ bị hao hụt rất lớn cả về số
lượng lẫn chất lượng
2. Vai trò của quá trình bảo quản đối với chất
lượng nông sản sau thu hoạch

Trong quá trình sản xuất, chất lượng nông sản phẩm
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường, điều
kiện kĩ thuật canh tác, kĩ thuật thu hái vận chuyển

Trong quá trình bảo quản cất giữ, sơ chế, nông sản
phẩm lại luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi
trường mà biến đổi chất lượng, gây nên những tổn
thất đáng tiếc, ảnh hưởng không ít đến thu nhập
kinh tế quốc dân
2. Vai trò của quá trình bảo quản đối với
chất lượng nông sản sau thu hoạch

3.2. Thiệt hại nông sản sau thu hoạch
ở nước ta

Ở nước ta tính trung bình đối với các loại hạt, tổn
thất sau thu hoạch là 10%, đối với cây có củ là 10 –
20%,còn với rau quả là 10 – 30%. Hàng năm trung
bình thiệt hại 15%, tính ra hàng vạn tấn lương thực
có thể đủ nuôi sống hàng triệu người

Năm 1995, sản lượng lúa ước chừng 22 triệu 858 tấn
hao hụt với 10% cũng chiếm tới 2,3 triệu tấn tương
đương với 350 – 360 triệu USD.

Các loại cây có củ mức hao hụt là 20%, với sản
lượng 2,005 triệu tấn khoai lang, 722.000 tấn khoai
tây và 3,112 triệu tấn sắn (khoai mỳ), thì hàng năm
chúng ta mất đi khoảng 1,15 triệu tấn, tương đương
với 80 triệu USD.

Đối với ngô, số hao hụt hàng năm có thể lên đến
100.000 tấn tương đương với 13 – 14 triệu USD. Đó
là chưa tính đến những hao hụt mất mát của các loại
rau quả, đậu đỗ, cũng như các loại nông sản khác.
SỰ HAO
HỤT VỀ
SỐ
LƯỢNG
(TRỌNG
LƯỢNG)
Quá trình hô hấp

Là yếu tố có tính chất quyết định đến
thời gian bảo quản và chất lượng NS.
- Nhiệt độ thấp làm giảm quá trình trao
đổi chất, giảm cường độ hô hấp và làm
chậm quá trình sản xuất Ethylen của
nông sản. Nhiệt độ thấp làm giảm sự
mất nước của rau quả
4.1. Yếu tố phi sinh vật
- Hoạt động sống của các loại VSV trên NS phụ
thuộc vào điều kiện nhiệt độ, nhiệt độ tăng hoạt
động sống của VSV tăng, sự gây hại tăng thời gian
BQ ngắn. Nhiệt độ thấp hoạt động sống của các loại
vi sinh vật bị ức chế vì vậy thời gian bảo quản tăng.
Tuy nhiên nhiệt độ bảo quản thấp cũng cần có giới
hạn vì nhiệt độ bảo quản thấp đối với rau quả tươi
sẽ bị tổn thương lạnh, rau quả biến màu và sau khi
chuyển ra nhiệt độ bình thường sẽ bị nhũn không
còn giá trị trên thi trường.

Nhiệt độ
4.1. Yêú tố phi sinh vật

Ẩm độ không khí
Thấp hạn chế được hoạt động sống của các loại vi
sinh vật gây hại nông sản, thích hợp cho việc bảo
quản các loại hạt ngũ cốc, nhưng đối với rau hoa
quả tươi ẩm độ không khí thấp sẽ gây ra hiện tượng
mất nước nhanh dẫn đến rối loạn các hoạt động
sống. Sự mất nước còn làm hoạt hóa các men
polyphenoloxydaza và peoxydaza làm cho rau quả bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status